Thursday, April 29, 2010

30 tháng Tư dưới nhãn quan Bùi Tín

Hãy tách mình ra khỏi trò lừa bịp

33 năm đã qua, theo tôi, với khoảng cách thời gian dài để có thể suy ngẫm sâu sắc và nhận ra sự thật lịch sử, mọi người Việt nam, kể cả những người Cộng sản, cần đính chính một nhận thức sai lầm nguy hiểm đã bị những người lãnh đạo cộng sản áp đặt theo kiểu cưỡng hiếp mọi người dân phải thừa nhận. Họ buộc mọi người công nhận rằng việc họ chủ trương đưa quân từ miền Bắc vào miền Nam chiến đấu từ 1960 đến 1975 là chính nghĩa nhằm giải phóng và thống nhất đất nước, và ngày 30-4 là ngày Toàn thắng Vĩ đại.


Giống như xưa kia Giáo hội La mã cưỡng bức mọi người phải thừa nhận trái đất là một mặt phẳng, ai nói khác là phạm trọng tội, là nói sai chân lý. Có người đã chịu hỏa thiêu để khẳng định rằng ' Không! trái đất không phẳng! Nó hình cầu và nó quay!''. Nay ai cũng nhận ra Chân lý ấy. Có điên mới nói khác.

Hôm nay tôi sẵn sàng nói to cho mọi người nghe rõ: đất nước Việt nam ta sau ngày 30-4-1975 không hề được giải phóng, cũng không hề được thống nhất. Ngày 30-4, đảng cộng sản thắng, toàn dân vẫn thua, vẫn bị thống trị bới độc quyền đảng trị.

Đảng cộng sản đã thực hiện chính sách chiếm đóng và thống trị miền Nam, bỏ tù và quản thúc hàng triệu người dân, tước đoạt của cải của dân qua đổi tiền và cải tạo, thải loại ngay Mặt trận dân tộc giải phóng, gây thảm cảnh hàng triệu thuyền nhân. Như thế mà là giải phóng, là thống nhất ư?

Sau 30-4-1975, chỉ riêng đảng cộng sản cầm quyền, không cho ai lập hội, không cho một tư nhân nào ra báo, không có tự do ứng cử và bầu cử, thế mà gọi là giải phóng dân tộc ư? là tự do ư?

Còn nay thì đảng giàu, giàu sụ, dân nghèo, nghèo rớt. Thống nhất kiểu gì vậy? Phát triển kiểu gì vậy?

Một nước ''độc lập'' mà buộc phải ký những hiệp ước bất bình đẳng, để bị mất đất, mất biển hàng trăm, hàng nghìn kilômét vuông, mất đảo, mất vô vàn tài nguyên hải sản; rồi người nước ngoài muốn đuốc của họ đến nước ta, vào lúc nào, ở đâu là do họ quyết định; bộ trưởng ngoại giao của họ lại còn sang thủ đô ta để giao nhiệm vụ cho bộ trưởng ngoại giao, cho thủ tướng và cho chủ tịch quốc hội phải bảo vệ đuốc của họ cho triệt để, và còn cho an ninh vũ trang của họ vào tham gia đàn áp nhân dân nếu có biểu tình ôn hòa...thì thử hỏi nước ấy độc lập ở chỗ nào? có chủ quyền ở chỗ nào ? những người lãnh đạo của ta có còn chút thực quyền, có còn chút tự hào dân tộc gì nữa đâu! Người Việt chân chính tự trọng không xử sự như thế.

Đây là điều mỗi người Việt ta ở trong hay ngoài nước hãy suy nghĩ cho kỹ nhân ngày 30-4 năm nay.

Tôi mong tuổi trẻ trong nước trau dồi tư duy độc lập, tập suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của chính mình, và đọc bài luận văn ngắn của nhà triết học Pháp trứ danh Jean - François REVEL :''Hồ Chí Minh: sự tước đoạt lòng yêu nước''. Bài luận văn sắc sảo chỉ thẳng ra sự thật phũ phàng, là ông Hồ và đảng CS đã lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân Việt nam để phục vụ cho mưu đồ phe đảng của ông ta, để thỏa mãn mục tiêu thống trị thế giới của Quốc tế Cộng Sản III. Chữ ''détournement'' theo tiếng Pháp có ý nghĩa khá rộng là ''tước đoạt'', ''lấy trộm, lấy cắp'', ''của người khác xoáy làm của mình'' , ''chuyển thành, biến thành của mình''.

Đọc xong, tôi ngấm sâu ý nghĩa của từ ''tước đoạt'', và cảm thấy mình như bị mất cắp, mà mất cắp cái gì quý lắm, vô giá. Cả tuổi trẻ đầy lý tưởng và nghị lực, cả mấy chục năm bị đánh lừa, bị móc túi, bị gạ gẫm, để đến gần cuối đời mới tỉnh ra, mà thương hại, mà tiếc thay cho bao nhiêu người vẫn chưa tỉnh! Giả thử trong cuộc đời thường, một người bị mất cắp chiếc xe máy, chiếc đồng hồ đắt tiền, chiếc nhẫn vàng kỷ niệm ngày cưới ... hẳn là tiếc, tiếc nuối vô cùng, xót xa hàng tháng. Thế mà biết bao người bị lừa cả cuộc đời, có khi mất cả mạng sống, và hàng triệu triệu anh chị em, dòng họ, đồng bào mình cùng bị lừa hàng nửa thế kỷ ! một cuộc ăn cắp, lường gạt khổng lồ. Hãy chỉ cho nhau kịp thấy đi, để mà tiếc, mà xót xa, mà đòi lại quyền sống tự do cho mỗi người, mở ra cuộc đấu tranh mới dành lại độc lập thật sự và thống nhất thật sự cho Tổ quốc.

30-4 năm nay, tôi vui vẻ nhẹ nhàng lắm. Tôi có thêm biết bao bạn quý, từ khi là nhà báo tự do 18 năm nay. Bạn trong nước, ngoài nước, bạn già, bạn trẻ, bạn rất trẻ. Tôi viết không theo lệnh ai, không phải đưa ai duyệt, chỉ có theo lương tâm và trí tuệ, không sùng bái ai, chỉ sùng bái sự thật. Tuổi già tự do thế này thật đáng sống. Khó khăn vật chất mà sướng vô kể.

Tôi bỏ hết danh vọng hão, chức tước phù du, huân chương mai mỉa, tự hổ thẹn từng cao ngạo vô duyên về chuyện vào dinh Độc lập sớm, xế trưa 30-4, vớ vẩn, lạc điệu cả, cá nhân lầm lạc, ngộ nhận hết.

Để làm gì cơ chứ? để đất nước ra nông nỗi này ư? độc lập, không ! tự do, không ! chủ quyền, không ! về mặt nào cũng đứng dưới 100 nước khác!

30 tháng 4 năm nay, tự thâm tâm, tôi chỉ có một lời kêu gọi với các bè bạn và đông chí cũ của tôi: hãy quý trọng lòng yêu nước thương dân của chính mình, nếu bạn thấy lòng yêu nước ấy đã bị ai đó ''xoáy'' mất để dùng vào mục đích đáng nghi ngờ và đen tối, thì hãy lên tiếng tố cáo và tự tách mình khỏi trò lừa bịp và đánh cắp trắng trợn ấy!

Bạn hãy tự phục hồi lòng yêu nước thương dân trọn vẹn của mình để cùng mọi người Việt nam tỉnh táo và tử tế đấu tranh cho một Tổ quốc Việt nam thật sự độc lập, thật sự tự do, dựa vững vào Lịch sử Dân tộc và Thời Đại.

Kính chào các bạn.

Bùi Tín.
Paris 28-4-2008.

Sunday, April 25, 2010

Saturday, April 24, 2010

Tìm được mộ một số Người Tù Trại Tập Trung CS

Tổng Hội H.O. Công bố
danh sách 313 mộ tù cải tạo


Một số khu vực sắp bị chính quyền địa phương giải tỏa

Ðông Bàn

TEXAS - Thông báo gần đây của Tổng Hội H.O. cho biết, sau ba năm làm việc, hội đã tìm được 313 ngôi mộ của cựu tù cải tạo tại Việt Nam. Trong số này, 59 gia đình đã được, trực tiếp hoặc gián tiếp, hướng dẫn bốc mộ. Phần lớn còn lại vẫn chưa liên lạc được thân nhân, hoặc mộ không có bia để nhận diện.

Bên cạnh đó, thông báo của Tổng Hội cũng cho biết, một số khu vực “sắp bị giải tỏa,” mộ tại các khu vực này cần được bốc đi, và Tổng Hội sẵn sàng giúp thân nhân biết thủ tục. Chẳng hạn, khu mộ Làng Ðá, thị trấn Thác Bà còn 22 ngôi mộ, sắp bị giải tỏa. Trong số 22 ngôi mộ này, chỉ còn một số mộ có bia.

Tổng Hội cũng nói rằng “đang hoàn tất thủ tục để được phép của chính phủ Việt Nam đến các trại tại Vĩnh Phú - Tân Lập Nghệ Tĩnh - Nam Hà - Trại Thanh Chương” tìm mộ. Ðồng hương có thân nhân qua đời tại các địa điểm vừa nêu, có thể liên lạc Tổng Hội H.O. để được giúp đỡ.

Riêng những gia đình đã gởi thư yêu cầu Tổng Hội H.O. giúp tìm mộ người thân tại Làng Ðá, nay cần liên lạc lại để được hướng dẫn thủ tục và giúp đỡ thử DNA, nếu cần. Trong thông báo, Tổng Hội cũng viết, rằng những ai “bốc lầm hài cốt ngươi khác, xin hoàn trả lại cho thân nhân người quá cố, đồng thời, sẽ nhận lại đúng hài cốt người thân của mình.”

Trong tài liệu được công bố, Tổng Hội đã tổng kết danh sách mộ tù cải tạo được tìm thấy từ ngày 1 Tháng Mười, 2007 đến 1 Tháng Mười, 2008.

Cụ thể, khu vực xã Tân Thịnh, Hoàng Liên Sơn có 28 mộ; khu vực đồi Cây Khế, xã Việt Cường, huyện Trấn Yên, Hoàng Liên Sơn có 57 mộ; khu vực Mường Côi, huyện Phù Yên, Sơn La có 13 mộ; Bản Bò, huyện Văn Bàn, Hoàng Liên Sơn có 15 mộ; khe nước Village, huyện Văn Chấn, Hoàng Liên Sơn có 6 mộ; Bản Nã, Hoàng Liên Sơn có 2 mộ; khe Cốc, Hoàng Liên Sơn có 2 mộ; xã Kiên Thành, Hoàng Liên Sơn có 15 mộ; đồi con trăn có 1 mộ; trại cải tạo Nam Hà, Hà Nam Ninh có 120 mộ; làng Ðá, xã Cẩm Nhân, thị trấn Thác Bà, Yên Bái có 31 mộ; xã Việt Hồng, Hoàng Liên Sơn có 1 mộ; trại Bù Gia Mập, Phước Long có 22 mộ.

Riêng khu vực Làng Ðá, xã Cẩm Nhân, Thác Bà, Yên Bái, thông báo của Tổng Hội cho biết, “chính quyền địa phương đã có kế hoạch phóng một con đường ngang qua khu mộ. Cọc tim đường đá cắm ngay giữa khu mộ. Dự trù, khu mộ sẽ bị dời đi vào năm 2010.”

Thông báo kể thêm, rằng “Ngày 9 Tháng Chín, 2009, phái đoàn của Tổng Hội H.O do ông Nguyễn Ðạc Thành, Chủ Tịch, cùng Luật Sư Cố Vấn Wesley Coddou được đại diện Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Matthew Palmer (Duputy Director Office of Mainland Southeast Asia) và ông Marc Forino (Vietnam Deask) tiếp. Ông Chủ Tịch Tổng Hội đưa đề nghị, xin chính phủ Hoa Kỳ chánh thức lãnh trách nhiệm, thảo luận với chánh quyền Việt Nam, giúp người Mỹ gốc Việt tìm hài cốt thân nhân đã chết trong trại tù cải tạo...”

“Buổi chiều cùng ngày, Chủ Tịch Tổng Hội H.O được Thượng Nghị Sĩ Jim Webb tiếp và thảo luận trong vòng 25 phút về Chương Trình Tìm Hài Cốt Tù Cải Tạo. Bộ Ngoại Giao và Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, yêu cầu Tổng Hội H.O gởi cho bản đề xuất Kế Hoạch va Nhu Cầu cho Chương Trình Tìm Mộ. Ngày 15 Tháng Mười Hai, Tổng Hội H.O đã văn bản này lên Bộ Ngoại Giao và văn phòng Thượng Nghị Sĩ Jim Webb.”

“Do nhu cầu của Bộ Ngoại Giao, ngày hôm sau, phái đoàn Tổng Hội đã đến Tòa Ðại Sứ Việt Nam để tham khảo; được tiếp và nhanh chóng cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết. Những thông tin nầy, đã được Tổng Hội gởi đến Bộ Ngoại Giao cùng ngày.”

Tòa Ðại Sứ Việt Nam, vẫn theo thông báo của Tổng Hội, “chính thức xác nhận, hơn hai năm trước, Tổng Hội H.O. đã được Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Phú Bình cho phép đại diện thân nhân đi tìm một tù cải tạo.” Và việc này, đến nay “vẫn giữ nguyên như trước, không thay đổi.”

Tổng Hội H.O. là tổ chức bất vụ lợi, có hai chức năng: tìm mộ tù cải tạo và những chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam, và đưa hài cốt tử sĩ trở về với gia đình.

Ðể liên lạc Tổng Hội H.O., đồng hương có thể gọi điện thoại (832) 725-3231; email thanhdnguyen41@ yahoo.com hoặc vào website www.vietremains. org - www.tinhdongdoi. net.

Ðịa chỉ Tổng Hội: VIETNAMESE MIA & POW FOUNDATION, 1117 Herkimer, Houston, TX 77008.

Nhật báo Người Việt và Người Việt Online xin đăng toàn bộ danh sách các ngôi mộ, có tên lẫn không có tên, do Tổng Hội H.O. cung cấp.

VIETNAMESE MIA & POW FOUNDATION

1117 Herkimer, Houston, TX 77008
www.tinhdongdoi. net
www.vietremains. org

January 15, 2010

Danh sách mộ tù cải tạo đã tìm được từ ngày 1 Tháng Mười, năm 2007 đến 1 Tháng Mười, 2008

I - Dõng Hóc - Xã Tân Thịnh - Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 28 Mộ

1. Nguyễn Văn An 15. Nguyễn Văn Trọng
2. Tạ Văn Ân 16. Lê Văn Ngôn (*)
3. Phạm Văn (Công) Bằng 17. Trần Xuân Phú (*)
4. Nguyễn Văn Bia 18. Lê Ðức Thắng
5. Lê Văn Chinh 19. Nguyễn Ng. Thanh
6. Ðỗ công Huệ 20. Dương Văn Tư
7. Trần Ðại Vĩnh 21. Ðặng Hồng Sơn (*)
8. Ngô Văn Nhật (Nhựt) 22. Lê Kỳ Sơn
9. Phù Văn Vũ (*) 23. Bùi Quang Kính (or Tính)
10. Trần Văn Sách 24. Hoàng Thế Tựu
11. Nguyễn Thanh Quang 25. Trần Văn Hiếu
12. Vũ Văn Tình 26. Nguyễn Văn Tuyết
13. Nguyễn Văn Hom 27. Trần Liệu
14. Trần Văn Quang 28. Nguyễn Văn Minh (*)

II - Ðồi Cây Khế - Xã Việt Cường - Huyện Trấn Yên - Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 57 Mộ

1. Lương Ðình Bảy
2. Ðỗ Văn Ưng 30. Trần Văn Cung
3. Trần Hữu Công (*) 31. Huỳnh Hữu Ba (Ban)
4. Hồ Nghạch 32. Bùi Văn Phước
5. Y Nam 33. Phạm Phước Hồng (*)
6. Phạm Văn Ðoàn 34. Nguyễn Văn Bảy
7. Trần Văn Thạch 35. Nguyễn Văn Nô (*)
8. Nguyễn Thanh Vân 36. Lý Văn Phinh
9. Nguyễn Quang Tôn 37. Phạm Phú Mạnh
10. Lại Thế Cường 38. Nguyễn Thanh Chương
11. Nguyễn Phước Khiêm (Kiêm) 39. Lưu Thinh Văn
12. Nguyễn Tấn Công 40. Dương Tấn Hưng
13. Võ Tín 41. Nguyễn Duy Tăng (1)
14. Nguyễn Bá Thìn 42. Ngô Thiện Thắng
15. Lê Văn Chuyên (Tuyên) 43. Lê Minh Luân (*)
16. Nguyễn Hữu Chí 44. Dương Phúc Sáng
17. Ðặng Phương Chi 45. Ðỗ Xuân Sinh
18. Vương Ðăng Ðỡm (Don) 46. Trần Tuấn Trung (3)
19. Phạm Văn Chí 47. Lê Văn Ðông
20. Lương Sinh Ðiền 48. Nguyễn Năng Sính
21. Lê Hữu Ðức (Dực) 49. Nguyễn Chí Hòa
22. Cao Triệu Ðạt 50. Nguyễn Văn Vân
23. Dương Hữu Chí 51. Khẩu Phụ Mạng
24. Nguyễn Văn Sanh 52. Dương Tấn Mông
25. Trần Duy Ðắc 53. Lê Văn Ðông
26. Nguyễn Văn Nghĩa (*) 54. Trương Văn Vinh
27. Nguyễn Văn Hai 55. Nguyễn Văn Vân
28. Nguyễn Văn Linh (Sinh) 56. Lê Văn Luận
29. Dương Văn Sáu (*) 57. Nguyễn Văn Năng

III - Mường Côi - Huyện Phù Yên - Tỉnh Sơn La: 13 Mộ

1. Huỳnh Tự Trọng và 12 ngôi mộ không có mộ bia.

IV- Bản Bò, Huyện Văn Bàn, Hoàng Tỉnh Liên Sơn: 15 Mộ

1. Phạm Văn Nghym (*) 2. Ông Tấn Ngọc (*)
3. Nguyễn Hữu Nghiệp 4. Ngô Huỳnh Cảnh (3)

*11 ngôi mộ không còn mộ bia

Vố Làng Khe Nước - Huyện Văn Chấn -Hoàng Liên Sơn: 6 Mộ

1. Tôn Thất Hiệp 2. Nguyễn Văn Vàng
3. Huỳnh Nguyên 4. Phan Ngọc Ðại (*)
5. Ngôi mộ còn chữ Thủ Dầu Một. 6. Ngôi mộ còn chữ Thừa Thiên.
* Hai ngôi mộ còn bia nhưng mất hết tên, còn địa chỉ: Thủ Dầu Một và Thừa Thiên.

