Wednesday, December 30, 2009


Ngày khai sinh: 24 tháng Hai, năm 2004
*
Địa chỉ tạm thời liên lạc với Diễn Đàn: hc.thanhu@gmail.com

*
Làm sao để tìm lại được bài đã post?
Từ cột bên trái, rà xuống và click vô tên tác giả.
Nếu không nhớ tên tác giả, cũng từ cột bên trái nhưng ở dưới đáy, tìm theo tháng năm.
Bốn Labels đầu dành cho sáng/trước tác:
A-1: Thơ. A-2: Truyện và Tùy bút. A-3: Hội họa và Nhiếp ảnh. A-4: Tạp loại.

Sunday, July 12, 2009

Vẻ vang Dân Việt


Đồng môn
Nguyễn Văn Thuất

Tại Úc, Ông là người sáng lập ra ngày “ Children’s Day “, cách đây hơn 10 năm. Theo Ông, lúc khởi xướng, năm đầu, chỉ có vài trăm em tham dự. Nhưng vào năm. 2008, ngày “Children's Festival 2008” kỷ niệm 10 năm thành lập, con số trẻ em và gia đình, đủ các sắc dân, đã lên đến trên 15,000.00 em.
**
Xin click vô đây cùng tác giả Cao Xuân Thức tìm hiểu về nhân vật đặc biệt này.

Saturday, July 11, 2009

Tâm sự cuối tuần


Cong Cong
Khi đưa bài thơ Nụ Cười Nhàu Nát của đại gia Lan Đàm lên Diễn Đàn, mỗ tôi "quảng diễn" thêm ý của câu chót "Rồi đêm, hoàng lan thơm ngào ngạt." Trưóc khi chấm dứt một ngày như mọi ngày mỗ trở lại email, nhắn chúc thi sĩ ngon giấc phủ đầy hương vị thâu đêm.

Thi sĩ hồi âm : "Ừ thì ngủ ngon từ lâu rồi vì luôn luôn có ...! Chỉ thương cho những ai "khóc" lẻ loi một mình thôi!!!!"

Sáng nay mắt nhắm mắt mở vô Net kiểm thư, mỗ gặp ngay một bài do một thi sĩ khác giới thiệu có nhan đề "Khám phá nét đẹp của Phong dao hoa tình". Bài trích một số thơ dân gian nói về chuyện xưa như trái đất nhưng lúc nào cũng hấp dẫn.
Cái thằng chồng em nó chẳng ra gì
Đêm ngủ nó gáy khì khì
Một giấc đến sáng còn gì là xuân
Chị em ơi hoa nở mấy lần ?
Thật phí của giời!
Chi bằng lấy chú thuyền chài
Nó vò, nó bóp, nó đè, nó đâm
Ấy đấy "thằng chồng" chẳng bằng một góc "chú thuyền chài"!

Tối qua, sáng nay gặp toàn những email rất ư bồi hồi hay nói theo kiểu mấy chàng và nàng ở Việt Nam bây giờ, những chuyện rất "ấn tượng".

Khi gặp những chuyện ấn tượng như vậy, những người sống trên mây như mỗ hay hứng bậy phọt ra vè, ra thơ. Không post lên thì ấm ức vì mất dịp tìm người đồng cảnh ngộ. Mà viết ra thì sợ người ta chê là tầm bậy tầm bạ như người đẹp nào đó ở Việt Nam trách cứ hôm nào. Thôi thì chịu đấm may ra được ăn xôi chăng. Xin viết huỵch toẹt ra để những lời tâm sự cuối tuần được trọn vẹn:
Đêm đêm nằm khóc chữ tình
Đợi mai đợi mối đời mình sắp xong!
Vân vê mép chiếu cong cong
Làm chi kiếp trước long đong kiếp này.
Nhớ mãi cái đôi chân mày
Đưa tay sờ soạng sự đời cong cong!
Điền Thảo

WHY WORRY ?


Việc gì mà phải lo lắng?

**

Có hai chuyện phải lo lắng:
Hoặc là bạn khỏe mạnh hoặc bạn bị đau.

Nếu khỏe mạnh, thì chẳng có gì phải lo lắng
Nếu bị đau, thì có hai điều phải lo lắng:
Hoặc sẽ được bình phục hoặc sẽ chết.

Nếu đưọc bình phục, thì chẳng có gì phải lo lắng.
Nếu bị chết, thì có hai điều phải lo lắng.
Hoặc lên thiên đàng hoặc xuống địa ngục.

Nếu lên thiên đàng, thì chẳng có gì phải lo lắng.
Nếu xuống địa ngục, thì sẽ bận tíu tít bắt tay bạn bè cũ,
còn thì giờ đâu nữa mà lo với lắng!


WHY WORRY ?

There are two things to worry about.
Either you are well, or you are sick.
If you are well, then there is nothing to worry about.
But if you are sick, there are two things to worry about.
Either you will get well, or you will die.
If you get well, then there is nothing to worry about.
But if you die, there are only two things to worry about.
Either you go to heaven or to hell.
If you go to heaven, there is nothing to worry about.
If you go to hell, you will be so darn busy shaking hands

with old friends, you won’t have time to worry.