VI- Bản Nã - Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 2 Mộ

1. Nguyễn Trung Khiêm 2. Nguyễn Hữu Vui

VII- Khe Cốc - Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 2 Mộ

1.- Phạm Minh Xuân 2.- Một mộ không bia

IX- Xã Kiên Thành - Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 15 Mộ

1. Dương Văn Nữ (*) 9. Nguyễn Quang Thái (*)
2. Trần Thanh Ðức (*) 10. Nguyễn Văn Ðông
3. Trần Sĩ 11. Phan Huỳnh Luông (*)
4. Nguyễn (or Trương) Quang Ân 12. Một người tên Xuân, bia mất họ
5. Ðào Văn Sinh 13. Nguyễn Ngọc Cang
6. Nguyễn Văn Sang 14. Phạm Gia Lai
7. Nguyễn Văn Mân 15. Một người họ Võ, bia mất tên
8. Nguyễn Văn Ðồng

X- Ðồi Con Trăn: 01 Mộ

1. Lê Bá Tường

XI- Trại Cải Tạo Nam Hà - Tỉnh Hà Nam Ninh: 120 Mộ

Dãy I: 21 Mộ

1. Hà Văn Chung 9. Hoàng Văn Khuê
2. Nguyễn Văn Chi 10. Nguyễn Ðức Ðịnh
3. Lục Văn Chung 11. Phan Văn Cảnh
4. Lương Ðình Thơm 12. Bùi Văn Vụ
5. Mộ 13 không tên 13. Nguyễn Văn Quý
6. Nguyễn Văn Trị 14. Hoàng Văn Quang
7. Giáp Văn Hùng 15. Nguyễn thanh Phong
8. Ðỗ Văn Thông 16. Nguyễn Văn Dũng
17. Trần Văn Hiếu

Mộ số 18, 19, 20, 21 không có tên, họ

Dãy II: 14 Mộ

1. Ðỗ Ðình Thế 8. Mộ bia số 25 không có tên
2. Nguyễn Lê Tính 9. Mộ bia số 26 không có tên
3. Võ Thanh Tâm 10. Mộ bia số 27 không có tên
4. Mộ bia số 21 không có tên 11. Mộ bia số 28 không có tên
5. Mộ số bia 22 không có tên 12. Mộ bia số 29 không có tên
6. Mộ bia số 23 không có tên 13. Mộ bia số 30 không có tên
7. Mộ bia số 24 không có tên 14. Hậu Văn Nghĩa

Dãy III: 20 Mộ

1. Nguyễn Văn Lưu 12. Lang Văn Chữ
2. Nguyễn Văn Nông 13. Mộ bia số 45 không có tên
3. Mộ bia số 35 không có tên 14. Mộ bia số 46 không có tên
4. Mộ bia số 36 không có tên 15. Mộ bia số 47 không có tên
5. Mộ bia số 37 không có tên 16. Mộ bia số 48 không có tên
6. Mộ bia số 38 không có tên 17. Cao Kim Chẩn (*)
7. Mộ bia số 39 không có tên 18. Mộ bia số 50 không có tên
8. Mộ bia số 40 không có tên 19. Mộ bia số 51 không có tên
9. Mộ bia số 41 không có tên 20. Mộ bia số 52 không có tên
10. Trang Văn Bốn
11. Nguyễn Xuân Minh

Dãy IV: 25 Mộ

1. Mộ bia số 53 không có tên. 13. Mộ bia số 65 không có tên
2. Mộ bia số 54 không có tên 14. Mộ bia số 66 không có tên
3. Mộ bia số 55 không có tên 15. Mộ bia số 67 không có tên
4. Mộ bia số 56 không có tên 16. Mộ bia số 68 không có tên
5. Mộ bia số 57 không có tên 17. Mộ bia số 69 không có tên
6. Nguyễn Văn Minh 18. Mộ bia số 69 không có tên
7. Hoàng Văn Toản 19. Mộ bia số 70 không có tên
8. Nguyễn Văn Nhân 20. Mộ bia số 71 không có tên
9. Mộ bia số 61 không có tên 21. Mộ bia số 72 không có tên
10. Mộ bia số 62 không có tên 22. Mộ bia số 73 không có tên
11. Mộ bia số 63 không có tên 23. Mộ bia sô 74 không có tên
12. Mộ bia số 64 không có tên 24. Mộ bia số 75 không có tên
25. Mộ bia số 76 không có tên

Dãy V: 21 Mộ

1.- Nguyễn Yến Lương 12. Mộ bia số 89 không có tên
2.- Phùng Tân Phương 13. Mộ bia số 90 không có tên
3. Mộ bia số 78 không có tên 14. Ðào Văn Ðạo
4. Mộ bia số 79 không có tên 15. Mộ bia số 93 không có tên
5. Phạm Cảnh 16. Mộ bia số 94 không có tên
6. Mộ bia số 82 không có tên 17. Nguyễn Quang Quyền
7. Mộ bia số 83 không có tên 18. Mộ bia số 96 không có tên
8. Vũ Sinh 19. Nguyễn Hà Ðăng
9. Trần Tư 20.- Nguyễn Văn Lê
10. Mộ bia số 86 không có tên 21.- Nguyễn Văn Ðào
11. Nguyễn Quang

Dãy VI: 19 Mộ

1. Nguyễn Văn Thắng 11. Mộ bia số 119 không có tên
2. Lương Văn Giáo 12. Vương Huấn
3. Mộ bia số 108 không có tên 13. Trương Chính
4. Nguyễn Hà Dư 14. Nguyễn Văn Hùng
5. Mộ bia số 106 không có tên 15. Mộ bia số 123 không có tên
6. Phạm Văn Ðê 16. Mộ bia số 124 không có tên
7. Ðinh Quang 17. Mộ bia số 125 không có tên
8. Trần Quang 18. Mộ bia số 126 không có tên
9. Mộ bia số 111 không có tên 19. Hoàng Văn Thảo
10. Mộ bia số 112 không có tên

VII- Làng Ðá - Xã Cẩm Nhân - Thị Trấn Thác Bà - Tỉnh Yên Bái: 31 Mộ

1. Bia Mộ Lương Văn Hòa 17. Mộ không biết tên
2. Bia Mộ Chung Hữu Hạnh 18. Mộ không biết tên
3. Bia Mộ Ðỗ Hữu Tước 19. Mộ không biết tên
4. Bia Mộ Nguyễn Minh Kiệt 20. Mộ không biết tên
5. Bia Mộ Ngô Văn Sáng 21. Mộ không biết tên
6. Bia Mộ Nguyễn Văn Bảy 22. Mộ không biết tên
7. Bia Mộ Trần Xuất 23. Mộ không biết tên
8. Mộ Thiếu Tá Hứa Minh Ðức (*) 24. Mộ không biết tên
9. Bia Mộ Chung Hữu Nam 25. Mộ không biết tên
10. Bia Mộ Lương Ðình Bảy 26. Mộ không biết tên
11. Trung Tá Ðinh Văn Tân (*) 27. Mộ không biết tên
12. Mộ cố Th/tá Trần Ðình Năm 28. Mộ không biết tên
13. Mộ không biết tên 29. Mô không biết tên
14. Mộ không biết tên 30. Mộ không biết tên
15. Mộ không biết tên 31. Mộ không biết tên
16. Mộ không biết tên

Ghi chú quan trọng

-Chúng tôi có bản đồ khu mộ, có đánh số thứ tự, nhưng không có tên người quá cố.
-30 mộ không còn bia, không còn nấm mộ. Chỉ còn một mộ còn bia, tên là Chung Hữu Hạnh
-Một số bia mộ bị bể, vài bia còn nguyên, nằm rải tác trong khu mộ, không biết của mộ nào.
-Chánh quyền địa phương đã có kế hoạch phóng một con đường ngang qua khu mộ.

*Cọc Tim

Ðường đá cắm ngay giữa khu mộ. Dự trù, khu mộ sẽ bị dời đi vào năm 2010.
- Tại Làng Ðá, ngôi mộ số 10, 11, 13, 17, 18, 19, 20, 30, 31 đã được bốc.

VIII- Xã Việt Hồng - Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 01 Mộ

1. Lê Xuân Ðèo (*)

VIII- Trại Cải Tạo Bùi Gia Mập - Bùi Gia Phúc - Phước Long: 22 Mộ

1. Nguyễn Thanh Nhàn
2. Lê Ngọc Bích
3. Ngô Ngọc Khánh
* 10 grave without tombstone
* Làng Phú Nghĩa 09 mộ không có mộ bia

Tổng Cộng: 313 Mộ

-Những ngôi mộ này chúng tôi đã tìm thấy vào cuối năm 2007, sau lần họp với Thứ Trưởng Nguyễn Phú Bình. Vì vậy, đã có một số mộ đã được thân nhân bốc và cải táng.
- (*) dấu hiệu chỉ hài cốt đã được thân nhân bốc và cải táng.
- (1) Mộ trước đây đã tìm thấy, nhưng nay đã mất, chưa tìm được.
- (2) Ðã có thân nhân nhưng còn chờ giúp đỡ vì quá nghèo.

- (3) Sau khi tù cải tạo qua đời, trại cho chôn một dãy hàng ngang gồm 6 ngôi mộ, không có mộ bia. Một thời gian sau, trại cho làm mộ bia. Một Tù Cải Tạo được lệnh đem mộ bia ra cấm trên đầu mỗi ngôi mộ. Người đi cắm bia mộ đã vô ý, ca sai. Thí dụ: Nếu đứng trên đầu mộ (ngay trước đầu người quá cố), mặt hướng về mộ từ đầu đến chân). Ngôi Mộ đầu tiên bên trái là ông A, mộ cuối cùng là ông F. Người cắm mộ bia sơ ý, cắm mộ bia của ông F cho ông A mộ bia ông A lại cắm cho ông F. Rất may, người cắm mộ bia đã cho thân nhân biết sự sai sót đó. May mắn thứ nhì, anh em tù đi chôn xác bạn đã dùng sơn màu đỏ, vẽ trên cục đá to, chôn theo dưới mộ. Do đó, chúng tôi đã thông báo cho chánh quyền địa phương sự sai sót và tìm đúng mộ của cố Trung Tá Phạm Văn Nghym va ông Ông Tấn Ngọc. Cả hai đều có cục đá có vẽ tên chôn dưới mộ.

* Chúng tôi chân thành cảm tạ:
-Thân Nhân của Tử Sĩ Cao Kim Chẩn, đã gởi cho chúng tôi danh sách Mộ Tù Cải Tạo Nam Hà.
Sau đó, chúng tôi đã đến Trại Tù Nam Hà và kiểm lại trước khi loan tin.
-Cháu Hiệp ở New Mexico đã cho chúng tôi tin tức khu mộ Làng Ðá. Nhờ đó, chúng tôi đã tìm được khu mộ nói trên và giúp cho cháu Hứa Minh Ðộ tìm được mộ cha là cố Thiếu Tá Hứa Minh Ðức.
-Chúng tôi cám ơn các bạn Tù Cải Tạo sau đây đã cho chúng tôi tên, họ một số bạn tù đã qua đời:
1- Anh Phạm Ðức Dư ở Úc Châu.
2- Ðại Úy Nguyễn Văn Ðại.
3- Thiếu Tá Nguyễn Văn Ngọc TMP/HQ/TV Tiểu khu Hậu Nghĩa.
4- Anh Phạm Duy Nhân, Houston, Texas.
Chúng tôi xin chân thành cảm tạ sự đóng góp của một số đồng đội, đồng bào trong thời gian qua. tấm lòng của quý vị, gia đình người quá cố sẽ không quên Anh Linh người chiến sĩ được an ủi, ngậm cười nơi chín suối.

Houston ngày 15 Tháng Giêng, năm 2010
Chủ Tịch Tổng Hội H.O
Nguyễn Ðạc Thành

VIETNAMESE MIA & POW FOUNDATION
1117 Herkimer, Houston, TX 77008

****************
Tìm Mộ Cha

Có một cháu, con của một sĩ quan đã chết trong trại tù Sơn La.
Xin quí chiến hữu nào đã ở tù Sơn La khoảng 1976 có thể biết bất cứ tin tức nào của vị Đại Úy này không.
Thành thật cám ơn.

Đây là tin tức của người chết:
Huỳnh Tự Trọng ,
cấp bực Đại úy , người Quảng Nam,
chết vào ngày Mùng một Tết năm 1976 ,
tại Trại 2 ,Mường Côi , huyện Phú Yên, tỉnh Sơn La.

Hồ Ngọc Hiệp
***
(Anh Nguyễn Văn Sáu chuyển)

Friday, April 23, 2010

Dàn khoan dầu ngoài khơi Luisiana phát nổ và sụp đổ


Một dàn khoan dầu trên vịnh Mễ Tây Cơ, ngoài khơi bang Luisiana, Hoa Kỳ, đã bốc cháy sau khi bị nổ vào hôm qua thứ Tư, và hiện giờ đã sụp đổ xuống lòng biển.

Người ta đang tìm kiếm 11 công nhân làm việc tại dàn khoan bị mất tích. 17 người khác trong số 126 công nhân viên làm việc tại dàn khoan đã được không vận tới nhà thương để được điều trị.

Mỗi lúc càng đông người lo ngại khi biết rằng mỗi ngày có khoảng 8.000 thùng dầu bị tuông ra từ các ống của dàn khoan.

Tổng thống Obama đã lên tiếng trấn an dư luận và nói rằng chính phủ sẽ ưu tiên trợ lực cần thiết cho việc tìm kiếm ngoài khơi và giảm thiểu những tác hại môi sinh do tai nạn giếng dầu gây ra. (Trích dịch từ BBC)

Hình ảnh núi lửa Eyjafjallajoekull ở miền nam Iceland.

Cột khối không lồ có thể nhìn thấy dễ dàng từ vệ tinh ngoài không gian.
Cột khói bụi khổng lồ bốc lên từ miệng núi lửa Eyjafjallajoekull ở miền nam Iceland tạo thành cảnh tượng kinh hoàng. Khói lan tỏa khắp Bắc Âu mang theo những cục băng đá có thể phá hỏng các động cơ máy báy. Hầu như tất cả các nước Bắc Âu phải hủy bỏ mọi chuyến bay trong nhiều ngày, thiệt hại mỗi ngày lên đến 200 triện Mỹ kim, đặc biết nhất là Anh Quốc, Na Uy, Thủy Điển, Phần Lan, Đan mạch, Bỉ, Hòa Lan, Pháp và Đức...




Thursday, April 22, 2010

Nữ Quân Nhân

Bắc Hàn
Cần gì phải nhấc cao giò đến như thế mới phơi bày được quyền lực?


Mỹ
Con cháu cao bồi miền Tây có khác!


Nga.
Đồng phục mà răng váy có chiếc dài chiếc ngăn như rứa hè?


Pakistan.
Úi giời ơi! Ngụy trang kín mít không lộ yếu điểm. Hay!

Thơ ý Nga



NGƯỜI “MAY” ÁO QUAN


(Viết thay nén hương đưa tiễn một Người Lính)

Tôi là lính ra tù không manh áo
Vượt qua bao lửa máu tìm bình an,
Mưu sinh nghề đánh bóng những áo… quan
Đổi bát gạo nuôi đàn con nheo nhóc.

Mỗi chiếc “áo” làm ra tôi đều khóc
Nhớ bạn bè đất Bắc da bọc xương
Chiếu rách tìm, dù nhỏ hẹp tầm thường
Cũng không có bọc xác thân cùng cực.

Tay xóc dằm, gò từng manh… ký ức
Đóng, đục, cưa cho người lạ nằm vừa,
Lót vải êm bao hòm gỗ cài hoa
Và nước mắt cứ ứa… ngày bi lụy.

Tôi sáng, tối gò từng manh gỗ quý
Thương bạn thân, những thằng đã ra đi
Xót vợ hiền tần tảo bao hiểm nguy
Nuôi con dại chờ chồng, không thấy mặt.

Ngày em mất trời mưa râm bi đát
Hai thằng con ráp những mảnh ván giường
Giữa ruộng nương “kinh tế mới”, thắp hương
Nhường mẹ… ngủ bình an nơi cõi Phật.

Tôi may áo, áo cho người hoàn tất
Mà dân tôi áo rách đỏ “thiên đường”
Người lạ xa, thân được tẩm thơm hương
Xong một áo, áo nào tôi cũng khóc!

Tôi may áo bằng mưu toan đại cuộc
Buộc thân tàn phải âm ỷ lòng son
Dạy các con: -Chiếc Áo Mộng chưa tròn
Còn ấm áp, phải yêu hoài Tổ Quốc!

Ý Nga


Cây sầu riêng đặc biệt


(NT chuyển)

Monday, April 19, 2010

Tin buồn

Thành thật chia buồn cùng anh chị Thạnh - Tuyết về cháu
Tạ Chí Văn
Người con trai qúy mến thứ hai của anh chị vừa đột ngột ra đi ngày
13 thang Tư năm 2010 nhằm ngày 1 tháng 3 năm Canh Dần
Với tuổi trẻ tài cao nhưng chưa vướng nhiều bụi trần, chắc chắn cháu sẽ
được vãng sanh vào cõi cực sáng mà cháu đã hằng ước nguyện

Các bạn đồng khóa Ban DS17 Canada
(Tin từ anh PQH)

Sunday, April 18, 2010

Thơ Dương Quân



Hình như nắng mới vừa sang
Chợt lay giấc ngủ muộn màng cuối đông
Hình như nắng rớt ngoài song
Chờ em tô điểm má hồng du xuân.

Trong mây chim hót ngập ngừng
Cành cao trơ trọi nẩy mầm lá non
Em về vẽ thắm môi son
Quên ngày mưa gió mỏi mòn tuyết sương.

Ta về gom nắng soi gương
Thấy ê chề những nẻo đường thế nhân
Vô tình đánh mất thanh xuân
Gặp em cứ ngỡ chập chờn chiêm bao.

Hình như nắng vẫy tay chào
Áo em thấp thoáng ngõ vào tương tư
Mùa đông em bắt ta chờ
Sang xuân ta lại làm thơ đợi người.

Hình như nắng đến đây rồi
Cho em thôi khóc sụt sùi đêm mưa

DƯƠNG QUÂN


Tin buồn

Thân Mẫu đồng môn Phan Bái
(Cựu Sinh Viên QGHC Ban Cao Học khoá 3) là:

Cụ Bà PHAN XUÂN LINH
Nhũ Danh TRẦN THỊ ĐÌNH
Pháp Danh NGUYÊN THÀNH
vừa từ trần ngày 14 tháng 4 năm 2010 tại Việt Nam.
Hưởng thọ 95 tuổi

Xin thông báo cùng quý đồng môn
đặc biệt quý anh chị thuộc khóa Cao Học 3

(Người đưa tin: Nguyễn Văn Sáu)

Saturday, April 17, 2010

Nhạc thư giãn

Tài liệu

SỰ THẬT VỀ ÔNG THÍCH ĐÔN HẬU

Thư trả lời chính thức của ông Liên Thành


**
"Với trách nhiệm là một Phật Tử, tôi phải đặt đức công bằng lên trên tất cả những tai tiếng của các lãnh đạo tôn giáo của đạo mình, mà ngay chính cá nhân tôi, trong chỗ riêng tư, phần nào cũng muốn dấu bớt, vì xấu hổ".

"Không ai có thể nhân danh lãnh đạo tôn giáo, nhân danh tôn giáo để che đậy sự thật lịch sử của đất nước Việt Nam này". (LT)

**

Kính Gởi:

- Đại Lão Hòa Thượng Thích Quãng Độ, xử lý thường vụ Viện Tăng Thống
- Giáo Sư Võ Văn Ái

v/v: Ông Đôn Hậu không là cộng sản
- Mậu Thân 1968, ông Đôn Hậu bị VC bắt ra Hà Nội

Thưa Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ,
Thưa Giáo Sư Võ Văn Ái,

Cách đây gần ba năm, vào cuối thu năm 2007, khi đặt bút viết những dòng chữ đầu tiên về các Biến Động Miền Trung từ 1966-1975, tôi đã tiên liệu rằng, rồi ra sẽ là một “biến động lớn” tại hải ngoại và quốc nội. Bởi vì, những gì tôi viết ra tuy là những sự việc đã thực sự xảy ra, những đầu mối để dẫn đến một thời điểm đen tối nhất của lịch sử Việt Nam, nhưng trong đó, có những việc liên quan đến một số nhân vật, đã dùng chiếc áo tu hành, cố đem thần quyền khống chế thế quyền. Thế quyền đó chính là 2 chính thể Việt Nam Cộng Hòa, đã bị một số người bất lương, hùa theo cộng sản, cãi trang trong cái võ bọc tôn giáo, quyết tâm triệt hạ chính quyền Miền Nam, nhằm phục vụ tích cực cho đảng Cộng sản trong mưu đồ thôn tính toàn cõi đất nước Việt Nam. Vì vậy, đã có một số người không vừa lòng, vì tôi đụng chạm đến các lãnh tụ Phật Giáo, vì tôi đưa ra những sự việc không làm vừa lòng họ, một số khác chống đối vi họ muốn ém nhẹm sự việc.

Nếu tôi dựng chuyện vu khống các vị cho dù là thường dân hay các bậc tu sĩ, thì lương tâm và danh dự tôi là một bản án trừng phạt nặng nhất cho chính tôi, chứ không cần đợi cho ai chứng minh là tôi sai hay vu khống cả. Vì thế, không một thế lực nào trên đời này có thể cản trở tôi nói ra sự thật. Tôi đã từng xông vào chùa Trà Am, bắt sư Thích Như Ý, em Hòa Thượng Thích Trí Thủ, sau đó đến chổ nghĩa địa cất dấu, lôi ra 6 ký lô chất nỗ hợp chất C3 và 8 ngòi nỗ chậm, trước sự chưởi rủa của Ông Thích Như Ý rằng tôi là mật vụ Mỹ Thiệu, con dòng cháu giống đi làm du đảng đàn áp quý thầy, thâm ý của ông ta muốn làm nao núng áp đảo tinh thần tôi, nhưng ông Như Ý đã lầm, khi tôi đã cân nhắc hơn thiệt đúng sai, đúng là cộng sản, tôi đi đến cùng, triệt hạ thẳng tay, bất kể đó là chùa hay nhà thờ.

Núp bóng thế lực chùa hay nhà thờ để tạo sức mạnh hoạt động cộng sản, gây rối trị an, hoàn toàn không có giá trị gì với tôi cả. Sau 1975, Thích Như Ý hiên nguyên hình là tên Việt Cộng nằm vùng đặc trách Tôn Giáo Vận. Sự việc này không ai có thể chối cãi. Các anh em CSQG cùng với tôi đến lục soát chùa Trà Am hiện nay còn sống tại Hoa Kỳ, dân chúng trong vùng gần chùa Trà Am còn đó. ĐLHT và ông Võ Văn Ái dễ dàng kiểm chứng sự kiện.

Những nhân vật mà tôi đề cập trong Biến Động Miền Trung đó là: Trí Quang, Đôn Hậu, Thiện Siêu, Như Ý, Chánh Trực v.v những người đã được phật giáo đồ miền trung đặc biệt là Thừa Thiên-Huế kính trọng, tôn sùng, xem như là các bậc thánh linh trong đời sống, nay bỗng chốc bị lột trần ra là đảng viên Cộng Sản, là cán bộ Việt Cộng nằm vùng trong Phật Giáo, lợi dụng tôn giáo để phỉnh gạt tín đồ để thi hành các công tác mà cơ quan tình báo Chiến lược Cộng Sản Bắc Việt giao phó.

Vì lẽ đó, “Biến Động Miền Trung” là một sự thật làm bàng hoàng, đau đớn, và gây xúc động cho nhiều người. Ngược lại, “Biến Động Miền Trung” cũng đã tạo một cơn chấn động bởi một số người không những không chịu chấp nhận sự thật, lại còn ráng bóp méo, cho rằng BĐMT ra đời là để bôi nhọ, đánh phá Phật Giáo, gây chia rẽ tôn giáo, chia rẽ cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại. Tôi sợ những dư luận rẻ tiền này không? Thưa không!

Bởi vì Biến Động Miền Trung không ai khác, chính là gây ra bởi phong trào gọi là Phật Giáo Tranh Đấu phản loạn, đầu tiên bởi một số cá nhân hoạt động cộng sản, núp bóng trong hàng ngũ lãnh đạo Phật Giáo. Và tôi là người đem sự thật ra phanh phui, cho nên, nói đến Biến Động Miền Trung là nói đến sự thù ghét cá nhân tôi, Liên Thành, bởi những kẻ tin người giảng đạo hơn là tin đạo. Chúng viết bài viết sách lý luận mơ hồ nhảm nhí chửi bới hạ cấp như những kẻ đầu đường xó chợ, và tôi, Liên Thành, không hề đếm xỉa gì đến những tình cảm thương ghét chữi đổng hạ cấp này

Quá trắng trợn, họ đưa ra những sự việc đầy cảm tính, ước đoán hết sức mơ hồ mông lung, để bênh vực và biện minh rằng ông Thích Đôn Hậu, thuộc hàng lãnh đạo Phật Giáo có tên tuổi, đã bị bọn Việt cộng bắt đi ra Bắc trong Tết Mậu Thân 1968. Đây là cuộc ra đi vì bị bắt buộc bởi một tiểu đội quân Cộng Sản Bắc Việt dí súng AK vào người ông ta, và rằng ông ta không bao giờ thỏa hiệp với chính quyền Cộng Sản Miền Bắc về cuộc ra đi này cả. Những lối nói khơi khơi không có sự kiện để chứng minh như thế, chẳng bao giờ có chút giá trị nào đối với hệ thống luật pháp của bất cứ quốc gia nào, kể cả tụi cộng sản

Gần đây nhất, trên internet tôi tình cờ đọc được thông tư đề ngày 17-1-2010, số 07/VHĐ/VT của Hòa Thượng Quảng Độ đăng chính thức trong website queme.net ngày 18/1/2010, với tư cách là Xử lý Thường Vụ viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng viện Hóa Đạo, PGVNTN gởi đồng bào Phật Tử về một : “ Hiện trạng vu khống, chụp mũ hàng giáo phẩm PGVNTN đang lưu hành trên mạng và các cơ quan truyền thông” .

Đọc xong thông tư của Đại Lão Hòa Thượng, tôi thấy bản thông tư này, từ ý tưởng, nội dung, đến cách hành văn, dường như rất quen thuộc của ông Võ văn Ái, khó mà giống của Hoà Thượng. Tuy nhiên, cho dù không phải là do ĐLHT Quảng Độ viết, mà là của GS Võ văn Ái, tôi nhận thấy rằng tôi phải chính thức trả lời ĐLHT và ông Võ văn Ái, vì thông tư đứng tên ĐLHT, và vì những vấn đề trong thông tư quá mơ hồ và sai sự thật.

Trả lại sự thật cho lịch sử là bổn phận của tất cả mọi công dân đã vì duyên nghiệp mà biết được những oan khiên sai trái của những âm mưu chính trị đen tối. Tôi, Liên Thành, vì chức vụ, bổn phận, và trách nhiệm mà biết được những điều đó, thì tôi không có quyền im lặng, vì, trách nhiệm đối với đất nước và lịch sử là bổn phận tối thượng. Đó là trách nhiệm thiêng liêng trên hết mọi lãnh vực, nó trên cả lãnh vực tôn giáo. Không ai có thể nhân danh lãnh đạo tôn giáo, nhân danh tôn giáo để che đậy sự thật lịch sử của đất nước Việt Nam này.

Tôn giáo là tôn giáo, lãnh đạo Phật Giáo là lãnh đạo Phật Giáo, họ là những người đi rao giảng lời Phật, họ không là Phật, họ cũng chẳng là Phật Giáo

Điều này quá rõ và quá đơn giản, nhưng vẫn còn có một số người cố bám víu trộn lẫn các phạm trù này lại, cho rằng quý vị đó là Phật Giáo, để đánh lận dư luận, mưu đồ lợi dụng sức mạnh tôn giáo để thực hiện những mưu toan chính trị không ngay thẳng

Cuối cùng, với trách nhiệm là một Phật Tử, tôi phải đặt đức công bằng lên trên tất cả những tai tiếng của các lãnh đạo tôn giáo của đạo mình, mà ngay chính cá nhân tôi, trong chỗ riêng tư, phần nào cũng muốn dấu bớt, vì xấu hổ

Tôi sẳn sàng đối chất minh bạch với ĐLHT Thích Quảng Độ và cả ông Võ Văn Ái, trên tất cả các phương tiện truyền thông và công luận, nếu như ông Võ Văn Ái là người sáng tác ra bản thông tư này

Trong thông tư, ĐL Hòa Thượng yêu cầu các chư Đức, Tăng, Ni, Phật tử đặc biệt là ở hải ngọai có nhiều phương tiện thông tin, “Tìm kiếm tài liệu, thu thập chứng liệu, và tìm phương cách giải, hoặc những bài viết, hoặc do thiếu hiểu biết, hoặc cố tâm vu cáo PGVNTN theo các chủ trương tiêu diệt những sinh lực dân tộc, mà Phật giáo là một, cho những viễn đồ phi dân tộc và phản tổ quốc”

ĐL Hòa Thượng Thích Quảng Độ, hay GS Võ văn Ái đã đưa ra một số hiện trạng vu khống và chụp mũ 2 lãnh đạo Phật Giáo như sau:

1. Đệ nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết là Cộng Sản.

Thật tình, tôi rất ngạc nhiên khi đọc đoạn nầy. Bởi lẽ, dường như từ trước đến nay chưa bao giờ tại hải ngoại có một tài liệu nào, có bài báo nào, ngay cả trên hệ thống Internet, nói rằng Đệ Nhất Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết là Cộng Sản! Nếu như tôi sai, xin ĐL Hòa Thượng và ông Võ Văn Ái cho tôi đọc qua các tài liệu đó

Phần tôi, có lẽ tôi là người may mắn biết rõ và sống rất gần với Đệ Nhất Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, người mà anh chị em chúng tôi gọi là ông, nói theo tiếng địa phương xứ Huế, thì chúng tôi gọi là Ôn:

Ôn tôi, Đệ I Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, và bà nội tôi, Phu Nhân Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, là hai anh em bạn dì ruột. Đức Đệ I Tăng Thống là anh, và Bà Nội tôi là em. Cả hai là con của hai bà Công Chúa chị em ruột, con gái vua Thiệu Trị.

Đệ I Tăng Thống Thích Tịnh Khiết xuất gia từ năm 10 tuổi. Ngôi chùa ông tu đạo và sau nầy khi giữ chức Đệ I Tăng Thống là Chùa Tường Vân, chỉ cách chùa Từ Đàm không quá 3 Km.

Là Phật Tử ở Huế, ai cũng biết ông là một vị chân tu, không màng đến chuyện chánh trị, chánh em, không ham mê quyền lực, một đời tu hành thanh bạch. Tình cảm duy nhất đối với trần tục, có lẽ là tình thương của ông đối với người em gái gian truân thiếu may mắn, là Bà Nội tôi. Từ khi tôi còn nhỏ cho đến khi lớn khôn, tại ngôi nhà gần chùa Từ Đàm vùng Nam Giao, không tuần lễ nào tôi không thấy Ông đến thăm bà nội tôi một vài lần. Bà nội tôi đi pha trà, hai anh em ngồi nói chuyện bâng quơ, chúng tôi lẫn quẫn đâu đó, ông xoa đầu chúng tôi, cho ít hoa quả bánh trái, xong rồi ông lại về chùa. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại chạy lên chùa chơi với ông. Có lẽ vì gần gũi lẫn quẫn với ông như vậy, nên anh tôi, Liên Phú, cũng theo chân ông, trở thành một người xuất gia, sau đó ở cận kề với ông đến ngày ông mất, nay là Đại Lão Hòa Thượng Thích Chơn Kim.

Đó là những ngày anh em chúng tôi còn thơ ấu .

Ngày Bà nội tôi mất, có lẽ ông là một trong những người buồn nhất. Ôn chủ lễ, tụng kinh niệm Phật, nét mặt u sầu không nói năng chi, đôi dòng lệ chảy dài trên má, trông thật thương tâm. Đó là đời tư của Ôn mà tôi biết.

Còn về đời công của ông, với tư cách là phó trưởng Ty CSĐB/BCH/CSQG Thừa Thiên Huế từ 1966, đến sau Mậu Thân 1968 và sau đó đảm nhiệm chức vụ trưởng ty CSQG/Thừa Thiên Huế cho đến đầu năm 1975, tính ra khoảng 9 năm, tôi có có thể xác nhận là trong suốt 9 năm nắm giữ ngành tình báo tại Thừa Thiên Huế, không có một sự kiện, một tin tức nào ghi nhận Đệ I Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết là Cộng Sản, hay ngay cả đến việc vô tình hoạt động có lợi cho Cộng sản. Tài liệu trong văn khố của BCH/CSQG Thừa Thiên Huế, trước khi tôi nhậm chức, cũng ghi nhận sự trong sáng của Đệ Nhất Tăng Thống, không hề dính liếu đến cộng sản, mặc dù các biến cố chính trị quan trọng của đất nước có liên quan nhiều đến một số các vị lãnh đạo Phật Giáo cấp nhỏ hơn chung quanh ông, mà đã, hoặc chính là cộng sản, hoặc hoạt động có lợi cho cộng sản . Không có vị tu sĩ nào đã quyến rũ được Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết đi theo con đường cộng sản

Sau Mậu Thân 1968, hồ sơ cá nhân trong văn Khố của BCH/CSQG/Thừa Thiên Huế ghi nhận về Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, Lê Hữu Bôi, Sinh Viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, ra Huế ăn Tết và dự định đi hỏi vợ. Ra Huế, SV Lê Hữu Bôi trú ngụ tại chùa Tường Vân với cậu mình là ngài Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết. SV Lê Hữu Bôi đã bị bọn Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, bắt và đem đi chôn sống. Hồ sơ của SV Lê Hữu Bôi tại Văn Khố có ghi rõ: Sinh Viên Lê Hữu Bôi là cháu gọi Đệ I Tăng Thống Thích Tịnh Khiển là cậu ruột.

Ôn Tịnh Khiết nuôi dưỡng SV Lê Hữu Bôi từ nhỏ. Trong gia đình, SV Lê Hữu Bôi thuộc vai anh của ba tôi, cháu của bà nội tôi và cũng là cháu ôn Tịnh Khiết, và do đó, tôi gọi SV Lê Hữu Bôi là Bác.

Chúng giết SV Lê Hữu Bôi vì SV Lê Hữu Bôi là người quốc gia, không đồng hội đồng thuyền với chúng, không cộng tác với chúng trong phong trào sinh viên tranh đấu, Phật Giáo tranh đấu, và như thế chúng đổ cho SV Lê Hữu Bôi là làm việc cho CIA. Bất cứ ai người Miền Nam hoạt động trong chính quyền không nghe theo khuynh hướng cộng sản đều là CIA cả.

Còn Ôn Tịnh Khiết, vì lý do danh tiếng của ngài quá lớn, chúng e dè chưa dám giết. SV Lê Hữu Bôi là thành phần quốc gia yêu nước chân chính, được giáo dưỡng từ nhỏ bởi cậu mình là ngài Đệ Nhất Tăng Thống. Bấy nhiêu đó cũng cho thấy ngài Đệ Nhất Tăng Thống Ôn tôi là một vị chân tu không hề ưa thích cộng sản. Bằng không, nếu như Ôn tôi có hoạt động cộng sản với Trí Quang, có lẽ, Lê Hữu Bôi đã đi theo con đường bọn sinh viên tranh đấu hoạt động cộng sản rồi

Tóm lại, tôi không vì tình cảm liên hệ gia đình với Đệ I Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết mà bào chữa cho ông để nói những điều không đúng sự thật.

Tôi có thể xác nhận công khai, minh bạch, với danh dự của cá nhân tôi, và danh dự cũng như tư cách của một cựu CHT/ CSQG/ Thừa Thiên Huế:

Tôi chưa bao giờ nghe, cũng như trong 9 năm phục vụ tại BCH/CSQG Thừa Thiên Huế không ghi nhận một tin tức nào nói rằng: Đệ I Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết họat động cho Cộng Sản.

Số anh em trong BCH/CSQG TT/ Huế hiện đang ở hãi ngoại rất đông, đặc biệt Hoa Kỳ, và một số vị có thẩm quyền khác hiện còn sống, có thể là nhân chứng việc này

Và tôi sẳn sàng đối chất cho ra lẽ với bất cứ cựu viên chức nào, cá nhân có tên tuổi nào, cáo buộc Đệ Nhất Tăng Thống là cộng sản

Điều mà trong thông tư của Hòa Thượng Quảng Độ hay chính của ông Võ Văn Ái tại Paris nói rằng, có kẻ đã vu khống Đệ I Tăng Thống Thích Tịnh Khiết là Cộng Sản, tôi không hiểu ĐLHT Quãng Độ và ông Võ Văn Ái lấy tin tức nầy ở đâu, có giá trị hay không? xin cho tôi biết chính xác tên tuổi của cá nhân kẻ đó là ai? Kẽ đó có phải là những viên chức liên quan đến tình báo nội an trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa hay không? Tôi sẳn sàng đối chất trước công luận và báo chí với họ, dẫn chứng với nhân chứng sống hiện đang ở hãi ngoại. Còn những chuyện vụn vặt tầm phào vớ vẫn online, tên ma tuổi quỹ, xin ông Võ Văn Ái đừng dẫn chứng.

Tóm lại thông tư của Hòa Thương Quảng Độ, hay của GS Võ văn Ái phản đối việc vu khống Đệ I Tăng Thống Thích Tịnh Khiết là Cộng Sản là một điều đúng và chính đáng, tuy nhiên, xin nhị vị cho công luận biết cụ thể, kẽ đó là ai? Có giá trị để bàn cãi hay không?

2- Phản đối của Hòa Thượng Quảng Độ hay của GS Võ văn Ái về “hiện trạng vu khống, chụp mũ Đệ Tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu là cộng sản.”

Kèm theo lời phản đối này, GS Ái còn nói ông ta có một số dự kiện và một hai cuốn băng thâu lời nói của Đệ III Tăng Thống Thích Đôn Hậu để biện minh rằng ông Đôn Hậu không thể là cộng sản, và sự ra đi của ông ta trong Tết Mậu Thân là bị Việt Cộng dí súng AK vào lưng bắt đi v.v…

Kính thưa Hòa Thượng Thích Quảng Độ,
Thưa ông Võ văn Ái,

Tôi, Liên Thành, nguyên CHT/BCH/CSQG/ Thừa Thiên Huế, có mặt tại Huế và theo dõi ông ta trong thời gian ông Đôn Hậu hoạt động và thoát ly theo cộng sản, chính là người đã nói trong các cuộc thuyết trình về Biến Động Miền Trung và viết trong cuốn sách cùng tên rằng:

Ông Thích Đôn Hậu là Cộng Sản, và sự ra đi của ông Đôn Hậu và phái đoàn của ông ta ra Hà Nội trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế là một sự sắp đặt từ lâu của chính phủ Cộng Sản Hà Nội, và đã được sự đồng ý, thỏa thuận, của Ông Đôn Hậu.

Luận điệu nói rằng ông Đôn Hậu ra Bắc vì bị một tiểu đội Việt Cộng dí súng AK vào người ông ta dẫn đi chỉ là lời phát biểu suông mơ hồ, không đúng đắn, che dấu sự thật một cách khó thuyết phục, của những người chỉ là những kẻ bàng quan ngoại cuộc, không hề có một chút liên hệ gì đến hệ thống tình báo nội an của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, để có thể có chút uy tín chống đỡ bảo vệ cho lời phát biểu của mình

Để có thể chứng minh cùng ĐLHT Quảng Độ và ông Võ Văn Ái , tôi sẽ lần luợt đưa ra từng sự việc mà cơ quan tình báo của lực lượng CSQG tại Thừa Thiên Huế đã thu thập. Chúng tôi đã bám sát theo dõi mọi hành động, mọi hoạt động của tên Trung Tá điệp viên Cộng Sản Hoàng Kim Loan từ cuối tháng 6/1966, cho đến ngày Hoàng Kim Loan bị lực lượng chúng tôi bắt giữ vào tháng 5 năm 1972. Tính đến ngày Hoàng Kim Loan bị chúng tôi bắt, y đã hoạt động trong lãnh vực Tôn Giáo Vận, Trí Thức Vận đến 22 năm tại Huế, và liên quan chặt chẽ với các ông: Thích Đôn Hậu, Thích Trí Quang, Thích Thiện Siêu, Thích Chánh Trực, Thích Như Ý. Đó là danh sách những kẻ lợi dụng tôn giáo, tin đồ, hoạt động cho Cộng Sản.

Lần này trả lời cho ĐLHT Quảng Độ và ông Võ Văn Ái, tôi chỉ giới hạn trường hợp của Ông Thích Đôn Hậu mà thôi. Những trường hợp những người kia, xin hẹn dịp khác

Đầu tiên, có thể tóm tắt thân thế và sự nghiệp của Ông Đôn Hậu như sau:

Ông tên thật là Diệp Trương Thuần.
Sinh ngày 16-2-1905 tức ngày 13 tháng giêng năm Ất Tỵ
Sinh quán tại làng Xuân An, Tổng An Điền, phủ Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị.

Thân Phụ: Diệp văn Kỷ, là một lương y. Thân Mẫu: Bà Nguyễn thị Cựu.

Xuất gia ngày 19 tháng 6 năm 1923 tức là năm Quý Hợi tại Chùa Tây Thiên, Huyện Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên. Lúc ấy ông 18 tuổi.

Sư Phụ là ngài Tâm Tịnh.

-Năm 1945 nhận chức trù trì chùa Linh Mụ

- Năm 1963 đứng trong hàng ngũ lãnh đạo phong trào tranh đấu lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nền đệ nhất Cộng Hòa.

- Năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập, ông Đôn Hậu được cử làm Chánh đại diện miền Vạn Hạnh.

- Mậu Thân 1968, theo đề cử của Thành ủy Viên Thành ủy Việt Cộng Hoàng Kim Loan, ông Đôn Hậu được cử vào Chức Vụ Phó Chủ Tịch Lực Luợng Liên Minh, Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình tại Huế.

- Tháng 1/1968 tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, thoát ly lên mật khu và sau đó ra Hà Nội.

- Tại Hà Nội Ông Đôn Hậu được đề cử Phó trưởng đoàn đại diện cho thành phần trí thức, tôn giáo, “quần chúng Miền Nam yêu nuớc” xuất ngoại truyên truyền cho cuộc chiến xâm lăng của Hà Nội tại miền Nam Việt Nam, tuyên truyền rằng chính phủ VNCH là một chính phủ đàn áp Phật Giáo, đàn áp nhân dân.

- Tháng 6 năm 1968 Ủy viên Hội Đồng Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam của Việt Cộng.

- 1970 Ủy Viên thường trực Ban Chấp Hành Hội Phật Giáo Á Châu vì Hòa Bình, một tổ chức của Cộng sản.