(From: California Retired Teacher Association Newsletter)

Friday, July 10, 2009

Chống khủng bố

Cựu Thiếu Tá Liên Thành
trả lời các chất vấn
liên quan đến bài về Trịnh Công Sơn



Đã có một số độc giả góp ý cũng như thắc mắc sau loạt bài về Trịnh Công Sơn, vì thế tôi xin chính thức phúc đáp như sau:

Bài giải trình của tôi, với tư cách là một cựu trưởng ty CSQG Thừa Thiên Huế, nói về một ổ CS nằm vùng lớn nhất, nguy hiểm nhất, gây tác hại nhất cho Miền Nam, trong đó có đề cập nhiều về Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng của mạng lưới này, được viết theo lối vừa kể chuyện, vừa mang tính “phúc trình của cảnh sát”, thật tình không ngờ lại gây ra nhiều câu hỏi tùm lum như thế!. Tôi không phải là cây viết chuyên nghiệp, một gã “vừa cò vừa lính” kể chuyện, nghĩ sao viết vậy, chỉ muốn kể lại một sự thật. Cho nên, thiếu sót và không rõ ràng là chuyện tất nhiên. Đã có vài câu hỏi hoặc ý kiến mang tính mỉa mai xách mé, cố phủ nhận vấn đề.. Nhưng cũng có rất nhiều câu hỏi đứng đắn rất đáng trân trọng. Quả tình khi viết, tôi đã không nghĩ ra được điều là tôi đang viết lại một câu chuyện tình báo cho công luận, chứ không phải là đang làm phúc trình cho một cơ quan tình báo của chính phủ. Vì bài viết khá ngắn gọn cho một câu chuyện dài dòng, nên đã gây ra những thắc mắc chính đáng, và cũng tạo cơ hội cho những ai thích bắt bẽ kiếm cớ. Điều chính yếu là, đây là những dữ kiện thật, có liên quan đến một giai đoạn lịch sử đầy biến động, mà tôi lại là người nằm sâu trong cuộc, ngay trong cái nôi đã đẻ ra nó, nên bổn phận của tôi là phải mở nó ra, để những người viết sử có thêm dữ kiệ n và rút ra bài học cho hậu thế. Để làm vấn đề được hiểu một cách đơn giản và dễ dàng, trong bài này, chúng tôi sẽ cố gắng đề cập về một vài nguyên tắc sơ đẳng trong tình báo của mọi phía, cộng sản cũng như quốc gia dân chủ, nhằm hy vọng là những bài viết sau, tôi sẽ không bị lập lại những chất vấn cũ, hoặc giả những ý kiến hay câu hỏi mang tính xách mé chợ búa, làm tốn thì giờ người đọc. Và điều quan trọng nhất là, những nguyên tắc này có thể hữu ích cho những ai đang và sẽ tham gia các công việc nhằm dân chủ hóa đất nước, rút ra những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động, tránh bớt những sơ xẩy vô vàn đáng tiếc. Bên cạnh đó là nội gián nội thù, một vấn đề muôn thuở của tình báo, mà đã làm hủy hoại đi những tài năng của đất nước, như chuyện vừa mới xảy ra cho Luật sư trẻ Lê Công Định.

Đáng lý việc TCS phải đưa ra ánh sáng sớm hơn, thời điểm nầy đưa ra là quá chậm.

Tôi cần nói rõ “Nghề tình báo là một nghề khắc nghiệt. Những ai đã ở trong nghề này đều phải chấp nhận một cuộc đời nghiệt ngã, bị ràng buộc bởi luật pháp quốc gia và những quy luật chặt chẽ của cơ quan suốt cả đời, cho dù còn phục vụ hay đã về hưu. Họ sống thu mình im lặng câm nín, chôn chặt những gì mình đã làm, mình đã biết, cho đến lúc lìa khỏi cõi đời. Nói một cách đúng nghĩa là “sống để dạ, chết mang theo”.

Nhưng hôm nay, trong cảnh quốc gia suy vong, bị Cộng Sản đô hộ, vận nước điêu linh, chính phủ VNCH không còn nữa, tôi có bổn phận phải tường trình cho lịch sử những oan khiên của đất nước. Nhất là những nhân vật mà thời gian tính cho phép được bạch hóa. Sau khi sau nghĩ và cân nhắc,tôi viết cuốn Biến Động Miền Trung đồng thời sẽ công khai hóa sự thật về một số nhân vật tên tuổi. Bởi vì, do số phận run rủi, tôi lại làm Cảnh Sát Trưởng tại Huế, cái nôi của một hệ thống cộng sản nằm vùng sử dụng chiêu bài tôn giáo, sinh viên học sinh. Tôi có trách nhiệm phải bạch hóa.

Tự cổ chí kim cái gì thuộc về Tình báo, tức thuộc về bí mật, thuộc về im lặng. Chúng tôi, sống để bụng, chết m an g theo không bao giờ hở môi tiết lộ một điều gì cả. Tại sao? An ninh quốc gia, an ninh cho bản thân, an ninh cho đồng đội, an ninh cho những kẻ cộng tác với mình. Hầu như luật pháp mọi quốc gia đều quy định như thế, còn cộng sản, tôi không biết chúng xử sự và “luật” của chúng thế nào. Có rất nhiều trường hợp phải đến ba hoặc bốn nưoi năm sau chính phủ mới giải mật một số hồ sơ hoặc cá nhân. Đó là lẽ thường tình.

Sau 1975 Việt nam Cộng Hòa không còn nữa, tuy nhiên vì an toàn cho đồng đội và những tình báo viên, mật báo viên còn kẹt lại trong vùng địch kiểm sóat nên không thể tiết lộ. Đó là đạo đức tối thiểu phải có của một ngừời rất bình thường như tôi.

Tại sao không dám viết khi TCS còn sống? Liên Thành muốn nổi tiếng?

Cá nhân tôi khi viết về những gì tôi biết về TCS vì những lý do sau đây:

Tôi không muốn m an g tiếng “tiếng bất nghĩa, hoặc vì lười, hoặc vì sợ mà không nói ra sự thật. Và cũng không muốn để những ai đã thương, ghét, TCS ở trong tình trạng mù mờ về mọi phương diện của cuộc đời TCS, trong khoảng thời gi an mà quốc gia, và đặc biệt là xứ Huế, trải qua nhiều khổ nạn, xuất phát từ Đảng Cộng Sản VN, từ những kẻ buôn thần bán thánh, đội lốt tu hành như Trí Qu an g, Đôn Hậu.

Viết về TCS để mọi người cùng nhìn thật rõ TCS là ai? quốc gia? Cộng Sản, nhân cách thật, con người thật, và cũng để làm rõ hơn những nhận xét của bằng hữu đối với TCS, nhất là nhận xét của Trịnh Cung, Đặng văn Âu, và vài người bạn của TCS nữa, rôi quý vị tự chọn cho mình một thái độ.