- 1976 Đắc cử Đại biểu Quốc Hội Khóa VI nước cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

- Cũng trong năm 1976 giữ chức vụ Ủy viên Đoàn Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Hai vị hẳn còn nhớ đám tang của Ông Đôn Hậu Đã được Hà Nội tổ chức long trọng như thế nào, những nhân vật cao cấp nào của chính phủ và đảng Cộng Sản Việt Nam tham dự đám tang này. Tôi xin nhắc lại vài nhân vật:

Nguyễn Quyết, phó chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước, Ủy Viên Đoàn Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Trung Uơng, Vũ Thắng, Ủy Viên Trung Ương Đảng, kiêm bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên /Huế, Nguyễn Chính, phó trưởng ban Tôn Giáo Chính Phủ

Gởi vòng hoa viếng, có các tên tuổi lẫy lừng của Đảng như sau: Đỗ Mười, tổng bí thư BCH Trung Ương Đảng, Võ Chí Công, chủ tịch nhà nước, Phạm văn Đồng, cố vấn BCH Trung Ương Đảng, Lê Quang Đạo, chủ tịch quốc hội, Võ Văn Kiệt, chủ tịch Hội Đồng bộ Trưởng

Và biết bao huy chương cao quý đã được đảng cộng sản Việt Nam trao tặng ông Đôn Hậu! Đám tang thật rình rang! Thiết nghĩ, chẳng cần nhắc lại thì ĐLHT và ông Võ Văn Ái cũng đã rõ. Câu hỏi được đặt ra cho công luận và lịch sử là, có ai đã từng được nhà nước cách mạng trao tặng huy chương cao quý tổ chức tang lễ trọng vọng mà không từng hoạt động cộng sản? Xin hai vị cho công luận biết?

Cũng là tăng thống như ông Đôn Hậu, nhưng Đức Đệ Tứ Tăng Thống, ĐLHT Thích Huyền Quang có được tặng huân chương nào không? Câu trả lời quá dễ dàng, bỡi vì ĐLHT Huyền Quang không hoạt động cho bọn chúng

Nhưng quan trọng hơn cả là những hoạt động của ông Đôn Hậu qua sự chỉ đạo điều khiển của tên Trung Tá Điệp Viên Cộng Sản Bắc Việt Hoàng Kim Loan từ truớc 1963, những điều nầy ĐLHT Quảng Độ và ông Võ Văn Ái chưa bao giờ biết, tôi xin tóm tắt để hai vị rõ:
Cuối tháng 6 năm 1966 khi cuộc phản loạn của ông Trí Quang và đồng bọn tại miền Trung, đặc biệt tại Huế bị thất bại, tất cả đám tay chân thân tín của các ông Trí Quang và Thích Đôn Hậu đều là cơ sở nội thành Việt Cộng, do tên Trung Tá VC Hoàng Kim Loan chỉ huy, bị lực lượng an ninh của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan Tư Lệnh Hành Quân Dẹp Loạn Miền Trung, cùng lực lượng CSĐB thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên Huế do tôi chỉ huy, ráo riết lùng bắt. Do vậy, cơ quan An ninh Khu ủy Trị Thiên, và cơ quan an ninh Tỉnh Thị Ủy Thừa Thiên-Huế đã chỉ thị cho tên Trung Tá điệp viên Hoàng Kim Loan khẩn cấp cứu đám cơ sở nằm vùng quan trọng đưa lên mật khu. Điển hình cho việc này là vụ giải thoát anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, vụ giải thoát cho tên cán bộ nội thành VC Nguyễn Tròn, vụ giải thoát tên đồ tể Nguyễn Đắc Xuân.
1- Hai cán bộ nội thành Tôn Thất Dương Tiềm và Lê Cảnh Đạm do Hoàng Kim Loan phái đến nhà Trịnh Công Sơn tại đường Nguyễn Trường Tộ Huế, để đưa hai tên Tường và Phan bằng chiếc xe hơi màu trắng của Bà Tuần Chi, tức Đào thị Xuân Yến, lên chùa Linh Mụ qua Văn Thánh rồi từ đó đi bộ lên mật khu, tháng 6/1966. Nhân chứng của vụ theo dõi đường đào thoát của bọn này hiện còn sống tại Hoa Kỳ. Hồi ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường xuất bản năm 2000 cũng có xác nhận chuyện này.

2- Vụ giải thoát tên Nguyễn Tròn, nguyên bồi bàn nhà hàng Quốc Tế tại đường Phan Bội Châu: Nguyễn Tròn là tên việt cộng nằm vùng đại nguy hiểm. Hắn là tay chân đắc lực của ông Trí Quang và Hoàng Kim Loan.
Nguyễn Tròn trốn tại chùa Kim Tiên của Thích Chánh Trực, Hoàng Kim Loan cho giao liên đến đưa Nguyễn Tròn lên mật khu cưối tháng 6/1966. Mậu thân 1968 y từ mật khu về thành phố Huế giết vô số dân lành.

3- Cũng như hai trường hợp trên, Hoàng Kim Loan đã đưa Nguyễn Đắc Xuân đang trốn tại chùa Tường Vân, lên mật khu vào tháng 7/1966. Chùa Tường Vân là nơi ôn Tịnh Khiết trù trì. Ôn Tịnh Khiết đã chắc chắn không thể không biết Thích Chánh Trực và Nguyễn Đắc Xuân là những tên cộng sản trá hình

Do tình hình căng thẳng bởi sự lùng bắt ráo riết gắt gao của chúng tôi, nên Hoàng Kim Loan đã vấp phải lỗi lầm sơ đẵng về bảo mật và an ninh cá nhân, vì thế mà hành tung của y đã bị chúng tôi phát hiện từ cuối tháng 6/1966.

Sau một thời gian ngắn bám sát và theo dõi Hoàng Kim Loan, toán theo dõi lúc đó đã phát hiện và phúc trình cho tôi có đoạn nói rằng:

“Hoàng Kim Loan đã xâm nhập vào Chùa Linh Mụ một vài lần, nhưng tiếp xúc với ai trong chùa thì vẫn chưa phát hiện được”.

Một thời gian ngắn sau đó vào khoảng tháng 12/1966, chúng tôi đã tuyển mộ được một mật báo viên từ trong chùa, do đó chúng tôi phát hiện người mà Hoàng Kim Loan thường đột nhập vào chùa để tiếp xúc chính là ông Đôn Hậu. Ngoài ra cũng từ mật báo viên nầy chúng tôi phát giác Bà Tuần Chi tức Đào Thị Xuân Yến là cơ sở quan trọng của Hoàng Kim Loan, và bà ta cũng được cộng sản cài vào, và là tình nhân của ông Đôn Hậu.

Tôi phúc trình lên cấp cao hơn mọi sự việc, sau đó chúng tôi quyết định mở chiến dịch xâm nhập. Công việc đang tiến triễn tốt đẹp thì Mậu Thân 1968 xảy ra.

2:32 giờ đêm mồng một, rạng sáng ngày mồng hai Tết Mậu Thân, 10,000 quân Cộng Sản tấn công và chiếm Huế, trong số 10,000 quân nầy có 4700 quân chính quy, số còn lại là du kích, và đám cơ sở nội thành.
Số cơ sở nội thành nầy, đại đa số là thành phần tranh đấu năm 1966 của ông Trí Quang và Đôn Hậu, chúng thoát ly lên mật khu 1966 nay từ rừng xanh trở lại Huế và họ đã biến Cố Đô Huế thành một địa ngục có thật tại trần gian trong 26 ngày, hay là 624 giờ đau thương mà tính đến hôm nay, Mậu Thân là lịch sử thảm khốc nhất của Huế, đau đớn nhất Miền Nam, do bọn cộng sản chính quy và bọn tranh đấu nằm vùng gây ra

Sáu giờ sáng ngày mồng hai Tết Mậu Thân 1968, dân chúng Huế kinh hoàng khi nhìn lên kỳ đài Ngọ Môn, lá cờ vàng thân yêu không còn nữa, mà thay vào đó là lá cờ rất lạ, có 3 mảnh: hai bên màu xanh, giữa màu đỏ có ngôi sao vàng. Cờ này hoàn toàn không phải của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (vì cờ của MTGPMN chỉ có hai mảnh: nửa xanh nửa đỏ, giữa có sao vàng), cũng không phải cờ đỏ sao vàng của Cộng Sản Hà Nội. Đó là cờ của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình do Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ thị cho Trung Tướng Việt Cộng Trần Văn Quang Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên cũng là Tư Lệnh Chiến trường Trị Thiên, và Lê Chưởng Chính Ủy mặt trận Trị Thiên thành lập, phong ông Lê Văn Hảo làm chủ tịch, ông Đôn Hậu làm phó chủ tịch, trước khi bọn chúng tấn công Huế. Đây là một tổ chức chính trị thứ 2 sau tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Nhiệm vụ của tổ chức nầy là phát động một cuộc Tổng Nổi Dậy của quần chúng Huế, khi lực lượng quân sự của VC tràn vào, nhằm thi hành một xảo thuật chính trị là đánh lừa dư luận trong nước và quốc tế rằng: Cuộc chiến tranh miền Nam là do chính dân chúng Miền Nam và những thành phần trí thức, tôn giáo, vì bất mãn với Ngụy Quyền, Ngụy Quân và đế quốc Mỹ mà tự phát động cuộc Tổng Nỗi Dậy. Chính vì vậy, những người như ông Đôn Hậu, Lê văn Hảo, Đào thị Xuân Yến, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân v.v đã được chúng bảo vệ tối đa để sử dụng làm những viên gạch lót đường cho chiêu bài “Người Dân Miền Nam Tổng Nỗi Dậy” này

Cuộc Tổng nổi dậy trong Mậu Thân 1968 tại Huế được giao cho Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình đảm trách, và sử dụng một lực lượng quân sự gần 10,000 quân, gồm quân chính quy, du kích, và đông đảo nhất là đám nằm vùng mà bọn chúng phong là Quần Chúng Cách Mạng.

Vì chiến thuật, chiến lược, và mánh lới chính trị đó, nên trong suốt 26 ngày chiếm Huế, lá cờ duy nhất đã treo trên kỳ đài Ngọ Môn chỉ là cờ của Lực Lượng Liên Minh, Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Binh mà thôi, nói một cách nôm na, đó chính là: cờ của ông Đôn Hậu và Lê văn Hảo

Vậy, Lực Lượng Liên Minh, Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình tại Huế là do cộng sản đạo diễn, nhưng những diễn viên địa phương gồm những ai?

Sau đây là các diễn viên chính:

1- Chủ Tịch : Giáo sư Lê văn Hảo
Lê văn Hảo là Giáo sư Nhân chủng Học của trường Đại Học Huế.

2- Phó chủ Tịch: Hòa Thượng Thích Đôn Hậu
Ông Thích Đôn Hậu là Chánh Đại Diện Phật Giáo miền Vạn Hạnh. trù trì chùa Linh Mụ.

3- Tổng Thư Ký: Giáo sư Trung học Hoàng Phủ Ngọc Tường.

4- Phụ trách trí thức, học sinh, sinh viên: Nguyễn Đắc Xuân

Tuy thực chất chỉ là những con cờ của Đảng Cộng Sản, nhưng hẳn công luận phải đồng ý rằng, những con cờ đó, những người Miền Nam đó, đã từng say mê và hoạt động điên dại hết lòng hết sức cho cộng sản. Và nếu không phải là người thực thụ của chúng, bọn cộng sản có thể tin tưởng để vào những chức vụ này không?

Hãy nhìn các hoạt động điên cuồng man rợ của các tên đồ tể nằm vùng Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn thị Đoan Trinh v.v trong một hệ thống kết nối chặt chẽ với các ông Đôn Hậu, bà Tuần Chi, Lê văn Hảo, thì sẽ có câu trả lời là các ông Đôn Hậu, Lê văn Hảo, Tuần Chi có làm cộng sản hay không, có chịu trách nhiệm vụ Mậu Thân Huế hay không!

Điều đau lòng nhất không phải chỉ lực lượng cán binh Bắc Việt giết đồng bào Huế, mà còn là người Huế nằm vùng giết người Huế, giết rất dã man, chẳng hạn Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn thị Đoan Trinh, Nguyễn Đắc Xuân v.v…

Ngoài ra trong những ngày đầu chiếm Huế những người trong tổ chức Liên Minh, Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình này cũng đã được Bộ Tư Lênh Quân Khu Trị Thiên, thừa lệnh Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản, bổ nhiệm vào những chức vụ quan trọng trong chính quyền mới toanh của Thừa Thiên Huế mà Hoàng Kim Loan và Hoàng Lanh vừa thành lập, và đây danh sách chính quyền cách mạng tại Huế:

1. Chủ tịch ủy ban Nhân Dân Thừa Thiên-Huế: Giáo Sư Lê Văn Hảo.

2. Phó chủ tịch Ủy ban Nhân Dân Thừa Thiên-Huế: Bà Đào Thị Xuân Yến tức bà Tuần Chi, nguyên Hiệu Trưởng trường nữ trung học Đồng Khánh Huế, người cực kỳ thân cận với ông Đôn Hậu vì nhiều lý do.

3. Chủ tịch Tòa án Nhân Dân tại trường Gia Hội: Giáo sư Hoàng Phủ Ngọc Tường.

4. Trưởng Ban An Ninh và bảo vệ Khu Phố: Nguyễn Đắc Xuân.

Thế nhưng, những ước tính và kế hơạch phát động quần chúng Tổng Nỗi Dậy tại Huế của Hồ Chí Minh và bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam đã thất bại hoàn toàn: bọn Việt Cộng đến đâu, dân chúng Huế kinh sợ bỏ chạy đến đó, chạy bán sống bán chết để về với quân đội quốc gia VNCH.

Còn nhớ trong ngày mồng hai, mồng ba Tết, tại Quận I và Quận II thị Xã Huế chính đích thân Nguyễn Đắc Xuân và toán An Ninh Bảo Vệ Khu Phố của y đã đi từng nhà một kêu gọi “dân chúng treo cờ của Lực Lượng Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình của Ôn lên!” (Ôn Đôn Hậu), nhà nào không có thì lấy cờ Phật Giáo treo lên!”

Câu nói này của Nguyễn Đắc Xuân dân Huế đều biết, có chối cũng bằng thừa!

Nhưng dân chúng chẳng ai hương ứng cả. Cờ của dân chúng Huế là cờ vàng 3 sọc đỏ. Còn “Cờ của Ôn”, tức là cờ 3 mảnh : 2 mãnh màu xanh 1 mãnh màu đỏ giữa có ngôi sao vàng, của LMDTDCHB là điều lịch sử không thể phủ nhận! Ôn không thể chối đó không phải là cờ của Ôn!

Nguyễn Đắc Xuân cũng đã xác nhận chuyện “mọi người treo cờ của Ôn lên, hay lấy cờ Phất Giáo treo lên!”, trong cuốn hồi ký của chính y.

Thế thì, thưa quý vị, qua nguyên văn lời ra lệnh của Nguyễn Đắc Xuân, “Cờ của Ôn”, quý vị thử nghĩ, ông Đôn Hậu có hoạt động cộng sản, có dính liếu vào vụ Mậu Thân không?

Và Nguyễn Đắc Xuân cũng đã xác nhận trong nhiều bài viết từ sau năm 1975 rằng ông Đôn Hậu hoạt động cộng sản đồng hội đồng thuyền đồng nhóm với y.

Kế hoạch “Tổng Nỗi Dậy” bị thất bại, Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng Cộng Sản Việt Nam cho lệnh thi hành “Biện Pháp Bạo Lực Cách Mạng”, hay “Biện Pháp Đỏ” để răn đe dân chúng Huế.

Kết quả của “Biện Pháp Đỏ”, dưới danh nghĩa Lực Lượng Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình, là 5327 thường dân vô tội bị thảm sát bằng cách cột thành chùm, đập đầu chôn sống, và 1200 người bị dẫn đi mất tich.

Sau 26 ngày chiếm Huế, lực lượng quân sự lẫn chính trị của Việt Cộng thảm bại, rút lui trước sự phản công ồ ạt của Quân Lực VNCH và Đồng Minh, nhưng bọn cộng sản Việt Nam và lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, con đẻ của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam, con nuôi của các ông Đôn Hậu, Lê văn Hảo, đã để lại cho thành phố Huế, cho đồng bào một nghĩa trang lớn với những tang tóc đau thương, oan nghiệt ngút tận trời xanh. Huế sau Mậu Thân là một dải khăn tang trắng từ thành phố lên đến Ba Đồn, nơi mồ chôn tập thể của 5327 thường dân vô tội bị sát hại bởi bản chất sát máu và lòng hận thù của những người Cộng Sản, và của những tên nằm vùng người Huế trong lực luợng liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình như:

Nguyễn Đắc Xuân, Phan Duy Nhân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh, và còn cả hằng trăm, hàng ngàn những cơ sở nội thành VC khác, mà đại đa số chúng là những kẻ chủ chốt trong vụ tranh đấu năm 1966 của Ông Trí Quang, Đôn Hậu, thoát ly lên Mật khu khi cuộc tranh đấu thất bại, nay theo quân Việt Cộng trở lại Huế, trút mối hận xưa lên đầu người dân vô tội.

Trong những ngày binh lửa tại Huế và rồi một thời gian sau đó, đồng bào Phật Tử rất lo âu không hiểu “Ôn” Đôn Hậu Ở đâu? Ôn Đôn Hậu ở đâu?

Phật giáo đồ Huế đang tìm kiếm, hỏi thăm tin tức, nhưng chẳng ai biết “Ôn ở mô?”, thì bỗng nhiên, thật ngơ ngác bàng hoàng khi nghe lời kêu gọi của “Ôn” trên đài phát thanh Hà Nội gởi Phật Giáo đồ và đông bào Huế nội dung là:

“Hãy đoàn kết dứng dậy chống lại chính phủ miền Nam, chống lại Ngụy quyền, Ngụy quân và Đế quốc Mỹ”.

Chính là ôn chớ không ai khác! Giọng nói chính là của ôn Linh Mụ chớ không ai khác!

Dân chúng Huế xôn xao, kẻ thì nói Ôn bị Việt Công bắt đi, người thì nói “Ôn là Việt Cộng!”

Đến tháng 5 năm 1972 khi chúng tôi bắt được tên Trung Tá VC Hoàng Kim Loan thì các giả thuyết “Ôn Đôn Hậu bị Việt Cộng bắt đi ra Bắc”, hay “Ôn tình nguyện ra đi”, đã được xác quyết .

Lời khai của Hoàng Kim Loan về chuyện này đã được thẩm tra đi thẩm tra lại rất kỹ. Trưởng Trung Tâm Thẩm vấn, Trung úy Hồ Lang, phó Trung Tâm Thẩm Vấn, Trung Úy Nguyễn Thế Thông, Thiếu Tá Trương Công Ân, phó đặc biệt, và tôi thay phiên nhau cũng như phối hợp điều tra. Sau đó, vì sự việc quá quan trọng và quá lớn, tôi yêu cầu phía tình báo Hoa Kỳ CIA giúp kiểm chứng thêm bằng máy đo sự thật. Hồ sơ dày cộm này, bao gồm cả kết quả của máy đo sự thật, được chuyển y về Trung Ương, đích thân Thiếu Tá Trương Công Ân bay vào Sài Gòn, trình Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư lệnh CSQG, Đặc Ủy Trưởng, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, kiên Tổng Thư Ký Hội Đồng An Ninh Tình Báo Quốc Gia hồ sơ nội vụ. Thiếu Tá Trương Công Ân hiện đang sống tại Bolsa, California

Các nhân chứng nêu trên, đã đích thân lấy khẩu cung Hoàng Kim Loan, bằng những kỹ thuật thẩm vấn điêu luyện nhà nghề, cũng như phối kiểm các bằng chứng, các sự kiện liên quan mà chúng tôi theo dõi đã lâu trong vụ án nằm vùng quá lớn này, hiện đang sống tại Hoa Kỳ, tiểu bang Kansas và California, nếu ĐLHT Quãng Độ và ông Võ Văn Ái muốn đối chất, tôi sẽ cung cấp số phone của họ, để 3 mặt một lời, để công khai minh bạch hóa một sự thật đã bị cố tình che dấu.

Tôi xin nêu tóm tắt lý lịch của tên Trung Tá điệp viên Cộng Sản để hai vị có thể đánh giá lời khai của y có mức độ khả tín và quan trọng thế nào. Thêm nữa, việc nhân vật Hoàng Kim Loan có thật hay không, xin hai vị liên lạc với tôi để phối kiểm với nhiều nhân viên tình báo VNCH có thẩm quyền khác, đã từng thẩm vấn Hoàng Kim Loan, thuộc vùng I, ngoài tôi. Bởi vì, vụ Hoàng Kim Loan là một vụ án nằm vùng lớn nhất tại Huế, có thể nói vụ án nằm lớn vùng nguy hiểm nhất tại Miền Nam, nên ngoài BCH/CSQG/TT-HUẾ và tôi ra, còn có nhiều giới chức thẩm quyền khác, không thuộc ty CSQG TT/Huế thẩm vấn y

Tiểu sử Hoàng Kim Loan:

Hoàng Kim Loan sinh 1920 tại xã Phong An, Quận Phong Điền Tỉnh Thừa Thiên.
- Tham gia phong trào Việt Minh tại Xã Phong An, Phong Điền Thừa Thiên.
- Tháng 10 năm 1944: được kết nạp vào đảng Cộng Sản Đông Dương.
- Tháng 6/1945: được đảng phân công vào thành phố Huế, hoạt động trong phong trào học sinh Huế. Đã cùng với Tố Hữu tham gia tổ chức cuộc biểu tình trước cửa Ngọ Môn yêu cầu Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị.
- 1946: Cán bộ cao cấp thuộc Tổng Cục Quân Báo. Trực thuộc Bộ Quốc Phòng. Địa bàn họat động thành phố Huế. Trách nhiệm: xây dựng cơ sở bí mật.
- Đình chiến 1954, với chức vụ Thành ủy viên Thành Ủy Huế. Trưởng cơ quan Điệp Báo thành phố Huế, phụ trách Trí Vận và Tôn Giáo Vận. Đương sự được chỉ thị bí mật ở lại Huế để họat động.
- 1959 được phong quân hàm Trung Tá.
- 1963-1966 hoạt động chặt chẽ với Trí Quang, Đôn Hậu, Thiên Siêu, Chánh Trực trong công tác phát động quần chúng nỗi dậy đấu tranh lật đổ Đệ I Cộng Hòa, và vụ phản loạn năm 1966, với chiêu thức Bàn Thờ Phật Xuống Đường tại Huế.

Mậu Thân 1968, phụ trách Tổng khởi nghĩa tại Huế. Phụ trách thành lập Lực Lượng Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình, đồng thời cũng phụ trách tổ chức chính quyền Cách Mạng tại Huế.
- 1969 Giữ chức Thường Vụ Thành ủy Huế
- 1969 giữ chức vụ trưởng cơ quan Điệp Báo Quân Khu Trị Thiên Huế.
- Tháng 5/1972 bị lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế bắt sống tại Vỹ Dạ, Thừa Thiên-Huế.

Theo Hoàng Kim Loan khai, thì Ông Thích Đôn Hậu là cơ sở tôn giáo vận của y từ trước 1963. Trong vụ lật đổ Đệ I Cộng Hòa và vụ phản loạn vào tháng 6/1966 của Ông Trí Quang tại miền trung đặc biệt là tại Huế, thì y được lệnh của Tổng Cục Tình báo chỉ thị phối hợp làm việc chặt chẽ với Trí Quang, Đôn Hậu, Thiện Siêu, Chánh Trực thực hiện hai công tác này.

Ngoài ra, để kiểm chứng lời báo cáo của mật báo viên của ty CSQG TT/Huế cài tại chùa Linh Mụ, chúng tôi có thẩm tra Hoàng Kim Loan về quan hệ tình ái giữa ông Đôn Hậu và bà Tuần Chi, Hoàng Kim Loan xác nhận là có. Và chúng tôi cũng điều tra ngược lại, hỏi Hoàng Kim Loan rằng phải chăng đây là chiêu “mỹ nhân kế” có tính toán, mà các anh sử dụng để điều khiển và khống chế đối tượng? Hoàng Kim Loan cũng không ngần ngại chấp nhận đó là một trong những chiến thuật của cộng sản

Việc thoát ly ra Bắc của Ông Đôn Hậu trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế là tự nguyện hay bị bắt buộc?
Ông Thích Đôn Hậu có phải là Cộng Sản hay không?

Theo Hoàng Kim Loan khai, việc thoát ly của ông Đôn Hậu ra Bắc không là một chuyện tình cờ hay ép buộc gì cả, vì trước Tết Mậu Thân, Hoàng Kim Loan đã trình bày rất kỹ lý do sự cần thiết của ông Đôn Hậu cho sách lược tuyên truyền quốc tế của cộng sản, và vì vậy, là một vũ khí chính trị lợi hại của Đảng. Do tầm quan trọng của ông Đôn Hậu đối với sách lược chống Mỹ Thiệu của Đảng, nên ông Đôn Hậu đã đồng ý ra Bắc cùng với một số cơ sở trí vận, tôn giáo vận tại Huế, cùng đi, dĩ nhiên có bà Tuần Chi. Với số nhân sự thập loại thành phần, giới nào cũng có, gốc gác Miền Nam này, chính phủ Cộng Sản Hà Nội đã thành lập một “phái đoàn đại diện cho dân chúng Miền Nam” xuất ngoại truyên truyền với thế giới rằng cho cuộc chiến của “nhân dân Miền Nam” là cuộc chiến mà Nhân Dân Miền Nam tự nổi dậy, chống bè lũ ác ôn Mỹ Ngụy đàn áp tôn giáo, đàn áp trí thức đối lập, đàn áp sinh viên học sinh, đàn áp dân chúng. Rằng chính quyền Miền Nam là một chính quyền phi nghĩa, kiểu Diệm mà không Diệm!

Hành động như vậy, toàn bộ nhóm nằm vùng Miền Nam gốc Huế thi hành nhiệm vụ quốc tế này, kể cả ông Đôn Hậu, đã bất chấp đức công bằng, chà đap lên sự kiện là cả hai chính quyền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa đều do đa số dân bầu ra, ngoại trừ một thiểu số chống đối như họ,dĩ nhiên, bỡi vì, chính họ là cộng sản nằm vùng! Cho dù là các người này không thích chính quyền Miền Nam, nhưng họ phải chấp nhận rằng 2 chính quyền VNCN là chính quyền hợp pháp được đa số dân chúng tin nhiệm và giao phó trách nhiệm điều hành quốc gia. Dân chúng không giao quyền điều hành quốc gia cho ông Đôn Hậu, Trí Quang. Họ đã phản loạn đi rêu rao với quốc tế là chính quyền Miền Nam là chính quyền phi nghĩa. Họ đã chà đạp lên những lá phiếu của đa số dân chúng

Như vậy, chiếu theo luật pháp các nước dân chủ, những người này, những kẻ gọi là phong trào Phật Giáo Tranh Đấu, mà thực chất là cộng sản lãnh đạo giật dây từ xa, cả ông Đôn Hậu Trí Quang, đã chà đạp lên kết quả 2 cuộc bầu cử, đã vi phạm luật pháp quốc gia, đã phản loạn theo địch

Những thành phần đại diện trí thức, tôn giáo phản loạn được tuyển chọn rời Huế ra bắc gồm có:

1- Lê Văn Hảo
Giáo sư nhân Chủng Học thuộc viện Đại Học Huế.
Chủ Tịch lực Lượng Liên Minh Dân Chủ hòa Bình.
Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên Huế (chính quyền do VC thành lập trong thời gian Tết Mậu Thân tại Huế)

2- Ông Thích Đôn Hậu
Chánh Đại Diện Phật Giao Ấn Quang Miền Vạn Hạnh (Miền Trung)
Ông Đôn Hậu là Phó chủ Tịch Lực Lượng Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình (trong thời gian Mậu Thân tại Huế.)

3- Bà Đào thị Xuân Yến tức bà Tuần Chi.
Bà Đào thị Xuân Yến nguyên Hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Đồng Khánh Huế.
Bà Đào Thị Xuân Yến là phó chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên-Huế.

4- Giáo sư trung học Tôn Thất Dương Tiềm

5- Giáo sư Nguyễn Thúc Tuân

Đây là một cuộc ra đi có tính toán, sắp đặt của chính phủ Cộng Sản Hà Nội, và đồng thời cũng có sự hưởng ứng đồng tình của ông Đôn Hậu, chứ không như một số phật giáo đồ và ĐLHT Thích Quãng Độ cũng như GS Võ văn Ái nghĩ. Sau này, nếu có sự việc ông Đôn Hậu đòi về Miền Nam, thì cũng quá dễ hiểu, bởi vì: ông đã nếm mùi cộng sản và ông chống đối việc cộng sản quyết tâm hòa nhập GHPGVNTN vào với GH quốc doanh. Nếu cộng sản cho ông hoạt động độc lập, không bắt ép GHPGVNTN, vào với Đảng, có lẽ, ông đã không chống Đảng.

Ông đã Ngộ thế nào là thiên đường cộng sản, kính thưa ĐLHT, thưa ông Võ Văn Ái!

Câu chuyện Ông Thích Đôn Hậu đã bị một toán Việt Cộng dí súng Ak vào lưng dẫn đi là một câu chuyện hoang đường, tự biên tự diễn, tự giả đoán để bảo tồn danh tiếng của một thần tượng. Không ai trong nhóm đưa ra lý thuyết này có mặt trong ngày hôm ông Đôn Hậu ra đi, họ chỉ nghe đương sự kể lại. Họ cũng không là giới chức có thẩm quyền có liên hệ, để có thể biết chắc chắn và phát biểu một cách tương đối nghe được

Còn chúng tôi, BCH lực lượng CSQG TT/Huế đã bám sát Hoàng Kim Loan từ lâu, và khi cài được mật báo viên vào trong chùa Linh Mụ, thì với tin đồn “ Ôn bị Việt Cộng bắt đi” chúng tôi chỉ phì cười. Ôn đi ra Bắc để chiêm ngưỡng Bác Hồ chứ đi đâu! Ôn hoạt động chung với Hoàng Kim Loan mà sao nói là Đảng bắt buộc Ôn đi? Oan cho Đảng quá!

Và lời khai khi bị điều tra của Hoàng Kim Loan chỉ là một việc xác nhận cuối cùng của những kẽ trong cuộc đồng hội đồng thuyền với ông Đôn Hậu

Tóm lại, nhóm đưa ra giả thuyết ông Đôn Hậu bị Việt Cộng bắt đi không thể nào thuyết phục được những người có sự suy nghĩ khoa học, hữu lý, độc lập, rạch ròi và công bằng, và dĩ nhiên, sẽ không bao giờ thuyết phục đươc lịch sử. Bởi vì, phía bao che cho ông Đôn Hậu chẳng đưa ra được một bằng chứng, một sự kiện, để chứng minh một cách hữu lý. Tất cả chỉ là một lời tuyên bố suông, kiểu của các can phạm thường sử dụng để chối tội, như sau:

Ông Đôn Hậu đã nói rằng ông ta bị Việt Cộng bắt đi!

Ông Lê văn Hảo cũng tuyên bố như vậy!

Rồi Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân cũng tuyên bố kiểu như vậy là không tham gia vụ giết người tập thể Tết Mậu Thân

Thưa quý vị, có một câu nói rất dân gian là: Có ai chịu cha ăn cướp?

Có ai có chút máu mặt trong giới lãnh đạo tôn giáo Miền Nam từng hoạt động cộng sản dám nhận mình là cộng sản?

Trí Quang có nhận mình làm cộng sản hay không?

Câu trả lời là bằng chứng tìm thấy, chứ không phải là những lời tuyên bố suông “Tôi không làm cộng sản, tôi bị cộng sản bắt”!

Các ngài đã bán mình cho cộng sản, Nhưng đâu dễ chối tội như vậy?

Quý vị dễ dàng chứng minh ông Đôn Hậu đã bị Việt Cộng bắt như vậy sao? Người dân Miền Nam có sự suy luận rạch ròi của họ.

Không phải cứ làm lãnh đạo tôn giáo tối cao là không thể làm cộng sản !

Kính thưa ĐLHT Thích Quang Độ, Thưa ông Võ văn Ái, trên đây là lời khai của Hoàng Kim Loan, người chúng tôi bắt được, sau đây là lời “không đánh mà khai” của các đương sự khác, đó là bà Đào Thi Xuân Yến tức bà Tuần Chi, Nguyễn Đắc Xuân, Đỗ Trung Hiếu. Những người này LL CSQG không bắt được, có nghĩa là LL CSQG 100% không thể nào dựng chuyện được, nhưng họ đã “không đánh mà khai” sau 1975 như sau:

Thứ nhất, lời “không đánh mà khai” của bà Tuần Chi

Không hiểu hai vị đã có đọc cuốn hồi ký của bà Đào thị Xuân Yến tức Bà Tuần Chi kể lại chuyện ra đi của Ông Thích Đôn Hậu cùng bà ta và phái đoàn trí thức miền Nam ra bắc?, trên đoạn đường thơ mộng của núi rừng trường sơn ngút ngàn hay chưa? Tôi chắc là Hòa thượng chưa đọc, cũng như một số người dân Miền Nam chưa đọc, nhưng có lẽ ông Võ Văn Ái đã đọc. Đó là cuốn hồi ký : Cành Hoa Trắng, do bà Tuần Chi viết

Sở dĩ bà ta lấy tên cuốn hồi ký là Cành Hoa Trắng vì trong khi di chuyển trên đường núi rừng Trường Sơn để đến với Bác và Đảng, bà ta đã đánh rơi chiếc ví dựng tiền của mình. Một nữ cán bộ cộng sản đã nhặt được và giao trả lại cho bà, cảm kích vì hành động trong trắng của người nữ cán bộ bác Hồ, bà Tuần Chi liền ví tấm lòng nữ cán bộ bác Hồ đó là cành hoa trắng, nên đã dùng hình ảnh này làm tựa đề cho cuốn sách, cũng là có ý đề cao các bộ cộng sản có tấm lòng trong trắng như thế

Trong hồi ký Cành Hoa Trắng đó, bà Đào thị Xuân Yến nói rằng:

“Ôn được ra Bắc chữa bệnh, vì thời gian ở Huế, Đế quốc Mỹ đã rãi chất độc khai quang trên rừng, nước sông Huơng bị nhiễm chất độc đó. Ôn Đã uống nuớc sông Hương, bị nhiễm độc nên hộc máu, vì thế Ôn ra Bắc để chữa bệnh.”

Có ai ở xứ Huế, có bác sĩ nào ở Huế thời ấy biết gì về căn bệnh uống nước sông Hương mà hộc máu không?

Ngoài ngài Đôn Hậu ra, có người dân thường lam lũ nào uống nước sông Hương mà bị hộc máu phải ra Bắc chữa bệnh không?

Rồi tôi tự hỏi, không biết bà Tuần Chi có bị bịnh hộc máu đó không nhỉ? Mà cũng đi với ông Đôn Hậu?

Có lẽ các bệnh viện của Miền Nam không đủ trình độ chữa bệnh cho ngài Ôn Linh Mụ, nên Ôn phải vượt Trường Sơn ra Bắc chữa bệnh, tiện thể, Ôn diện kiến bác Hồ kính yêu, giúp Bác tuyên truyền tội ác đàn áp tôn giáo, bách hại Phật Giáo, đàn áp nhân dân của “Mỹ- Diệm- Thiệu” cho nhân dân thế giới biết?

Quả là lời phát biểu của một vị Hiệu Trưởng trường trung học! Mới thấy, những kẽ mê theo cộng sản, cái gì cũng có thể nói, để kết tội Mỹ Ngụy, mà không kể đúng sai hay là bá láp, cho dù là người có học, đã từng là hiệu trưởng một trường nữ trung học nỗi tiếng của Miền Nam

Nhưng điều đáng nói ở đây, cho dù là viện cớ nước sông Hương có độc, bà ta đã thành thật nói rằng “Ôn được ra Bắc chữa bệnh”.

Thiết nghĩ, lới phát biểu của chính bà Tuần Chi, tình nhân ông Đôn Hậu, đã quá đủ để trả lời ĐLHT Thích Quảng Độ và ông Võ Văn Ái câu hỏi: ông Đôn Hậu có phải là cộng sản?

Thứ 2, lời “không đánh mà khai” của Nguyễn Đắc Xuân:

Xuân cũng là đệ tử của ôn Trí Quang Đôn Hậu, mới đây vào tháng 10/ năm 2009, trên nhiều báo, đặc biệt là báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam như sau:

Xuất thân trong các cuộc vận động của Phật giáo (1963-1966), thời đi theo kháng chiến (1966-1975), tôi có nhiều dịp chuyển thư từ, hình ảnh của Hòa thượng Thích Đôn Hậu và bà con Phật tử tập kết ngoài miền Bắc vào cho các chùa và đồng bào theo Đạo Phật ở Huế.

Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, tôi được Thành ủy Huế mời đóng góp bài cho cuốn sách Bác Hồ trong lòng dân Huế. Trong tay tôi đã có sẵn bài “Ba lần được gặp cụ Hồ” của Hòa thượng Thích Đôn Hậu, mà tôi đã ghi được ngay sau ngày Việt Nam thống nhất, tôi xin bà Tâm Hải Đào Thị Xuân Yến (tức bà Nguyễn Đình Chi) đệ tử của Hòa thượng Thích Đôn Hậu bổ sung thêm bài Vinh dự lớn lao. Bà Tâm Hải bảo tôi: Sư bà Thích Nữ Diệu Không rất quý trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên xin gặp Bà và đề nghị Bà viết cho một bài. Tôi đến xin gặp Sư bà ngay nhưng lúc ấy Sư bà không có ở Huế.

Xin quý vị cho ý kiến về lời tự tình của Nguyễn Đắc Xuân về Ôn Linh Mụ làm gì ngoài nớ, về việc Ôn “3 lần được gặp cụ Hồ”

Thứ 3, lời “ không đánh mà khai” của Đỗ Trung Hiếu

Đỗ Trung Hiếu là ủy viên quan trong trong Ủy Ban Tôn Giáo Chính Phủ, xuất thân trong phong trào Phật Giáo Tranh Đấu tại Khánh Hòa, 1962-1963, thành viên Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc, sau 1975, hiện nguyên hình là đảng viên cộng sản, phụ trách Tôn Giáo Vân. Năm 1990, Ngộ, nên bỏ Đảng và chống Đảng, lời “khai” như sau:

Hòa thượng Thích Ðôn Hậu, chánh thư ký Viện Tăng thống GHPGVNTN, thoát ly vào chiến khu trong dịp Tết Mău Thân (1968), tham gia Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt-Nam với tư cách phó chủ tịch và chủ tịch là Luật sư Trịnh Đình Thảo. Sau giải phóng hòa thượng gởi kiến nghị đến tổng bí thư Ðảng Lê-Duẫn, chủ tịch Nước Tôn-Ðức-Thắng, chủ tịch Quốc hội Trường-Chinh và thủ tướng Phạm-Văn-Ðồng về việc thống nhất Phật giáo Việt Nam. Hòa thượng nói rõ : "Khi đất nước bị xâm lược tôi làm nghĩa vụ công dân, nay đất nước độc lập, tôi trở lại chu toàn việc Ðạo, và trước hết là vận động cho công cuộc thống nhất Phật giáo Việt-Nam". Về nguyên tắc các nhà lãnh đạo Ðảng Cộng sản và Nhà nước Việt-Nam đồng ý. Nhưng đi vào cụ thể thì không chấp nhận quan điểm thống nhất Phật giáo của hòa thượng Ðôn-Hậu.

Xin được giải thích thêm về luật sư Trịnh Đình Thảo: Y là chủ tịch lực lượng LMDTDCHB tại trung ương Hà Nội, phó chủ tịch là ông Đôn Hậu. Tại địa phương Huế, Lê văn Hảo giữ chức chủ tịch, ông Đôn Hậu kiêm luôn phó chủ tịch tại Huế

Với những thông tin trên từ cựu đảng viên quan trọng phụ trách tôn giáo vận trung ương Đỗ Trung Hiếu, xin nhường lời lại cho công luận đánh giá, thử xem ngài Đôn Hậu có phải cộng sản? và tại sao ngài sau này lại không ưa Đảng?

Với 3 nhân vật tiêu biểu, cả ba đều hoạt động cộng sản, nhất là bà Tuần Chi, người mà không ai có thể biện minh không là cộng sản nằm vùng, bà ta đã cùng chung bước đường Trường Sơn với ngài Đôn Hậu. Ngoài Hoàng Kim Loan ra, các kẻ này đã giấy trắng mực đen xác nhận ông Đôn Hậu tự ý thoát ly theo cộng sản, thì ĐLHT Quảng Độ và ông Võ Văn Ái cũng như công luận đánh giá sao cho công bình đây? Công luận nghe họ, hay nghe lời một bà vớ vẫn không chân dung nào đó trong rừng, hay nghe lời “tâm sự” chối tội suông của ông Đôn Hậu sau khi sự việc đã rồi?