Có người cho là tôi muốn bôi nhọ TCS để nổi tiếng.

Có cần bôi nhọ thêm TCS nữa hay không? Vì tỵ hiềm, vì g an h nghét TCS? Thành thật mà nói, quan hệ cá nhân giữa tôi và TCS, nếu không đề cập tới lý tưởng và quan điểm chính trị, tôi và TCS không hề có oán thù cá nhân. Tôi cũng đã từng giúp TCS và gia đình TCS bằng cách lờ đi một số việc mà khó nói ra để gia đình TCS sinh sống. Ngoài ra, tôi còn là bạn của Trịnh Công Hà, (không phải là Trịnh Quang Hà)chúng tôi là bạn võ sinh, thường xuyên tập Judo chung với nhau. Hà hiện ở Cali , chúng tôi vẫn còn là bạn

Tôi cũng không có thói quen ganh ghét, tỵ hiềm bất cứ ai, nhất là thuộc cấp của mình.
Còn nói bám vào TCS để nổi tiếng. Xin hỏi, bám vào TCS để nỗi cái “tiếng”gì? Tôi xuất thân là cháu đích tôn đời thứ 7 của Gia Long Hoàng Đế, dòng Đông Cung Thái Tử Cảnh, cháu nội Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Bà nội tôi là cháu ngoại vua Thiệu Trị, chị của Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết. Nhân cách và lòng yêu nước của tiền nhân tôi không đủ cho tôi “nhờ vả” hay sao, mà phải nhờ vào nhạc sĩ nằm vùng TCS để nổi tiếng? Tôi nói vậy thì thế nào cũng có điều tiếng rằng tôi là gã khoe khoang. Không sao cả, còn hơn là bị sỉ nhục ăn theo tên nhạc sĩ mất tư cách Trịnh Công Sơn. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc sỉ nhục truyền thống gia đình tôi. TCS là thiên tài của ai cũng mặc kệ, nhưng nhất định không phải là thiên tài của tôi. Vả lại, nếu không biết thì thôi, còn đã biết rõ TCS như thế, liệu ai có can đảm để đứng gần TCS không? nói chi đến “nổi tiếng”? Ngoài ra, có một kiểu nổi tiếng nữa, mà tôi cùng rất nhiều bạn đồng ngũ đã nổi tiếng, đó là “nổi tiếng bỏ chạy” trước đồng đội. Cái nổi tiếng này đã quá đủ để suy ngẩm đến cuối đời rồi, có cái nổi tiếng nào mà có thể xóa được cái nổi tiếng này không? cần thêm nữa không?

Những bắt bẻ sao đợi đến bây giờ mới nói ra? Dám nói ra khi TCS còn sống không? Đợi TCS chết, rồi muốn nói sao thì nói? Rõ ràng là muốn ăn theo, muốn nổi tiếng qua bài viết có tính cách nhục mạ một “thần tuợng, thiên tài”!

Thật tình mà nói, cho dù là không có kiến thức tình báo, nhưng những điều trong cuộc sống hàng ngày cũng đủ cho mọi người hiểu một cách sơ đẳng là, giả sử tôi công bố điều này lúc TCS còn sống, thì hậu quả gì sẽ xảy ra cho đương sự và những người có liên quan đã cung cấp những tin tức về TCS cho tôi mà vẫn còn ở lại VN? Quý vị không tin tôi, nhưng Công An CSVN sẽ tin, và cơ quan tình báo nước ngoài tin tôi. Lý do chất vấn thì tiểu tiết nông cạn, rồi cho là toàn bộ dữ kiện tôi đưa ra là không đúng, thì quả là chỉ muốn kiếm cớ mọn để bài bác mà thôi. Và cũng kiểu lý luận sờ voi như thế, thì lịch sử kiểu này chỉ là lịch sử của người sống? Người chết kể như xù?

Lý do mà tôi không thể công bố vấn đề TCS hoạt động 3 mang, khi đương sự còn sống, thì tôi đã nói ở trên, xin được nhắc lại một lần nữa. Thật ra, bất cứ ai là dân tình báo như tôi, đều hiểu ngay là tại sao như thế, mà không cần một lời giải thích nào. Tình báo có luật của tình báo. Nó căn cứ trên lương tâm, đạo đức và trách nhiệm đối với những người khác có liên quan, đã cung cấp thông tin cho CSQG vẫn còn ở lại VN. Ai có thể bảo đảm rằng TCS ko bị bắt nếu như tôi công bố rằng TCS đã từng hoạt động 2 mang cho tôi và tình báo ngoại quốc? mà hậu quả kéo theo những người khác nữa? Không gì có thể đặt trên tính mạng và an nguy của họ được. Câu chuyện mà chánh văn phòng cựu phó TT Mỹ Dick Cheney, Lewis “Scooter” Libby tiết lộ danh tính một điệp viên CIA, bà Valerie Plame, mặc dù đã được cho là” “degrade” đã gây rất nhiều sóng gió, hẳn quý vị còn nhớ? Tiện đây, Liên Thành tôi có đôi lời “tâm sự lòng thòng” dưới đây, để trả lời cho những kẽ cho là TCS quá nỗi tiếng, quá thiên tài, nên tôi muốn ăn theo

Tôi rời đất nước ngày 30/4/75, 32 tuổi. Với cái tuổi này, biết bao nhiêu thanh niên trong nước, bao nhiêu quân= nhân còn ở lại, lặng lẽ đi vào “chiến khu” với một tương lai đầy nguy hiểm và vô định: không lương tháng, không vũ khí quân trang quân dụng? không lương thực, đói khát! Không còn chính phủ, không còn tổ chức, nhưng họ vẫn liều mạng với một tương lai vô định. Vì sao vậy? Họ mơ uớc điều gì? Hoài vọng điều gì? Họ chiến đấu cho ai? Kết quả là những cái chết âm thầm nơi rừng thiêng nước độc, hay những bản án tử hình, những năm tháng tù đày suốt cả đời người! Vì sao những anh hùng vô danh này làm như vậy? Phải chăng là vì họ không thể nào chấp nhận được một thực tế là Miền Nam đã rơi vào tay CS? Đó là một niềm đau, một niềm uất nghẹn không thể chịu đựng được?

Chúng tôi, mỗi người chọn một con đường, con đường tôi đi là con đường hèn, nhưng niềm đau thì giống như nhau như đúc. Đau không thể chịu đựng được, đau vô bờ!

Tôi sang Mỹ, chôn chặt tất cả trong lòng, khóa kín nó lại, không dám nghĩ tới chuyện 30/4. Vẫn mơ mơ tỉnh tỉnh. Thật hay mộng đây? Những đêm mơ cố quận, đến khi tỉnh giấc, thật hãi hùng! Tôi lao vào mưu sinh, và cố gắng cho xong 4 năm đại học, để vừa như là một liều thuốc lãng quên ,vừa là có cái nghề nuôi bầy trẻ. Vừa làm 2, 3 job, vừa đi học. Nhọc nhằn tất bật để không có thời gian cho quá khứ hành hạ. Chuyện cũ vẫn cố đào cho sâu mà chôn nó đi theo ngày tháng. Nhưng nặng nề quá! khó quá! Qua tuổi lục tuần, về hưu, la cà bè bạn. Ngồi kể chuyện cũ với dăm ba thằng bạn lính, tụi nó há hốc mồm. Không ngờ chuyện tồi tệ đến vậy. Có thằng hỏi tôi, mày dám viết không? Dĩ nhiên là viết, chuyện thật có gì không dám? Chuyện láo mới không dám ! Vả lại ,nhân chứng sống vẫn còn đây. Trên 5000 nhân viên Ty CSQG cùng chia bùi xẽ ngọt với tôi, một số còn kẹt lại VN, một số lưu lạc khắp nơi, nhưng ít ra cũng còn khoảng 3000 rải rác đầy thế giới.

Lý do cuốn sách Biến Động Miền Trung ra đời là như thế. Càng viết, tôi càng thấy nhẹ người. Cuốn sách với tôi thật sự là một giải thoát!

Vấn đề Mậu Thân 1968
Tháng 5 năm 1967, HCM chủ tọa phiên họp của Bộ CT trung ương đảng CS Việt Nam để duyệt xét tình hình và kế hoạch cho chiến dịch đông xuân 1967-1968. Kế tiếp, từ ngày 20 đến ngày 24/10/1967, tại phiên họp của bộ chính trị, thay mặt Quân ủy trung ương, Tướng Văn Tiến Dũng trình bày dự thảo chiến dịch Đông-Xuân -Hè 1967-1968. Bộ CT quyết định mở cuộc tổng CK, tổng nỗi dậy vào đúng Tết Mậu Thân 1968.

Như vậy cuộc TCKT nỗi dậy đã được bọn chúng quyết định vào tháng 10/1967, để đánh lừa và tạo bất ngờ, HCM tráo trở đề nghị hưu chiến 7 ngày trong dip tết Mậu Thân, nhưng chính phủ VNCH chỉ đồng ý 3 ngày mà thôi.

Những hoạt động của VC được cơ qu an tình báo CSQG Thừa Thiên Huế ghi nhận trước cuộc Tổng Công Kích, Tổng nổi dậy tai Thừa Thiên Huế:

1- Tình báo Kỹ thuật.
Khoảng từ ngày 10 tháng 12 /1967, gần 20 ngày trước cuộc tấn công, cơ qu an tình báo dân sự đồng minh đã có một loạt không ảnh chụp được tại những vùng núi phía tây thành phố Huế: thượng nguồn sông Bồ, Khe Trái, động Chuối, sông Hữu Trạch, phát giác một số lượng đông đảo các lực lượng quân sự của VC đ an g tập trung tại các vùng trên. Tin tức tình báo kỹ thuật cũng nghi nhận một số điện đài quân sự địch đ an g hoạt động liên tục tại vùng nầy. Tôi đã được cơ quan tình báo dân sự đồng minh thông báo đầy đủ. Đồng thời họ cũng đã yêu cẩu tôi xử dụng lực lượng tình báo cơ Hữu CSĐB để phối kiểm và xác nhận thêm các tin tức trên.

2- Mười toán tình báo của 10 quận thuộc tỉnh Thừa Thiên từ phía bắc là quận Phong Điền, xuống tận phía nam là quận Phú Lộc, đều báo cáo về BCH tỉnh những tin tức tương tự giống nhau: Dân chúng trong những vùng C,D,F (lượng giá tình hình an ninh) đều được cơ sở VC địa phương thông báo: Mọi gia đình trong vùng đều phải mua trữ lương thực, dự trữ thuốc men, chuẩn bị cho một cuộc đánh lớn sắp xãy ra.

3- Một số cán bộ cộng sản từ cấp huyện trở lên cũng đã được lệnh rời khỏi địa bàn hoạt động lên mật khu hội họp. Tại thành phố Huế có 8 chi bộ đảng cộng sản và 80 cơ sở đảng bí mật có những họat động khác thường, bọn chúng tiếp xúc với nhau thường xuyên hơn. Tại các trạm giao liên nội thành có rất nhiều kẻ lạ xuất hiện.

4- Nhiều cơ sở qu an trọng nội thành được điều lên mật khu hội họp do Khu Ủy Trị Thiên tổ chức. Bọn họ rời thành phố lên Mật khu họp vào đầu tháng 12/1967 và trở về lại thành phố Huế vào khoảng 20 tháng 12/1967.
Đương nhiên, trong số những cơ sở lên họp tại mật khu có cơ sở nội tuyến của chúng tôi. Vì vậy, khi họ trở về chúng tôi nhận được báo cáo của họ như sau:

Khóa học tập này có khoảng 300 cán bộ và 130 cơ sở nồng cốt nội thành. Nội dung học tập là phương thức phát động quần chúng nỗi dậy tại nông thôn và đô thị. Nhiệm vụ của họ là sau khi trở về địa bàn họat động là thành lập các đội công tác làm nòng cốt phát động quần chúng tổng nỗi dậy khởi nghĩa. Cũng cần nói rõ thêm trong số những cơ sở nội thành được điều lên mật khu, có cả Giáo sư Lê văn Hảo, một số sinh viên đại học Huế. Bọn chúng là cơ sở nội thành VC.