Thưa, không dễ chối tội kiểu như vậy thưa ngài Đôn Hậu! Ngài có thể tâm sự nói thế này thế nọ với những người không biết gì hết hầu cận quanh ngài, nhưng tôi chắc ngài không thể chạy tội trước BCH/CSQG/TT/HUẾ, cũng như các tên Nguyễn Đắc Xuân, Đỗ Trung Hiếu, bà Tuần Chi. Họ đã lạy ông tôi ở bụi này hết rồi


Tóm lại tôi đã đưa ra khá đầy đủ về thân thế, những liên hệ và hoạt động của Ông Đôn Hậu với Cộng Sản, nhất là liên hệ chặt chẽ của ông ta với tên trung tá điệp viên cộng sản Hoàng Kim Loan tài ba ma mãnh, kiến trúc sư của mọi biến loạn tại Huế trước 1972 cùng tên tuổi của những nhân chứng còn sống biết chuyện ông Đôn Hậu làm cộng sản, ĐLHT Thích Quảng Độ và ông Võ Văn Ái cần tôi chứng mình gì thêm không?

Kết luận như đinh đóng cột của BCH/CSQG/TT-HUẾ và cá nhân tôi từ trước 1975, cho đến bây giờ vẫn là: ông Đôn Hậu là cộng sản. Chuyện đơn giản như 2 cộng 2 là bốn.

Rõ như ban ngày, chỉ có những người không thể chấp nhận việc thần tượng bị xóa xổ, mới cố gắng lừa dối công luận và lừa dối chính mình. Họ cho rằng ông Đôn Hậu không là cộng sản bởi vì ông Đôn Hậu không thể là cộng sản, đơn giản là như vậy, và cố gắng chối bỏ những sự kiện quá rành rành cho thấy ông ta là cộng sản

Nhưng công luận có quyền của công luận:

Ông Thích Đôn Hậu hoạt động cho Cộng Sản trong nhiệm vụ mà Cục Tình Báo Chiến lược VC giao phó, qua tên Trung Tá điệp viên Cộng Sản Hoàng Kim Loan, nhiệm vụ được giao cho là Tôn Giáo Vận. Thực chất của Tôn Giáo Vận là gì? đó là: Lợi dụng màu áo tu hành, lợi dụng chức vụ, lợi dụng lòng tôn kính của phật tử để hoạt động theo chỉ thị của đảng cộng sản mà thôi.

Và vì thế, sự ra đi của Ông đôn Hậu trong Mậu Thân 1968 không là ép buộc, và ông Đôn Hâu đồng ý đi ra Bắc để lãnh nhận nhiệm vụ quan trọng hơn: là xuất ngoại với tư cách là đại diện cho quần chúng Miền Nam truyên truyền chính nghĩa cho cuộc xâm lăng của Cộng sản tại Miền Nam Việt Nam và từ đó xin viện trợ, chiến tranh phí cho Cộng Sản Hà nội, đồng thời tạo lý do cho bọn nhà báo phản chiến thiên cộng phương tây tấn công lên án chính quyền VNCH là chính quyền phi nghĩa, là chính quyền đàn áp tôn giáo. Còn ai có thể có uy tín hơn, ép phê hơn, là một nhà sư có tiếng của Miền Nam tố cáo chính phủ Miền Nam đàn áp tôn giáo? Dư luận lên cao có lợi cho cộng sản đến độ đưa đến việc bọn phản chiến được bầu vào quốc hội mùa thu năm 1974, bọn này cắt viện trợ cho Miền Nam và Cambodge, khai tử Miền Nam

Tất cả điều này đều nằm trong chiến lược và chiến thuật của cộng sản, và ông Đôn Hậu cùng đồng bọn ra đi theo đường Trường Sơn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng giao phó, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cũng vậy!

Gần đây, khi đi thuyết trình nhiều nơi về cuốn Biến Động Miền Trung, từ các tiểu bang tại Hoa kỳ, sang đến Úc châu, và Âu Châu, thỉnh thoảng tôi cũng nghe một vài thính giả, độc giả, mà đa số họ là Phật tử người Huế nói rằng:

“Mậu Thân 1968 Ôn Đôn Hậu đã bị một tiểu đội Việt Cộng vào chùa dí súng bắt Ôn đi, chứ không phải Ôn đi theo Việt Cộng mô!”.

Tôi hỏi lại, quý vi có thể chứng minh điều mà quý vị nói không?

Họ chỉ nói rằng tôi nghe người ta nói như vậy. Và cứ như thế, câu truyện truyền đi. Nhưng có một bà, đó là bà Tuần Chi, người kề cận nhất với Ôn, lại nói ngược: Ôn được ra Bắc chữa bệnh!

Sao mà lại có chuyện trống đánh xuôi, kèn thổi ngược như thế?

Ai cũng có thể thêu dệt ra huyền thoại Ôn nói thế này Ôn nói thế kia như thế!

Và Ôn cũng có thể thâu băng để lại tâm sự rằng Ôn đã bị Việt Cộng bắt như thế!

Thưa ĐLHT Thích Quảng Độ và ông Võ văn Ái! Sau khi Ôn đã nếm mùi cộng sản được 8 năm ngoài Hà Nội, thấy rằng, Đảng còn đày đọa Phật Giáo hơn cả Diệm Thiệu, những người mà một số vị lãnh đạo Phật Giáo và chính Ôn căm thù còn hơn cộng sản! rồi sau đó thấy rằng cộng sản còn tàn ác hơn cả Diệm Thiệu, cộng sản là tai họa cho quốc gia, mà chính Ôn cũng đã đóng góp trong việc giúp cho cộng sản xâm lăng đất nước, thì Ôn bắt đầu trở cờ chối tội.

Nhưng đã trễ cho Ôn rồi, cho tôi hỏi Ôn, cũng xin hỏi ĐLHT, hỏi ông Võ Văn Ái, quý vị nghĩ sao về phát biểu của bà Tuần Chi, người đã cùng ông chia xẽ đoạn đường Trường Sơn thơ mộng:

Ôn đã được ra Bắc chữa bệnh!

Tôi không thể ngờ rằng ĐLHT Thích Quảng Độ và ông Võ Văn Ái lại dễ tin đến như vậy, hay là hai vị cho rằng công luận chỉ là những đứa trẻ con, các vị nói sao người ta tin vậy?

Tôi xin nhắc lại câu nói thường tình cửa miệng: Không ai chịu cha ăn cướp!

Và Ôn cũng không thể chối cãi với các mật báo viên của ty CSQG/TT-Huế là Ôn không gặp gỡ Hoàng Kim Loan như cơm bữa

Và cuối cùng, Ôn Linh Mụ khó có thể đối chất với Trung Úy Đoàn Lang, Trung Úy Phan Thế Thông, Thiếu Tá Trương Công Ân, và với TT CSQG Liên Thành, tất cả hiện đang ngụ tại Hoa Kỳ, nếu như Ôn còn sống

Trở lại chuyện ông Võ Văn Ái nói rằng ông có hai cuốn băng thâu lời nói của ông Đôn Hậu về vụ ra Bắc của ông ta. Hai cuốn băng nầy là đủ bằng chứng chứng minh sự ra đi của ông Đôn Hậu trong Mậu Thân 1968 là bị bắt buộc ?!

Tuyệt vời! Thiên hạ cứ noi gương ngài Đôn Hậu, cứ việc làm cộng sản, sau đó thâu băng để lại rằng mình không làm cộng sản, là xong!

Ông Lê Văn Hảo cũng đã noi gương ngài Đôn Hậu, nói rằng bị cộng sản bắt. Sao cộng sản không bắt ông Lê văn Tí, Lê văn Tèo nào đó, mà lại bắt ông Lê Văn Hảo làm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố? Ty CSQG TT/Huế không hề ghi nhận được cá nhân nào tại Huế không làm cộng sản mà được cộng sản phong cho chức nọ chức kia cả

Tôi cũng xin trích ra đây, một đoạn trong hồi ký của Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang, nói về cảm nghĩ của ông khi gặp lại ông Đôn Hậu, Đệ tứ Tăng Thống cũng không thể chắc rằng ông Đôn Hậu ra đi là bị bắt buộc, hãy đọc một đoạn như sau của ĐLHT Huyền Quang:

“Tại cuộc họp nói trên, Viện Hóa Đạo khám phá ra chuyện bất ngờ. Nguyên do chư Tăng có thể khác ý kiến nhau về việc đời, nhưng việc đạo thì hợp nhất dưới ánh hào quang chư Phật. Lần đầu tiên tiếp xúc lại với Hòa Thượng Thích Đôn Hậu xa cách 8 năm trời kể từ năm Mậu Thân, chúng tôi có phần nghi ngờ không biết lập trường ngài cư xử với GHPGVNTN nay ra sao. Hòa Thượng còn nói tiếng nói của Phật Giáo hay nói thay cho chính quyền?”

Sau đó Đệ Tứ Tăng Thống đã vui mừng vì, về việc đạo, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu đối với GHPGVN cũng như xưa. Còn việc đời, Đệ Tứ Tăng Thống không dám nói gì cả

Đúng như thế!Việc đạo, ông Đôn Hậu chung với Đệ Tứ Tăng Thống, việc đời, ông Đôn Hậu là một người hoàn toàn khác. Ông tu hành nhưng đi theo cộng sản, đến khi chạm trán với bộ mặt thật của cộng sản, ông mới thấy rằng cộng sản là ác quỷ, ông mới thấy cộng sản đàn áp ông và giáo hội của ông gấp 30 lần bọn Mỹ- Diệm- Thiệu, theo như ông nhận xét. Khi mất, ông không muốn cộng sản làm tang lễ cho ông, và ông giao ấn tín của GHPGVNTN lại cho Đệ Tứ Tăng Thống

Điệp viên cộng sản Phạm Xuân Ẩn cũng thế, trước khi chết, ông ta có ước muốn không muốn chôn chung với những tên cộng sản

Lần nữa, tôi không tranh cãi về con người của ông Đôn Hậu sau 1975. Và tôi tin rằng sau đó, ông đã thấy mình lầm lẫn, không còn muốn theo chúng nữa. Ai cũng thấy vậy

Tuy nhiên, cũng mong ĐLHT và ông Võ Văn Ái công bố cuốn băng của ngài Đôn Hậu cho công luận tường

Ngoài ra, không hiểu Giáo sư Võ văn Ái có thâu được câu nói cùa Ông Đôn Hậu với Dân Biểu VNCH Nguyễn Lý Tưởng trước Tết Mậu Thân, khi ông Dân Biểu từ Saigòn ra Huế “thăm dân cho biết sự tình” và ghé chùa Linh Mụ để thăm vị lãnh đạo tinh thần của Phât giáo đồ miền trung. Ông Đôn Hậu đã phát biểu cảm nghĩ của Ông ta đối với Quân lực VNCH như sau:

“ Lính Việt Nam Cộng Hòa đi đến đâu thì phá phách đến đó, trong khi quân đội Giải Phóng đi đến đâu thì không làm rơi rụng một ngọn lá khoai”.

Với câu nói này của ông Đôn Hậu, xin mời tất cả những ai đã công hiến tuổi thanh xuân của đời mình cho lý tưởng quốc gia, cầm súng chống quân thù, đem tính mạng của mình để đem lại những giờ yên ổn cho những người như ông Đôn Hậu có giờ tụng kinh niệm Phật, có giờ hoạt động chung với Hoàng Kim Loan, lên tiếng!

Cần liên lạc với Dân biểu Nguyễn Lý Tưởng, xin liên lạc với tôi

Rồi sau câu nói của Ông Đôn Hậu với Dân Biểu Nguyễn lý Tưởng, chỉ một hai ngày sau, thì 10,000 quân Giải Phóng tràn vào Huế, giết hại 5327 thường dân vô tội, bắt đi mất tích 1200 người.

Trong lúc Quân Lực VNCH đem tính mạng của mình phản công chiếm lại Huế, bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào Thừa Thiên- Huế, Quảng Trị trong đó có cả thân nhân ruột thịt của ông Đôn Hậu tại quận Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị, mà số tổn thất của quân đội VNCH trên 1000 người, ông Đôn Hậu và những người bênh vực ông Đôn Hậu nghĩ sao? Ông Võ Văn Ái và ĐLHT nghĩ sao? Ông Đôn Hậu đã có cầu nguyện cho những linh hồn này được siêu thoát không? Hay là ông vẫn căm thù bọn lính Ngụy đi đến đâu thì phá làng phá xóm đến đó?

Phần tôi, với suy nghĩ và tình cảm đơn sơ của một người lính, mà chẳng cần phải làm ngành tình báo, làm TT CSQG, tôi có thể nói rằng, chỉ có làm cộng sản mới có thể phát biểu như vậy!

Ngoài ra cũng trong thời gian đi thuyết trình tại một vài nơi ở Hoa Kỳ tôi có nhân được một bức email của bà Tôn Nữ Ngự Bình phổ biến, nội dung bức thư gồm có 9 điểm để biện minh cho ông Đôn Hậu như sau:

Thượng tọa Thích Đôn Hậu không phải là cộng sản, bằng chứng là sau khi Việt Cộng chiến trọn Miền Nam, Ông Đôn Hậu đã trở lại sinh sống tại Chùa Linh Mụ Huế, và quyết liệt chống lại Cộng Sản. Như vậy những đều tôi nói về Ông Đôn Hậu là sai, không đúng sự thật.

Tôi có trả lời vời bà Tôn Nữ Ngự Bỉnh rằng:

Tôi và Bà đề cập đến ông Đôn Hậu trong hai quảng thời gian khác nhau, và cũng trong hai hoàn cảnh khác nhau của ông ta.Tôi có thể nói một cách đơn giản thế này: Trước tháng tư năm 1975, ông hoạt động đắc lực cho cộng sản, với đầy đủ chứng cớ. Sau 1975, ông đã thấy rõ bộ mặt đểu giả tàn ác của cộng sản thì ông từ bỏ nó. Chuyện đơn giản là như vậy. Tôi nói về ông Đôn Hậu qua 2 giai đoạn, trước 1975 và sau 1975, còn bà Ngự Bình chỉ dùng giai đoạn sau 1975 để nói về toàn cảnh con người ông Đôn Hậu. Nói như bà Ngự Bình là không đầy đủ, cho nên kết luận của bà về ông Đôn Hâu là thiếu sót, ngô nghê, và vô lý

Dương Thu Hương, Bùi Tín, Trần Độ, Nguyễn văn Trân, Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Nguyễn Anh Kim và rất nhiều nhiều người cộng sản khác cũng hành động như ông Đôn Hậu. Cũng chống lại Đảng Cộng Sản. Có người sẽ tha thứ cho việc làm cộng sản của họ, và cũng có người sẽ không bao giờ tha thứ cho họ được, bỡi vì cộng sản là thảm họa của nhân loại, thảm họa của Việt Nam. Tội ác cộng sản quá lớn! Ai tham gia tạo ra nó đều phải ít nhiều nhận lãnh trách nhiệm

Phần tôi đề cập, là ông Đôn Hậu của thời điểm trước 1975. Tôi nêu ra những sự việc mà ông ta đã làm, những người mà ông ta cộng tác chung, như Hoàng Kim Loan và bọn cộng sản giả danh trong phong trào Phật Giáo Tranh Đấu.

Trong hoàn cảnh ông ta đang được bọn Việt Cộng nuông chiều để sử dụng ông, ông ta đã xã thân hết lòng phục vụ cho bọn cộng sản. Tôi viết với bằng chứng rõ rảng minh bạch rằng ông ta đã làm gì, hoạt động chung với ai, nhân chứng còn đó, chứ tôi không dùng cảm tính để phán đoán. Nghành tình báo của bất cứ quốc gia nào, hoạt động đều có Protocol của nó, điểm chung đó là căn cứ trên sự kiện mà đưa ra kết luận. Chúng tôi không ấm ớ đoán già đoán non như một số dư luận thường tình thường thấy ở kẻ chợ

Phần Bà Tôn Nữ Ngự Bình đề cập đến Ông Đôn Hậu sau năm 1975 đã chống đối cộng sản một cách quyết liệt, và từ đó kết luận rằng ông ta không là cộng sản, và sự ra đi của ông ta trong Mậu Thân 1968 là bị bắt buộc. Điều này chẳng khác nào bà nói chuyện trứng đẻ ra vịt. Và nói như thế, các ông bà như Dương Thu Hương, Bùi Tín, Trần Độ, Nguyễn Hộ, Nguyễn Trân, Hoàng Minh Chính và tép riêu cỡ như Tiêu Dao Bảo Cự, Trần Vàng Sao đều không là cộng sản? vì sau 1975, họ đều chống lại cộng sản đấy thôi?

Việc ông Đôn Hậu tỉnh ngộ không có nghĩa và không thể chứng minh rằng ông trước đây không là cộng sản, trước đây ông ta không trực tiếp làm hại nền cộng hòa của Miền Nam

Có lẽ, tôi không cần phải trả lời thêm những lý luận kiểu như bà Tôn Nữ, vì người đọc sẽ bực mình, vì thiếu tôn trọng kiến thức tổng quát của họ

Mộng của ông Đôn Hậu, phải chăng là mộng sau khi thôn tính miền Nam xong, bọn chúng để cho ông làm Đệ Nhất Tăng Thống toàn cõi từ nam ra bắc, và để cho ông lập Giáo Hội theo cách riêng của ông. Nhưng ông đã lầm, mọi sự đều phải có sự chỉ đạo của Đàng, người của Đảng phải lãnh đạo giáo hội. Đó là chân lý cộng sản. Và Phật Giáo quốc doanh do chúng thành lập mới là Giáo Hội Phật Giáo chủ đạo. Vì vậy, bọn cộng sản đã đàn áp PGVNTN thẳng tay.

Nói theo danh từ nhà Phật, “Ôn đã ngộ” và quay đầu lại chống bọn chúng. Nhưng đã muộn, ông có thể nhận được sự tha thứ của một số người rộng lòng kính yêu quý thầy, cho dù quý thầy có làm cộng sản, nhưng ông khó mà nhận được sự tha thứ của lịch sử, bởi vì cộng sản đã đem đến thảm họa cho đất nước, và ông đã góp tay trong đó. Ông không thể dùng chuyện chính quyền VNCH, cái mà ông gọi là Mỹ- Diệm -Thiệu, đàn áp Phật Giáo để rước cộng sản vào Miền Nam, để mơ rằng, chúng sẽ cho ông và Giáo Hội riêng của ông có nhiều quyền hành hơn. Là một Phật Tử, tôi biết rằng Phật không bao giờ đòi hỏi quyền hành giáo hội thế tục. Ông tự lập nhóm để đòi quyền chống lại chính phủ VNCH và đã bị gậy ông đập lưng ông

Những hành động hợp tác với Cộng Sản của Ông Đôn Hậu trước năm 1975 đều đóng góp vào việc làm tan tành nền Cộng Hòa đưa đến thảm họa cộng sản cho đất nước, dân tộc và nguy cơ mất nước sau ngày 30/4/1975.

Ông Đôn Hậu ngộ, quay lại chỉ trích cộng sản, quả thật là như vậy. Nhưng mọi chuyện đã muộn! ông phải chịu trách nhiệm những gì mình đã làm. Giá như ông biết cộng sản là tội ác, là thảm họa cho nhân loại từ cuối thập niên 1950 như hầu hết những người dân bình thường Miền Nam đều biết, thì đỡ khổ cho đất nước biết bao! Chiếc áo tu hành của ông đã làm cho bao nhiêu tín đồ nghe ông mà đi theo cộng sản? bao nhiêu người nghe theo ông và Trí Quang phá hoại chính quyền VNCH? Bao nhiêu người, chúng tôi không có con số, nhưng chắc chắn là không ít

Lãnh thổ mất, Hải Đảo mất, biển mất, nhân quyền mất và cuối cùng là đất nước sẽ bị mất vào tay Tàu Cộng. Lỗi tại ai, chúng ta đã biết, nhưng trong số những người lãnh đạo tôn giáo thấy được lỗi lầm của những kẻ mượn chiếc áo cà sa để hoạt động cộng sản, làm điêu đứng tiền đồ dân tộc như Hoà Thượng Thích Tâm Châu, chẳng hạn, chắc chắn trong đó không có ông Đôn Hậu trong đó. Việc ông Đôn Hậu làm là chối tội, nói là bị cộng sản bắt!

Trước khi chấm dứt bức thư chính thức xác quyết trường hợp của Ông Đôn Hậu với nhị vị, xin có vài câu hỏi đến ĐLHòa Thượng Quãng Độ và ông Võ Văn Ái như sau:

1- Bằng những dự kiện tôi, và có kèm nhân chứng sống tôi vừa trình bày trên, theo nhị vị, Ông Đôn Hậu có hoạt động cho Cộng Sản hay không?

2- Sự ra đi của Ông Đôn Hậu trong Mậu Thân 1968 là tự nguyện hay bị VC bắt đi?