Điểm chính rất qu an trọng là chúng tôi phát hiện hầu hết các thành phần thân cận tr an h đấu của Thích Trí Qu an g vào năm 1966, đào thoát lên mật khu, nay trong những ngày cận Tết, đã đột nhập trở lại, trú ngụ tại các căn cứ lõm của bọn chúng trong thành phố Huế. Căn cứ vào những sự việc vừa nêu trên, cộng thêm một số dữ kiện khác, chúng tôi, cơ qu an tình báo CSQG của BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế và cơ qu an tình báo dân sự Hoa kỳ sau khi nhận định lượng giá đều đi đến một kết luận chung là Việt Cộng sẽ tấn công Huế trong những ngày Tết Mậu Thân 1968.

Câu hỏi được đặt ra, tại sao tin tức tình báo của các cơ qu an tình báo VNCH và đồng minh đầy đủ như vậy, mà thảm họa vẫn xãy ra cho Huế? VC tấn công và chiếm giữ Huế 26 ngày kể từ 2 giờ 33 phút sáng, rạng ngày 2 Tết Mậu Thân 1968, tàn sát 5327 thường dân vô tội và bắt dẫn đi mất tích 1200 ngừời?

Có những điều sau đây để có thể lý giải một phần nào:

- Bản chất người quốc gia quá thiệt thà lương thiện, bị HCM và đảng Cộng Sản phỉnh gạt, hưu chiến 3 ngày. Chính quyền Miền Nam cũng như đồng bào Miền Nam đã không thể tưởng tượng nỗi rằng, cộng sản lại chọn ngày tết để chém giết đồng bào, vì dù sao chúng cũng là con người. Ai có thể ngờ những giờ phút thiêng liêng đầu năm của toàn dân tộc, dành để cúng giỗ ông bà, nhớ ơn tiền nhân, mà chúng lại nỡ đang tâm làm chuyện sát hại sinh linh vô tội. Chính quyền Miền Nam lúc ấy vẫn còn nghĩ là bọn CS không đến độ man rợ mất hết lương tri như thế. Cho nên, Miền Nam đã bỏ ngỏ tết Mậu Thân.. Lợi dụng sự lương thiện của Miền Nam , chúng đã phát động chiến tranh và tàn sát đồng bào cùng màu da tiếng nói. Chúng dùng mọi thủ đoạn, nhất là khủng bố bằng máu để thắng hôm nay, nhưng muôn vạn đời sau, mỗi độ tết về, lịch sử lại nhắc rằng, bọn Cộng Sản Việt Nam đã vô lương tráo trở, cuồng sát đồng bào Mậu Th n 1968.

- Các cấp chỉ huy Quân sự vô trách nhiệm, hoàn toàn không có kế hoạch phòng thủ cho Huế.

- Quân số và lực luợng không đủ để phòng thủ khi bị địch tấn công, vì đã cho quân nhân, cảnh sát xã trại năm mưoi phần trăm nghỉ Tết.

Và quan trọng nhất là tin tức tình báo từ lực lượng CSĐB/BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế, một phúc trình rất đầy đủ, đích thân tôi đưa lên cho trưởng ty, đã bị ém nhẹm. Lý do: trưởng ty CSQG Đoàn công Lập lại là nội tuyến nằm vùng, hoạt động cho Hoàng Kim Loan. ĐCL lý luận là loan tin đi chỉ sẽ làm kinh động dân chúng, chắc gì có thật. Trong thời gian làm phó ty, cá nhân tôi thấy Đoàn Công Lập có những hành tung và cách xử sự rất đáng ngờ. Sau đó cơ quan Tình Báo Dân Sự Hoa Kỳ có cho tôi hay là họ đang theo dõi Đoàn Công Lập, đương sự có những hoạt động nội tuyến. Từ đó tôi theo dõi hắn rất sát. Và hình như hắn cũng biết là tôi đang nghi ngờ hắn. Chúng tôi và cơ quan tình báo dân sự Hoa Kỳ đang phối hợp theo dõi để lấy thêm bằng cớ phúc trình lên trung ương, thì lại xãy ra biến cố Mậu Thân. Đêm 30 tết chính Đoàn Công Lập đã mưu sát tôi bằng cách ra lệnh cho tôi vào dẫn một đơn vị CSDC đến quận Nam Hòa, vì ĐCL nói rằng có một toán du kích sẽ đến đó. Bụng đã nghi ngờ Đoàn Công Lập, cho nên tôi rất cẩn thận. Khi tôi và 6 anh em nữa đến đó, thì không phải là một tiểu đội mà là một tiểu đoàn địch đang di chuyển. Nếu chúng tôi không nín thở nằm im, thì giờ này tôi và 6 anh em CSQG đã xương tàn cốt rục. Khi tôi trở về báo cho ông ta biết là không phải một toán mà là một tiểu đoàn, ông ta không phản ứng gì, chỉ hỏi “Sao anh khô ng nổ súng?” Tôi trả lời “ Nếu hồi đêm tôi nổ súng thì giờ này đâu gặp ông trưởng ty được nữa”.

Vì tình hình quá sức khẩn cấp nghiêm trọng, theo nguyên tắc không được vượt quyền Đoàn Công Lập, nhưng tôi đã vượt rào gặp Tỉnh Trưởng Thừa Thiên lúc đó là Trung Tá Phan Văn Khoa, để cố thuyết phục ông ta nên có kế hoạch chống đỡ tối thiểu, ít nhất là còn nước còn tát. Nhưng ông ta, không chú ý gì đến bản phúc trình của thằng trung úy quèn, mặt non choẹt, búng ra sửa mới 25 tuổi tôi cả, chỉ ừ hử qua chuyện. Kết quả:

Rạng sáng ngày mùng hai tết Mậu Thân, lúc 2 giờ 33 phút sáng là giờ khởi đầu của 624 giờ địa ngục. Năm giờ 30 sáng, lờ mờ bóng quân đội nhân dân giải phóng trong thành phố. Sáu giờ sáng, quốc kỳ VNCH không còn trên kỳ đài Phú Văn Lâu, thay vào đó là cờ của lực lượng Liên minh Dân Tộc, Dân chủ, Hòa Bình do ông Lê văn Hảo làm chủ tịch, Thích Đôn Hậu làm phó chủ tịch. Cờ gồm 2 mảnh màu x an h nhạt, ở giữa là màu đỏ sao vàng, không phải là cờ của MTGPMN. Bảy giờ sáng, Việt Cộng bắn xối xả vào đoàn dân chúng hốt= hoảng chạy nạn. Thây người ngã gục, máu đào tuôn rơi. Dân chúng chạy trốn vào nhà thờ Phủ Cam, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, trường trung học Gia Hội ,trường tiểu học Kiểu Mẫu, trường trung học, Thiên Hựu, chùa Diệu Đế, chùa Áo Vàng, số còn lại trốn tại nhà. Dân quận I thì chạy về Cầu Kho , M an g Cá, nơi có BTL sư đoàn I để tìm sự bảo vệ. Suốt 2 tuần từ mùng hai tết, trời u ám, mây xám đặc phủ cả thành phố. Huế trong cơn mưa lạnh giá buốt và trong nỗi sợ hãi rúng động kinh hoàng. Trong khi lực lượng quân sự cộng sản tấn công những vị trí qu an trọng trong thành phố, thì bộ phận an ninh chính trị của quân khu Trị thiên và tỉnh ủy, thị ủy Thừa Thiên Huế bắt đầu cuộc tắm máu tàn sát dân lành.

Mùng 3 tết, Lê Chưởng, chính ủy mặt trận Huế, bắt đầu thi hành nghị quyết ngày 21/1/1968 của trung ương đảng, chỉ thị cho Trung Uơng cục Miền Nam, khu ủy khu 5, khu ủy Trị Thiên, Phạm Hùng, Võ Chí Công, và thiếu tướng Trần văn Quang, tư lệnh mặt trận Trị Thiên. Nghị quyết gồm 3 điểm:

1/ Kêu gọi tổng nội dậy, thành lập chính quyền cách mạng
2/Thành lập mặt trận Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình
3/ Lùng diệt truy quét thành phần ác ôn, tàn binh ngụy, công an cảnh sát ngụy, thành phần làm tay sai cho Mỹ, CIA

Hầu hết đám nằm vùng theo Thích Trí Quang bao gồm giáo sư, sinh viên thanh niên tranh đấu đã thoát lên mật khu sau biến động 1966, nay trở về, đảm nhiệm là thành phần nòng cốt chỉ điểm và thi hành các vai trò trên, đặc biệt là vai trò truy quét tận diệt các thành phần Mỹ Ngụy ác ôn.

Chính quyền cách mạng được thành lập như sau: Lê văn Hảo: chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố. Lêvăn Hảo là thành phần tranh đấu Phật Giáo năm 1966 bị bắt, được Đoàn Công Lập trả tự do, cán bộ trí vận. Cán bộ điều khiển y là Hoàng Kim Loan. Phó chủ tịch UBNDCM là Đào thị Yến tức Tuần Chi, hiệu trưởng trường Đồng Khánh, tình nhân của Thích Đôn Hậu, cán bộ trí vận, HKL điều khiển thị. Đồng phó chủ tịch là thường vụ thành ủy Hoàng Phương Thảo. Chủ tịch UBNDCM quận I là Nguyễn Hữu Vấn, GS trường quốc gia âm nhạc và kịch nghệ. Chủ tịch UBNDCM quận II là Nguyễn Thiết. Thiết vượt tuyến vào Nam 1957, là cơ sở nằm vùng rất lâu ở Huế, SV luật khoa, thành viên BCH tổng hội SV đại học Huế. Quận III chưa tổ chức kịp nên Bảy Lanh, trưởng ban an ninh thành ủy đảm trách.

Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình: Vẫn Lê văn Hảo làm thêm một chức chủ tịch. Phó chủ tịch là Thích Đôn Hậu, tình nhân của Tuần Chi. Tổng thư ký: Hoàng P N Tường. Nguyễn Đắc Xuân, phụ trách thanh niên SVHS.
Trách nhiệm truy quét ác ôn Mỹ Ngụy được thực hiện như sau:

Nhiệm vụ thi hành bạo lực cách mạng được thực hiện bởi các “đội tự vệ khu phố”, do Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy, dưới sự điều khiển chỉ đạo của lực lượng an ninh quân khu và tỉnh ủy. Gồm các cơ sở nằm vùng rất bí mật trong nội thành, các thành phần trong phong trào Phật Giáo đấu tranh thoát ly lên mật khu sau biến động miền trung 1966, lực lượng HSSV giải phóng thành phố Huế. Các đội tử thần này rãi đều khắp 3 quận, là lực lượng sát máu và tàn bạo nhất, hơn hẳn Hồng Vệ Binh của Mao Trạch Đông. Ngoài Nguyễn Đắc Xuân, Chủ tịch quận I Nguyễn Hữu Vấn, quận II Nguyễn Thiết, tổng thư ký HPNT và HPNP, Hoàng văn Giàu, Nguyễn thị Đoan Trinh là những thành phần chủ chốt sát máu nhất của các đội này. Các đội tử thần này rãi đều trên các quận, chúng đi từng nhà, vừa đe dọa, vừa lục soát, vừa bắt những ai có trong sổ đen. Chúng chia làm 3 đợt. Chúng dụ địch. Những ai tự ý trình diện giao nộp vũ khí trong đợt 1 và 2 đều được chúng cấp giấy khoan hồng cho về. Thấy vậy, nhiều người trốn tránh khỏi 2 đợt kia liền ra trình diện. Đến sau đợt 3, chúng tóm gọn cả 3 đợt, yêu cầu mọi người đi họp tập tại các địa điểm mà chúng quy định. Tin tưởng như các lần trước, đi rồi lại về, mọi người kéo nhau đi. Và họ đã đi mãi không trở lại. Tất cả đã chết, tất cả đã bị bọn nằm vùng và cộng sản dùng vật cứng đập đầu rồi chôn sống, lấp xuống hầm sâu hố cạn, vài hố thì ở trong thành phố, còn hầu hết các hố c hôn còn lại là ở các quận vành đai.