Nếu Hòa Thượng và GS Võ Văn Ái cho rằng Ông Đôn Hậu không họat động cho Cộng Sản, và sự ra đi của Ông ta trong Mậu Thân 1968 là bị Việt Cộng bắt đi, thì cá nhân tôi rất mong được ĐLHòa Tyhượng và giáo sư đưa ra những bằng chứng cụ thể bằng sự kiện rõ ràng, chứ không bằng lời chối tội suông một chiều của ông Đôn Hậu

3- Trong suốt 26 ngày Việt Cộng chiến Huế và thi hành “Bạo Lực Cách Mạng” hay “Bạo Lực Đỏ” tàn sát dồng bào Huế, Hòa Thượng và ông Võ Văn Ái có mặt tại Huế hay không?

Với nhân chứng nào? Bằng chứng nào? Nguồn tin nào để có thể kết luận ông Đôn Hậu ra đi là bi bắt buộc? hay cũng như mọi người là “chỉ nghe nói”.

Cho dù câu trả lời, có mặt hay không có mặt, hai vị có biết rằng khi tấn công và chiếm Huế Cộng sản đã sử dụng 10,000 ngàn quân phục vụ dưới ngọn cờ duy nhất được treo tại kỳ đài Ngọ Môn trong suốt 26 ngày tàn sát sinh linh vô tội là cờ của Lực Lương Liên Minh, Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình, tức là cờ của ông Đôn Hậu, ông Lê Văn Hảo?

Và nữa, đại đa số những tay sát nhân tàn bạo giết hại đồng bào Huế như Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đóa, Nguyễn thị Đoan Trinh, và nhiều , nhiều…nhiều nữa, tất cả bọn họ đều nằm trong lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình của Ông Lê văn Hảo và Ông Đôn Hậu!

Nhóm tội ác này đã giết quá nhiều dân Huế, vậy theo lẽ công bình, Chủ Soái và Phó Chủ Soái của đám sát nhân nầy, hai ông Lê văn Hảo và Đôn Hậu, về cả ba phương diện, pháp lý, đạo đức, và lương tâm, hai người nầy có chịu một phần trách nhiện về cái chết của 5327 thường dân vô tội bị thảm sát, và 1200 ngừoi bị mất tích hay không? Hay chỉ đơn giản đổ thừa hết cho cộng sản? Cho sự thiếu sót trách nhiệm của chính quyền VNCH?

Nếu như Đại Lão Hòa Thượng và Giáo Sư trả lời “Không”.

Tôi nghĩ, tôi và công luận chẳng còn gì để hỏi Hòa Thượng và Giáo sư nữa

Còn nếu Hòa Thượng và Giáo sư trả lời là: Có.

Vậy thì Hòa Thượng và giáo sư nghĩ rằng, nên làm gì để trả lại Công Bằng và Công lý cho nạn nhân vô tội đã bị người của Ông Lê văn Hảo và Thích Đôn Hậu trong lực lượng Liên Minh Dân Chũ Dân Tộc Hòa Bình sát hại?

Kết Luận:

Tóm lại, với tư cách là một nhân viên công quyền thực thi việc điều tra các tội phạm trong đó có việc điều tra các tội phạm hoạt động cộng sản, tôi khẳng định rằng, ông Đôn Hậu đã hoạt động cộng sản, do đó, việc ra đi của ông là tự ý thoát ly.

Thứ nhất, cũng là bằng chứng quan trọng nhất, qua theo dõi Hoàng Kim Loan, chúng tôi đã cài người vào chùa Linh Mụ và biết chính xác ông Thích Đôn Hậu cùng hoạt động chung với tên sĩ quan tình bào nguy hiểm này, và lần ra các đầu mối của 2 đương sự. Lời khai của Trung Tá VC Hoàng Kim Loan

Các nhân chứng của việc điều tra này hiện đang sống tại Hoa Kỳ.

Thứ hai, không lâu sau ngày 30/4/ năm 1975, ông Thích Đôn Hậu đã tự nhìn nhận là có hoạt động cộng sản, bài viết “Ba Lần Được Gặp Bác Hồ” đăng trong “tác phẩm” Bác Hồ Trong Lòng Dân Huế là một chứng minh, việc ông tham gia trong chính phủ MTGPMN, việc ông ở trong tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản Việt Nam, việc ông làm Đại Biểu Quốc Hội cộng sản cũng là một chứng minh, việc đám tang ông được các nhân vật chóp bu của Đảng Cộng Sản đến tham dự và gởi vòng hoa viếng là một chứng minh nữa

Thứ ba, các nhân vật Miền Nam hoạt động cộng sản như Đào Thị Xuân Yến, Đỗ Trung Hiếu, và đồ tể Nguyễn Đắc Xuân, qua nhiều bài viết, đã xác nhận ông Thích Đôn Hậu là cộng sản cùng với họ

Do đó, Cảnh Sát Quốc Gia chúng tôi kết luận dựa trên những quy định của ngành điều tra, đó là dựa trên các sự kiện cụ thể, chứng cớ nội phạm và ngoại phạm, nhân chứng, rồi đối chiếu từng sự kiện, như tất cả các bộ phận cảnh sát của tất cả các nước dân chủ trên thế giới, mà VNCH là một thành viên. Bằng tất cả các bằng chứng và nhân chứng như vậy, lời “tâm sự” không làm cộng sản, bị cộng sản bắt của ông Đôn Hậu cũng như các đồn đãi này kia cho rằng đương sự bị bắt được xem như hoàn toàn không có giá trị.

Đó là xong phần trả lời cho ĐLHT của tôi, bây giờ, xin được bàn đến nội dung thông tư của VP II/VHĐ được đăng trên queme.net. Xin trích:

1/Gần đây tác nhân chính yếu trong chính tình Việt Nam là Hoa Kỳ vừa giải mật một số hồ sơ phơi bày diễn tiến chính sách Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng hoà thông qua sự thi hành của giới chính trị gia bản địa. Qua đó chưa thấy tài liệu nào cho biết GHPGVNTN hay hàng giáo phẩm lãnh đạo GHPGVNTN dính líu đến Cộng sản.

Có vẻ như GS Võ Văn Ái rất kính nễ tình báo Hoa Kỳ, chuyện gì thuộc về lịch sử Việt Nam cũng phải nhờ Hoa Kỳ phê chuẩn và chứng giám!

Xin giáo sư cẩn thận, vì nhiều lúc Tình báo Hoa Kỳ nói vậy mà không phải như vậy. “Có” là “Không”, mà “Không” là “Có”. Có, có, không không, Có hay không, tất cả chỉ vì quyền lợi chính trị, ngoại giao, kinh tế của nước Mỹ họ mà thôi. Tỷ như Tình báo Hoa Kỳ đã từng nói Sadam Husen “Có” vũ khí giết người hằng lọat, họ oanh tạc, dội bom, đổ quân, chiếm Irac, vậy mà đến nay vẫn chưa tìm thấy vũ khí này ở đâu cả! Vậy CIA có luôn luôn đúng không? Ai cũng hiểu rằng vì chiến lược muốn đặt bàn đạp tại Trung Đông, Hoa Kỳ cần có cái cớ như thế. Và nếu, chuyện CIA không chính thức xác nhận ông Trí Quang không làm cộng sản cũng nằm trong chiến lược dùng phong trào Phật Giáo Tranh Đấu để lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vì ông quá “cứng đầu” không nghe Mỹ, giữ vững thể diện quốc gia và khí tiết của một vị nguyên thủ, và điều quan trọng nhất là ông không chấp nhận việc đổ quân Mỹ vào Miền Nam, tạo cớ cho cộng sản xâm lược. Hậu quả nhãn tiền ai cũng đã thấy.

Các cơ quan tình báo VNCH, và nhất là BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế có bằng chứng rõ ràng Thích Trí Quang là Cộng Sản, đảng viên Cộng Sản từ 1949 do Tố Hữu kết nạp tại mật Khu Lương Miêu, Dương Hòa Thừa Thiên, chẳng lẽ CIA không biết Trí Quang là Cộng Sản hay sao? Vì họ làm cố vấn cho Tình báo Việt Nam mà? Họ thừa biết, Nhưng khi cần tạo ra thần tượng Trí Quang để phát động phong trào quần chúng đấu tranh nỗi dậy lật đỗ đệ I Cộng Hòa, để thay đổi chiến lược chống cộng, thì họ phải nói “không”, có nghĩa là họ phải nói Trí Quang không phải Công sản. Nếu họ xác nhận Trí Quang là Cộng Sản, thì làm sao gọi là đồng minh thân thiết với VNCH? Và chẳng lẽ, họ tự vả vào mặt họ?

Nhưng sau khi giết được Tổng Thống Ngô Đình Diệm qua phong trào Phật Giáo Tranh Đấu, qua bàn tay của Dương Văn Minh, một người cấu kết chặt chẽ với Trí Quang, và được Trí Quang đồng ý đưa lên ngôi vị Thủ Tướng ngay sau đó, thì Trí Quang càng ngày càng kiêu binh, phá sập hết thảy 6 “triều đại” chính phủ sau đó trong 3 năm, từ cuối 1963 đến đầu năm 1966. Tất cả đều bằng chiêu bài Phật Giáo Tranh Đấu, chống lại các chính phủ :Diệm mà không Diệm” bách hại Phật Giáo.

Hẳn ĐLHT và ông Võ Văn Ái không thể phủ nhận việc Henry Cabot Lodge nói rằng, Trí Quang đã đến gặp ông ta, nói rằng “hãy phế bỏ tướng Nguyễn Cao Kỳ xuống, rồi Trí Quang sẽ tự tay đưa ông Kỳ lên”? Việc Trí Quang làm “quốc phụ”hoành hành từ cuối 1963 đến đầu năm 1966 đã làm đất nước điên đảo, đứng trên bờ vực thẳm bị cộng sản lăm le thôn tính, thì buộc lòng Mỹ phải phế bỏ con cờ Trí Quang, Bỏ con cờ thì bỏ, nhưng CIA có cho vàng không dám nói Trí Quang là cộng sản. Tại sao ư? trẻ con cũng biết. Trí Quang vâng lệnh Hà Nội, phá nát Miền Nam, đi ngược lại nhu cầu và quyền lợi của Hoa Kỳ tại Việt Nam, thì chúng ta thấy ngay, Hoa Kỳ đã giúp phương tiện tối đa cho Chính Phủ VHCH dẹp lọan Trí Quang, tức là dẹp vụ Bàn Thờ Phật Xuống Đường tại Huế và các tỉnh Miền Trung

Gần đây nhất khi thấy trí Quang không còn một tí giá trị nào để lợi dụng nữa thì CIA lại chơi đòn độc, CIA giải mật hồ sơ cuộc chiến Việt Nam vào tháng 2 năm 2009. CIA đã ghi rõ trong hồ sơ giải mật rằng:

CIA tại Sài gòn đã đưa cho Thích Trí Quang 2 triệu đồng để làm công tác huấn luyện vào năm 1964.

Ai có thể phủ nhận cái bằng chứng rành rành Trí Quang hoạt động cho CIA này không?

Khi tôi nói Thích Trí Quang là Cộng Sản thì nhiều người đã phản đối cho rằng không đúng, vì, là cộng sản, tại sao ông ta bị cộng sản giam lỏng, cô lập, sau 1975.

Sau tài liệu giải mật trên của CIA, thì câu trả lời là:

Thích Trí Quang vừa làm cho Việt Cộng, và vừa làm cho CIA, Hà Nội dư sức để biết điều đó, nên biện pháp giam lỏng ông ta sau 1975 là chuyện bình thường.

Sau đây là nhận xét của Trần Bạch Đằng, cán bộ tuyên huấn, về Trí Quang như sau:

“ Trí Quang là loại CIA chiến luợc, anh Út Nguyễn Văn Linh giận Trí Quang lắm”

Anh Út giận là phải: “Trai ngay không thờ hai chúa!”.

Trí Quang đã 2 mang, thờ cộng sản rồi lại thờ cả CIA. Rất đơn giản, số phận Trí Quang cũng không khác điệp viên 2 mang Phạm Xuân Ẩn, có gì mà phải suy nghĩ !

Chắc hẵn ĐLHT cũng như giáo sư Ái cũng phải nhận rằng:

Không thể lấy chuyện ông Trí Quang bị cộng sản giam lỏng, cô lập, sau năm 1975 để kết luận Ông Trí Quang không phải là Cộng Sản. Mà chúng ta phải khen cộng sản một phát là giỏi, vì đã phát giác ra là Trí Quang làm việc và nhận tiền của CIA từ lâu, nên bọn chúng giam lỏng ngayThích Trí Quang ngay sau năm 1975.

Nguyễn Trực, tay chân thân tín, bộ hạ của ông Trí Quang, đã chính thức thức đại diện Ủy Ban Quân Quản của Tướng VC Trần văn Trà, tiếp thu trường Đại Học Vạn Hạnh, làm chổ tiếp nhận Quân Cán Chính VNCH đăng ký học tập cãi tạo.

Trí Quang không làm cộng sản mà sao toàn bộ những người thân cận quanh thầy đều là cộng sản? Sự việc làm sao giải thích?

Ngay cả bây giờ hồi ký ông Trí Quang viết, chính ông ta đã tự khai rằng năm 22 tuổi ông ra Hà Nội gặp Bác Hồ, nhận nhiệm vụ vào Nam “diệt loài quạ lang” đã ra đời rất lâu, nhan nhản trong một số website như sachhiem.net, giao điểm, mà vẫn có người tự tranh biện không công dùm ông ta rằng “Trí Quang không là cộng sản!”

Và ông Trí Quang có phải là hàng ngủ lãnh đạo Phật Giáo hay không? Kính thưa ĐLHT và ông Võ Văn Ái!

Một sự kiện nữa mà không biết CIA có ghi nhận dùm cho ông Võ Văn Ái hay không, đó là, ngày 28 tháng 3 năm 1975, Chư Tăng tại chùa Tĩnh Hội Đà Nẵng đã ra tận đèo Hải Vân nghênh đón quân đội Giải Phóng Miền Nam vào thành phố Đà Nẵng. Tăng, Ni, ngồi trên xe tăng T54 của cộng sản mặt mày hãnh diện, hớn hở. CIA có thể nói “không”, nhưng Tăng Ni Phật Giáo khó mà dấu được lịch sử và đồng bào Đà Nẵng chuyện này. Họ có phải là lãnh đạo Phật Giáo cỡ nhỏ, cỡ vừa không?

CIA có thể chối dùm ông Ái là các lãnh đạo Phật Giáo không làm cộng sản, nhưng chư tăng không chối được với người dân Việt Nam

Thêm một sự kiện nữa, Ngày 30 tháng Tư tại Sài Gòn, một nhóm trên 500 tăng ni trong khối Phật Giáo Ấn Quang đã ra hân hoan nghênh đón Ủy Ban Quân Quản và Bộ Đội Cụ Hồ tức là Quân Đội Giải Phóng Miền Nam vào Sài Gòn.

Ngày 19 tháng 5 năm 1975 tại Chùa Ấn Quang Sàigòn, Chư Tăng đã hớn hở làm lễ mừng sinh nhật Bác! .

Thượng Tọa Thích Tâm Châu cũng xác nhận những điều này trong tâm thư của ông.

Sau đây, cũng trong mục ông Ái nói rằng không thấy tài liệu của CIA nói hàng ngu4 lãnh đạo PGVNTN theo cộng sản, xin được phép tặng ông Võ Văn Ái bài thơ về Hồ Chủ Tịch của sư bà Thích Nữ Diệu Không, trù trì chùa Hồng Ân, Huế:

Hồ Chủ Tịch
“Giải phóng quê hương khỏi đọa đày

Chí người như núi vững không lay

Tình người như nước lan tràn cả

Kỷ niệm người như một bậc thầy”

Không biết CIA có biết bài thơ này và tác giả của nó không, Sư Bà có phải là lãnh đạo Phật Giáo không? hay là người thường, thưa ông Võ Văn Ái?

Và đây là nguyên văn lời ông Đôn Hậu được ghi nhận trong thông tư:

2/ “Tình đoàn kết đó, thương yêu đó, kính trọng đó (đối với người kháng chiến, cách mạng) chỉ được 10 ngày ! Sau 10 ngày đó: tình đoàn kết xưa nay bây giờ rã hết! Lòng thương yêu đổi thành ghét cay ghét đắng! Sự kính trọng bây giờ người dân trở lại khinh đáo để! (…) Phật giáo chúng tôi sống qua bao nhiêu chế độ, bị đàn áp một cách tàn bạo. Người Phật tử luôn luôn trông mong một chế độ nào cởi mở hơn, biết điều hơn, để đem lại cho họ một phần cuộc sống đã bị mất. Nhưng từ khi giải phóng đến nay, Phật giáo chúng tôi chẳng những không được trả lại một phần cuộc sống bị mất, mà lại còn bị mất thêm 30 lần nữa”.

Qua lời phát biểu của ông Đôn Hậu, tôi xin hỏi công luận:

1/ Như vậy, có phải chính là ông Đôn Hậu đã xác nhận đã từng: Đoàn kết, thương yêu, kính trọng bọn cộng sản?

2/Ông Đôn Hậu nói rằng: Phật Giáo đã bị các chính quyền Đàn Áp Tàn Bạo: Ông ám chỉ đó là các chính quyền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa

Xin hỏi ông Đôn Hậu, chính quyền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa có tàn bạo như cộng sản không? Ông là người tu hành, mong ông không vọng ngữ!

Thế nào là tàn bạo? Hay là vì ông là một chức cao sắc trọng trong tôn giáo, nên ông có quyền phát ngôn bừa bãi?

Bản thân là một Phật Tử, trưởng thành trong một đại gia đình có nhiều Đại Lão Hòa Thượng, trong đó có ngài Đệ Nhật Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, tôi thật sự không biết bản thân ông Đôn Hậu đã bị chính quyền VNCH đàn áp tàn bạo cụ thể như thế nào? Phật tử bị đàn áp tàn bạo cụ thể ra sao? Hay là làm cộng sản rồi bị chính quyền bắt thì la lên là bị đàn áp bách hại? Hay chỉ là vì các vị lãnh tụ Phật Giáo không vừa ý với cái Đạo Dụ số 10, nên chuyện bé xé cho to? Bởi vì, sau tất cả các cuộc biểu tình ném đám, đốt xe cảnh sát, tự thiêu hàng loạt, Liên Hiệp Quốc không thể tìm thấy bằng cớ là chính quyền VNCH đàn áp Phật Giáo. Điều ghi nhận này của Liên Hiệp Quốc, ĐLHT và GS Võ Văn Ái có thể phủ nhận?

Hay là vụ nổ lựu đạn tại Đài Phát Thanh Huế làm thiệt mạng 8 người là chứng minh cho việc đàn áp tàn bạo của chính quyền Mỹ Diệm? Khi mà mãi cho đến ngày hôm nay, hoàn toàn không có bằng cớ cụ thể để buộc tội chính quyền tổng thống Ngô Đình Diệm, mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực của các chính quyền sau tổng thống Ngô Đình Diệm, vì cố tạo chính nghĩa cho việc thảm sát tổng thống để cướp chính quyền, đã tìm mọi cách đổ tất cả các tội lỗi lên đầu Tổng Thống, họ vẫn không tài nào tìm được bằng chứng để chứng minh chuyện này! Bằng chứng là việc sau nhiều nỗ lực để kết án tử hình Thiếu Tá Đặng Sĩ, người bị gán cho là mật vụ Mỹ Diệm tổ chức ném lựu đạn vào đám đông Phật Tử đang biểu tình, người ta phải giảm án xuống còn chung thân, sau một thời gian phải tha bổng. Đây là một trong những vụ án oan khiên, y hệt vụ án của Nguyễn Trãi, Nguyễn thị Lộ, mà ông Trí Quang là “chánh án” đàng sau. Ông Trí Quang giết được một số người khác, trong đó có bào đệ của tổng thống, ông Ngô Đình Cẩn và ông Phan Quang Đông, đặc trách tình báo bên kia vĩ tuyến 17, hoàn toàn không dính dáng đến việc đàn áp quý thầy, quý tăng ni Phật Từ cả!

Trong khi đó, có nhiều chứng cứ rất khả tín mà Ty CSQG/TT/Huế đặt nghi vấn rằng, không ai khác, chính ông Trí Quang đã chủ mưu dàn dựng vụ nỗ lựu đạn tại đài phát thanh Huế, qua sự chỉ đạo dàn dựng của Hà Nội

Tóm lại, chẳng lẽ tình báo Hoa Kỳ nhận rằng một số sư nằm trong hàng ngủ Lãnh Đạo Phật Giáo như Trí Quang chẳng hạn, làm cộng sản, thì còn cớ gì để chính quyền Mỹ tham gia hổ trợ phong trào Phật Tử tranh đấu để lật đổ tông thống Ngô Đình Diệm? Chẳng lẽ CIA nhận mình hổ trợ cho cộng sản? Làm sao mà CIA dám nhận chuyện một số vị lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam đã làm cộng sản? CIA đã ủng hộ số này, chẳng lẻ, CIA tự vả vào mặt họ?