Tổng cộng có cả thảy 26 hố chôn tập thể.. Hố ít nhất là 3 người, trung bình là 400 người, đông nhất là 800 người. Tôi cố gắng tóm tắt để trả lời quý vị. Muốn hiểu rõ danh sách đầy đủ hơn của bọn nằm vùng, chúng hoạt động chi tiết ra sao, những viên chức chính quyền, những quân nhân bị giết, giết như thế nào v.v xin xem trong cuốn Biến Động Miền Trung tôi ghi khá đủ như phúc trình của cảnh sát

Kết quả là Huế điêu tàn đổ nát, 5327 đồng bào vô tôi bị giết, 1200 người bị dẫn đi mất tích, khăn tang trắng ngập cả Cố Đô. Ngoài lực lượng chính quy CS Bắc Việt và đảng CSVN, những tay trùm chủ chốt nhất của vụ Mậu Thân gồm có: Lê văn Hảo, Hoàng phủ ngọc Tường, Tôn thất Tiềm, Tôn thất Dương Kỵ Nguyễn Đóa, Nguyễn hữu Vấn. Những đại đồ tể nỗi cộm nằm vùng đã trực tiếp bắn, giết, đập đầu, chôn sống đồng bào gồm có: Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng văn Giàu, Nguyễn Thiết... Riêng nữ sinh Nguyễn thị Đoan trinh, con gái Nguyễn Đóa, y thị vô cùng tàn bạo sát máu. Y thị cỡi Honda, mang AK, chận hỏi mọi người. Bất kỳ ai trả lời là lính, cảnh sát, nhân viên chính quyền là y thị nổ súng bắn chết ngay. Nhưng trời cao đôi khi không có mắt, y thị hiện nay vẫn sống chễm chệ trên tội ác, trở thành nữ thương gia giàu có tại Sài Gòn…

Tóm lại, chịu trách nhiệm không bảo vệ được đồng bào trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân là chính quyền VNCH các cấp, trong đó có cả tôi.

Còn thủ phạm tàn sát dân chúng là đảng CSVN, tất cả các nhóm tranh đấu nằm vùng. Qua lời khai của Hoàng Kim Lo an và một số cơ sở Việt Cộng khác, những tài liệu thu thập được, cũng như qua các phương pháp thu thập và kiểm chứng thông tin với nhiều nguồn khác nhau, ty CSQG Thừa Thiên Huế cũng như ngành tình báo trung uơng của chính phủ VNCH đã có quá nhiều bằng chứng để kết luận như thế. Đảng Cộng Sản và những tay đồ tể này, cần phải bị đưa ra tòa án tội phạm quốc tế. Hãy so sánh vụ tàn sát Mỹ Lai mà Đảng CSVN vẫn sử dụng để quảng cáo cho “chính nghĩa cộng sản” và khỏa lấp tội ác của chúng. Tính tới thời điểm này, đã có quá đầy đủ bằng chứng cho thấy CS đã cố ý dùng thường dân vô tội để khiêu khích tạo ra các vụ tàn sát bởi bàn tay của một vài cá nhân quân nhân Hoa Kỳ như William Calley. Chiến lược gài độ này được dùng để tạo nên sự giận dữ của thế giới và mất đi sự ủng hộ của dân chúng Hoa Kỳ đối với cuộc chiến tại Việt Nam , và là một cái cớ rất tốt để bọn phản chiến kêu gào chữi rủa. Cộng sản Việt Nam đã không chừa mọi thủ đoạn nào để gài độ đối phương, thì trách nhiệm vụ Mỹ Lai có phải chỉ thuộc về phía Hoa Kỳ mà thôi? Và hãy nhớ rằng, súng đạn và vài bàn tay quân nhân Hoa Kỳ gây nên cái chết của vài trăm người Việt Nam, thì có thể so sánh được không, với súng đạn của cộng sản, bằng chính bàn tay của cộng sản Việt Nam, giết 5327 đồng bào Việt Nam, 1200 người mất tích, như vậy có thể nói, con số chết là 6527 người, trong một chiến lược và chủ trương của đảng cầm quyền?

Cộng sản đang đô hộ Việt Nam , đang tự cho mình là minh quân. Nhưng, “Những minh quân của hôm nay đều trở thành hôn quân của trăm năm sau”. Lịch sử sẽ định tội phân minh.

Và trách nhiệm cũng thuộc về nhóm Phật Giáo Ấn Quang như các ông Đôn Hậu, Trí Quang, Thiện Siêu, đã gây dựng cơ sở cho cộng sản, tạo mọi điều kiện cho chúng tràn vào Huế. Tuy các ông không tự tay tàn sát đồng bào như bọn cộng sản và đám Hoàng phủ, Hoàng văn Giàu, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn thị Đoan Trinh, Nguyễn Thiết, nhưng các ông đã ủng hộ và đồng lõa, giúp tạo nên biến cố lịch sử thê thảm này….