Cho nên, vấn đề mà ĐLHT và ông Ái đưa ra, tôi e rằng không nên đặt vấn đề, bởi vì, nguyên nhân của nó quá rõ ràng đơn giản, có cần phải nói một điều như 2 cộng 2 là 4 như thế?

3/Nhưng ít nhất tôi cũng tôn trọng ông Đôn Hậu ở một điểm mà ông nói đúng, đó là: Nhưng từ khi giải phóng đến nay, Phật giáo chúng tôi chẳng những không được trả lại một phần cuộc sống bị mất, mà lại còn bị mất thêm 30 lần nữa”.

Xin miễn lời bình về sự so sánh này của ông

Xin trích thêm một đoạn nữa trong thông tư:

Không thể nào vu cáo hàng giáo phẩm GHPGVNTN “rước Cộng sản vào Tết Mậu Thân Huế” hay “dâng miền Nam cho Cộng sản”, khi ai cũng biết rằng hàng tỉ đô la Hoa Kỳ đổ ra nuôi một bộ máy quốc gia chống Cộng, nuôi hàng triệu binh sĩ, cảnh sát, mật vụ chống Cộng, với sự tiếp tay của nửa triệu binh sĩ Hoa Kỳ. Những tác nhân chính này đã làm gì để bảo vệ Miền Nam ? Trong khi ấy chư Tăng, Ni, Phật tử tay không khí giới, túi không tiền bạc thì làm sao có thể “dâng miền Nam cho Cộng sản” ?

Xin được mạn phép hỏi ĐLHT và ông Võ Văn Ái: các ông Trí Quang, Như Ý, Thiện Siêu, Chánh Trực có làm cộng sản không làm cộng sản?

Các ông ấy có rước cộng sản vào không? Ông Thích Như Ý có dùng chùa Trà Am làm nơi hội họp cho đám cơ sở nội thành VC để từ đó tung ra các cuộc tấn công vào dân lành vô tội bằng cách đặt chất nổ tại các rạp chiếu bóng, tại Ty Bưu Điện, tại Ty Ngân Khố hay không? v.v…

6 ký chất nỗ hợp chất C3 và 8 ngòi nỗ, thử hỏi nếu chúng tôi không bắt ông Như Ý và đồng bọn, ngăn chận kịp thời âm mưu giết người tàn bạo này, thử hỏi, sẽ có bao nhiêu dân lành sẽ bị sát hại, và rồi sau đó ông Như Ý chỉ việc tụng kinh sám hối cầu siêu cho họ? Rồi lại đặt chất nỗ tiếp?

ĐLHT và ông Võ Văn Ái cho là họ không khí giới, không tiền nên không thể dâng Miền Nam cho cộng sản? Thưa ĐLHT, thưa ông

Võ Văn Ái, tiền đó là tiền kinh tài của cộng sản qua nhiều ngã. Tại Huế, cơ sở kinh tài lớn nhất của Việt Cộng lại do Lê Hữu Tý, Nguyễn Xin, Nguyễn Hải, một trong khuôn hội trưởng đảm trách, cơ sở kinh tài này đã bị BCH/CSQG/Thừa Thiên phá vỡ, bắt giữ toàn bộ bọn chúng và đã gây chấn động tại Huế bởi nhiều cuộc lên đường, xuống đường cho rằng tôi đàn áp Phật giáo. Giáo sư Đại Học Huế Lê Đình Cai là người đã tức giận tổ chức biểu tình chống lại chuyện thả các tên kinh tài Việt Cộng này, cả xứ Huế điều biết. Giáo sư Lê Đình Cai hiện đang giảng dạy tại Đại Học San Jose, Đại Lão Hòa Thượng và ông Võ Văn Ái có muốn đối chứng? Nhắc lại chuyện này, cá nhân tôi đến nay vẫn còn uất ức, vì tâm huyết tâm lực của trên 5000 CSQG bỏ công sức, bỏ tính mạng, cài người ra theo dõi bọn Việt Cộng ngày đêm, khi bắt được thì dưới áp lực của những kẻ mệnh danh tôn giáo mà đành phải thả.

Ít nhất đã có một số chùa tại Huế chôn dấu vũ khí, chứa chấp đặc công Cộng sản, như chùa ông Thầy Ngoạn tại An Lăng nơi mà tôi và lực lượng Cảnh Sát Thừa Thiên-Huế đã phục kích và bắn chết tên Thiếu tá Cộng Sản Thanh Bình ngay tại sân chùa của Thầy Ngoạn, và chúng tôi cũng đã khui một hầm bí mật tại ngôi chùa ở đường Duy Tân thuộc Quận 3 Thị xã Huế, lôi từ hầm bí mật nằm dưới chuồng heo của chùa lên 3 tên Việt Cộng, một nữ, hai nam, tịch thu một số vũ khí và chất nỗ. Hai vụ nầy tôi đã viết rất rõ trong cuốn BĐMT, và chuyện chùa Trà Am chứa chấp Việt Cộng và chất nỗ tôi đã nói trên

Như vậy, có lẽ tôi đã trả lời cho câu phát biểu của ông Võ Văn Ái rằng các chư Tăng, Ni, Phật tử tay không khí giới, túi không tiền bạc thì làm sao có thể “dâng miền Nam cho Cộng sản” ?

Nhân chuyện ĐLHT và ông Võ Văn Ái đề cập đến chuyện tiền bạc Mỹ, tôi cũng xin mạn phép có mấy lời như sau xin được thưa cùng Hòa Thượng Thích Quảng Độ và ông Võ Văn Ái:

Đoạn thứ nhất, xin được lập lại:

“khi ai cũng biết rằng hàng tỉ đô la Hoa Kỳ đổ ra nuôi một bộ máy quốc gia chống Cộng, nuôi hàng triệu binh sĩ, cảnh sát, mật vụ chống Cộng, với sự tiếp tay của nửa triệu binh sĩ Hoa Kỳ. Những tác nhân chính này đã làm gì để bảo vệ Miền Nam ?”

Trước tiên, tôi có nhận xét về lời phát biểu trên như sau:

Đó là một phát biểu rất thiếu sót, khá nông cạn, bởi vì, trong ngân khoản viện trợ, quốc gia chi viện và quốc gia nhận viện trợ đều có các kế hoạch và ngân khoản nhằm phát triễn toàn bộ quốc gia, không thể chỉ dùng vào việc nuôi quân. Chi phí đó bao gồm: Giáo dục, kinh tế, nhân đạo, chi phí cho hạ tầng cơ sơ, thượng tầng kiến trúc và quốc phòng vv và vv, trong đó quân đội nhận một phần nhỏ trong khoản viện trợ đó làm nhiệm vụ trọng yếu bảo vệ lãnh thổ

Thế thì, lời phát biểu trên rằng quân đội VNCH chịu trách nhiệm tiêu thụ số hàng tỉ dollars đó! Như vậy có chính xác hay không? Hay chỉ nhằm mục đích thóa mạ QLVNCH ?

Kính thưa ĐLHT và ông Võ Văn Ái tôn kính, chúng tôi đã làm gì để bảo vệ Miền Nam ư?

Quân, Cán, Chính miền nam đã sát cánh, còng lưng, kề vai chống đỡ trong cuộc chiến tự vệ, cuộc chiến xâm lăng miền Nam do đảng Cộng Sản Việt Nam mưu đồ khởi xướng.

ĐL Hòa Thượng và giáo sư Ái không thể phủ nhận điều mà ông Đôn Hậu đã làm khi ra Bắc, là theo lệnh đảng Cộng sản, ông Đôn Hậu cùng phái đòan của ông ta xuất ngoại đi truyên truyền cho cuộc chiến xâm lăng của đảng Cộng Sản Việt Nam tại miền Nam Việt Nam.

Và thưa ĐLHT và ông Võ Văn Ái, trong cuộc chiến tự vệ nầy, đã có trên 500,000 quân, cán, chính miền Nam đã bỏ mình để bảo vệ đất nước! Nói như cách nói của ĐLHT và ông Võ Văn Ái, thì quân đội VNCH đi lính để có được miếng ăn cung cấp bởi Hoa Kỳ, để được Hoa Kỳ nuôi? Và bán sinh mạng mình đổi lấy tiền Mỹ?

Gương tuẫn tiết của các tướng Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Trần văn Hai, Phạm Văn Phú, và nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan anh em binh trong QLVNCH cũng như trong LLCSQG/VNCH điển hình là sĩ Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long vv. Thượng Sĩ Cảnh Sát Nguyễn Văn Bích, em rễ của ĐLHT Thích Mật Nguyện. Trung sĩ Nguyễn văn Bích một thuộc cấp của tôi, đã tự bắn vào đầu để lại vợ con ngay khi cộng sản tiến vào Huế tháng 3/1975. Anh cũng là chú Tiểu Bích, hầu hạ ngài Mật Nguyện. Sau khi ông Đôn Hậu thoát ly, Hòa Thượng Mật Nguyên lên làm chánh đại diện Miền Vạn Hạnh, chú tiểu Bích, sau đó phải lòng cô em gái của Hòa Thượng Mật Nguyện, anh kết hôn và trở lại đời thường, vô cùng căm thù cộng sản. Thượng sĩ Bích đã cộng tác đắc lực và đóng góp rất nhiều trong công tác truy tìm cộng sản trong hệ thống các chùa. Khi viết những dòng này, tôi không ngăn được dòng lệ thương tiếc Thượng sĩ Nguyễn văn Bích, người thuộc rất cận kề với tôi, đã đem mạng sống mình cống hiến cho quốc gia và lý tưởng tự do. Câu chuyện này, dân Huế quanh vùng ai cũng biết, nhưng có lẽ ông Võ Văn Ái và ĐLHT Quãng Độ không biết? cho nên đã tặng cho quân lực VNCH những chữ “Hoa Kỳ Nuôi!”? Chúng tôi đi lính cho thuê cho Hoa Kỳ? hay vì không có nghề gì làm ăn sinh sống, nên chọn cái nghề đi lính, đi làm mật vụ để để nuôi thân? Bán máu cho Mỹ?

ĐLHT và ông Võ Văn Ái đã dùng chữ NUÔI để hạ nhục quân đội VNCH!

Quốc gia nào cũng phải có quân đội, cũng phải trả lương, cũng phải chăm sóc cũng cố quân đội, nhưng không ai dám nói là nuôi quân đội cả, quân đội luôn luôn có chỗ đứng trang trọng trong lòng lịch sử

Ngay cả với cộng sản, khi cán binh bộ đội tử trận, họ cũng biết viết:

Tổ Quốc Ghi Công

Với chính quyền VNCH, sự hy sinh của người lính được kính trọng như sau:

Tổ Quốc Ghi Ơn

Với ĐLHT và ông VõVăn Ái, QLVNCH chúng tôi bị xem là binh lính thuê của Mỹ

Thưa ĐLHT, trước đây, tôi chỉ nghe bọn cộng sản và bọn nằm vùng nói rằng chúng tôi, quân đội VNCH, là lính đánh thuê cho Mỹ. Đây là lần đầu tiên, tôi nghe ĐLHT và ông Võ Văn Ái, 2 người Miền Nam không cộng sản, nói rằng Hoa Kỳ nuôi binh lính chúng tôi, nói một cách khác, đó là lính đánh thuê?

Thật tình mà nói, nếu quê hương không có tiếng súng, đa số anh em chúng tôi được yên ổn cắp sách đến trường, được học hành tử tế đổ đạt, thì chắc 100% là chẳng cần Mỹ nuôi đâu, thưa ĐLHT và ông Võ Văn Ái!

Mà nếu QLVNCH có bị Mỹ nuôi như ĐLHT và ông Võ Văn Ái biếm nhẽ khinh miệt, thì ít nhất, ĐLHT và ông Ái cũng phải nhận rằng: đã có những kẽ bán máu nuôi miệng như quân đội VNCH, để những người như ĐLHT có thể yên ổn tụng kinh niệm Phật, và ông Võ Văn Ái được ra nước ngoài trốn lính, và kết hợp chặt chẽ với ông Nhất Hạnh, truyền truyền phản chiến, chống lại cuộc chiến tự vệ của dân chúng miền Nam, làm lợi cho cộng sản, chế dầu vào lửa cùng với bọn phản chiến phương tây và bọn phản chiến Mỹ, đưa đến bọn phản chiến được bầu vào quốc hội Hoa Kỳ. Dĩ nhiên, chỉ chờ có thế, chúng cắt ngay viện trợ cho Miền Nam. Hậu quả: cộng sản đi bộ vào Miền Nam chính thức ngày 30/4/1975.

Hành động của giáo sư như vậy, giờ này đất toàn bộ nước rơi vào tay cộng sản, chuẩn bị rơi vào tay Trung Cộng, GS có tội với quốc gia dân tộc hay không?

Và cũng nhân chuyện ĐLHT và GS đề cập đến những Đồng Tiền Mỹ, hạ nhục chúng tôi, nói rằng QLVNCH là binh lính Mỹ nuôi, tôi xin hỏi GS Ái:

Theo một số tin tức được phổ biến trên Internet, báo cáo của NED giáo sư đã nhận tiền tài trợ của cơ quan Tình báo CIA, để lo cho “Phật Sự” của GHPGVN , tài liệu này trước mắt tôi, có ghi rõ:

Từ năm 200-2003 mỗi năm giáo sư nhận 70,000 USD

Năm 2004 bị gián đoạn.

Năm 2005 giáo sư nhận 70,000 USD

Năm 2006 giáo sư nhận 97,000 USD

Năm 2007 giáo sư nhận 107,000USD

Năm 2008 giáo sư nhận 107,000USD

Năm 2009 chưa thấy công bố.

Vậy, xin hỏi giáo sư Võ văn Ái, chuyện nầy có thật hay không, hay chỉ là vu khống, bôi nhọ thanh danh của Giáo Sư ?

Chẳng lẽ Giáo Sư, người có bằng cấp học vị lại để Mỹ nuôi? Lẽ nào lại vậy?

Không biết chuyện này ĐLHT có biết không?

Và còn một chuyện tôi khá thắc mắc, có tính cách đời tư lý lịch cá nhân, nhưng cũng cần được rõ, vì GS nắm một chức vụ quan trọng trong GHPGVNTN, thì học vị cần phải được minh bạch, đó là, ngày GS ra khỏi Việt Nam, GS chỉ là một chú Điệu, tức là chú Tiểu, tại Đà Lạt. Sang Pháp qua sự trợ giúp của tướng Nguyễn Ngọc Lễ, chẳng hay GS có tiếp tục học tại Pháp? Rồi tốt nghiệp trường ĐH nào tại Pháp? Sau đó GS dạy trường Đại Học nào, dạy lãnh vực nào, dạy chuyện gì? Vì có người hỏi tôi GS dạy cái gì, dạy trường nào, tốt nghiệp trường nào, tôi không biết! Xin GS vui lòng phúc đáp

Tóm lại, cuối thư, biết rằng Giáo Sư vì bận nhiều công vụ đa đoan, nhưng nếu có thể được, tôi xin được trực tiếp thưa chuyện và bàn thảo với Giáo Sư trong chỗ riêng tư, hoặc công khai, bất cứ nơi đâu, vào ngày giờ nào thuận tiện cho Giáo Sư, để GS có thể thưa chuyện lại với ĐLHT Quãng Độ, người mà cá nhân tôi rất kính nễ về tất cả các hành động chống cộng sản của ngài, về các vấn đề như sau:

1- Ông Đôn Hậu có họat động cho Cộng Sản hay khộng?

2- Ông Đôn Hậu bị cưỡng bách hay tình nguyện ra Bắc vào năm Mậu Thân 1968?

3- Ông Lê văn Hảo, Ông Đôn Hậu có chịu trách nhiệm với luật pháp, với đạo đức, và luơng tâm về vụ thảm sát đồng bào Huế trong Mậu Thân 1968 hay không?

Các thành viên của lực lượng LMDTDCHB này đã tàn sát quá nhiều đồng bào vô tội trong Mậu Thân 1968 tại Cố Đô Huế, hai ông Chủ Tịch và Phó chủ Tịch Liên Minh này có chịu trách nhiệm mảy may nào hay không?

4-Xin ĐLHT và ông Võ Văn Ai chứng minh rằng tôi, Liên Thành, có những viễn đồ phi dân tộc và phản tổ quốc,

Bởi vì, tôi chính là người xác quyết ông Đôn Hậu đã hoạt động cộng sản. Và căn cứ trên tinh thần của thông tư được ký bởi ĐLHT và đăng trong Website queme.net của ông Võ Văn Ái, rằng những ai nói hàng ngủ lãnh đạo Phật Giáo làm cộng sản, và đặc biệt nói ông Đôn Hậu là cộng sản, đều là những kẻ có viễn đồ phi dân tộc và phản tổ quốc.

Tôi nhớ ông Nguyễn Cao Kỳ cũng nói: “Nói lăng nhăng là phản quốc!”

Ông Võ Văn Ái cũng nói “ai nói hàng ngủ lãnh đạo Phật Giáo là cộng sản đều là những kẻ phản quốc!”

Ông Ái có bắt chước ngài cựu Phó Tổng Thống không vậy?

Chúng tôi dễ bị kết tội phản quốc quá!

Và tôi, Liên Thành, xác qưyết ông Đôn Hậu đã làm cộng sản trước tháng 4 /1975

Thế thì tôi đã có viễn đồ phi dân tộc phản tổ quốc? viễn đồ phi dân tộc là viễn đồ gì? Phải chăng ý GS muốn nói tôi mưu đồ làm mất dân tộc? Chuyện này có lẽ GS nên hỏi mấy ông cộng sản, mấy ông nằm vùng, còn tôi, cháu nội Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, e là chuyện phi dân tộc này hơi khó xảy ra. Tóm lại, chữ nghĩa ông Ái to quá, quá tôi không hiểu

Và Tỏa Án nào đây? Tòa Án của ĐLHT? Của ông Võ Văn Ái? Tòa Án Nhân Dân? kết tội tôi?

Xin nhị vị cũng chứng minh cái viễn đồ gì gì đó và tội phản quốc của tôi!

Bằng ngược lại?

Thì mặc dù cá nhân tôi luôn luôn hết lòng kính trọng ĐLHT Quảng Độ về những hành động can trường đảm lược, yêu quốc gia, chống lại bọn cộng sản, nhân cách cá nhân trong sáng của ngài, nhưng tôi cũng phải xin hỏi lại ngài rằng, nếu như ĐLHT và ông Võ Văn Ái không chứng minh được tôi có viễn đồ gì gì đó và phản tổ quốc, thì câu trả lời của công luận đến với nhị vị sẽ là gì?

Trân Trọng

Ký tên
Liên Thành
Một Phật Tử

Cháu nội Kỳ Ngoại Hầu Cường Để
Cháu ngài Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết
Cháu ngài ĐLHT Thích Chơn Trí
Con Hoàng Thân Tráng Cử, một nhà giáo có tiếng về nhân cách và thanh bạch tại Huế
Em ĐLHT Thích Chơn Kim

Cựu Chỉ Huy Trưởng LL CSQG Thừa Thiên/Huế
Email: nguyenphuclienthanh@gmail.com
Xin liên lạc với tôi để có số phone
P/S:

Thư này đã được gởi bằng Certified Mail đến:
1/Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền Viện:
90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Saigon
( Kính nhờ ông Võ Văn Ái bằng phương tiện riêng chuyển đến Ngài Đại Lão Hoà Thượng)

2/Ông Võ Văn Ái: BP 60063
94472 Boissy Saint Leger cedex, France

Thư cũng đồng thời được chuyển bằng email đến ông Võ Văn Ái: queme@free.fr
Thư trả lời ĐLHT Quảng Độ này cũng được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông và Internet để rộng đường dư luận,
Xin quý vị vào trang queme.net để đọc lại thông tư của ĐLHT và ông Võ Văn Ái, post ngày 18/1/2010 để tham khảo

Xin thứ lỗi rằng tôi đã phải buộc lòng đem thân thế gia đình tôi ra “khoe”, chẳng qua để quý vị đánh giá thử xem tôi có cơ may nào có “viễn đồ phi dân tộc phản tổ quốc”không?

Ông Ái có quyền nói bất cứ điều gì ông muốn, kể cả nói bá láp. Tất nhiên, không phải cái gì ông Võ Văn Ái nói đều là chân lý cả. Hãy để công luận và lịch sử đánh giá

Liên Thành
- Nguyên Phó Trưởng Ty Cảnh Sát Đặc Biệt
Ty CSQG/Thừa Thiên-Huế 1966-1969
- Chỉ Huy Trưởng BCH/CSQG
Thừa Thiên-Huế 1969-1975
***
(TeHong chuyển tiếp)