Sau Mậu Thân, tỉnh trưởng Phan văn Khoa bị cách chức trả về quân đội. Đoàn Công Lập bị bắt. Trung Úy Trương Công Ân là người thụ lý hồ sơ ĐCL, hiện đang ở Orange County

Trả lời câu hỏi: Sau 1975 Đoàn Công Lập cựu Trưởng Ty CSQG/Thừa Thiên-Huế trốn tránh VC tại Sàigon cho đến ngày bị bệnh qua đời. Như vậy Ông Đòan Công Lập làm sao là cộng sản nội tuyến?

Đây là câu hỏi của một vị thầy giáo(?) đã dạy kèm cho con ông Lập tại Huế. Sau 1975 đã được Đoàn Công Lập che chỡ trốn tránh tại Sài gòn, như vậy Đoàn Công Lập khó có thể là CS.

Trong lịch sử tình báo, thật tình có nhiều chuyên không ngờ. Việc xãy ra vậy mà thực chất bên trong không phải vậy.

Xin đưa ra một vài vụ điển hình:

- Trong thời đệ I Cộng hòa, Ông Phạm Ngọc Thảo về hồi chánh đã cung cấp cho CP/VNCH nơi trú đóng của trung đoàn Quyết Thắng VC, Quân lực VNCH liền mở cuộc hành quân tiêu diệt gần trọn Trung đoàn nầy. Sau vụ nầy Ông Thảo đã tạo được lòng tin của chính phủ VNCH ông ta đã duợc nâng đỡ l an đến chức Tỉnh Truởng và cấp bậc cuối cùng là Trung Tá QLVNCH. Sau 1975 sự việc trung đoàn Quyết thắng mới một phần nào lộ ra ánh sáng:

Hầu hết cán binh của trung đoàn này là thương phế binh, bọn VC thí đám tàn binh này, để Phạm Ngọc thảo dùng làm món quà đầu thú, tạo niềm tin với chính phủ VNCH. Một công hai việc, vừa tẩy trừ gánh nặng thương phế binh, vừa cài được điệp viên trong lòng địch. Sau 1975 Phạm Ngọc Thảo được phong là liệt sĩ. Đây có thể được gọi là “khổ nhục kế” mà tình báo từ ngàn xưa đã áp dụng

- BTL/ CSQG tại Sàigòn cũng đã bị VC đặt chất nổ. Báo chí Sài Gòn hồi đó đã chê bai lực luợng CSQG là bất lực. Nhung họ đâu ngờ rằng để bảo vệ Tình báo viên nội tuyến của mình , BTLCSQG buộc lòng cho nổ theo lệnh của VC

- Cá nhân tôi sau khi trình bày đầu mối xâm nhập và được phép Đại Tá Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên chấp thuận, tôi đã vẽ sơ đồ xã Thủy An cho Đặc Công VC tấn công.

Với 3 ví dụ trên cho thấy việc Ông Đoàn Công Lập bảo vệ người thầy giáo chạy trốn cộng sản tại Saigòn thấy vậy, mà không phải vậy. Sau 1975, Đoàn Công Lập vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ dụ địch, ĐCL đã giúp thành lập những tổ chức kháng chiến do cục tình báo phản gián dàn dựng. Rất nhiều an h em bị bắt tại Sài Gòn là do ông lập chỉ điểm.. Vụ kêu gọi an h em tham gia kháng chiến hẹn gặp tại xa lộ Đài Hàn để lên mật khu là do ông Lập dàn dựng. Tất cả đã bị Công An đợi sẵn ngoài xa lộ và bắt trọn ổ, một số đi ở tù về hiện nay đang ở Cali sẳn sàng đối chất về chuyện này.

Liên hệ với tình hình hiện tại, đó là việc tất cả hình ảnh thu thập được khi Ls Lê Công Định sang Thái Lan tiếp xúc với Nguyễn Sỹ Bình và “đại diện” Đảng Việt Tân để học tập về phương pháp đấu tranh bất bạo động do một chuyên viên từ khối Đông Âu sang giảng dạy. Theo nghề tình báo, chúng tôi phải bắt buộc đặt nghi vấn thủ phạm gài bẩy trước tiên phải là những người có mặt trong các cuộn phim tang chứng, rồi mới đến những nghi can khác. Chuyện chuyên viên Đông Âu, nghe qua, rõ ràng là một “brand name”, dĩ nhiên tạo được niềm tin cho những người đang mong mỏi dân chủ cho đất nước ngay tức thì, vì đó là cái nôi của việc lật đổ Cộng Sản. CS đã sử dụng nó để quyến rũ những trái tim nhiệt huyết nhưng hơi nhẹ dạ như LCĐ. Chuyện “đại diện” Việt Tân thì quá dễ dàng nhanh chóng kiểm chứng được là Việt Tân giả hay thật. Vấn đề Nguyễn Sỹ Bình bằng xương bằng thịt thì không thể gọi là Nguyễn Sỹ Bình giả được. Chuyện soạn thảo Hiến Pháp cũng là do chính y mớm lời và gài cho LCĐ sửa chửa, và còn nhiều rất nhiều chuyện nữa. Khi những thước phim có đủ hình ảnh việc gặp gỡ, trao đổi, được đưa ra, làm sao LCĐ có thể phủ nhận? Việc dàn dựng Việt Tân giả nhằm hai mục đích: dụ dỗ những người nhẹ dạ có tâm huyết trong nước, bởi vì Việt Tân cũng có tên tuổi trong các đảng phái chống cộng hiện nay. Chuyện thứ hai là để triệt hạ uy tín của Việt Tân. Riên g việc chọn lựa Nguyễn Sỹ Bình làm con mồi dụ địch thì nguyên tắc bắt buộc mà Cục Tình Báo Hải Ngoại của CS phải chọn, ứng viên phải là người có thành tích chống cộng ở tù cộng sản v.v.Càng chống cộng có bản án ở tù nhiều chừng nào, tốt chừng ấy. Đó là phương pháp “khổ nhục kế” mà tình báo tự cổ chí kim ai ai cũng đều áp dụng. Chúng tôi và cộng sản đều áp dụng rất nhiều. Chiêu nầy nó rất cũ rích, nhưng vẫn rất hiệu nghiệm trong quá khứ, bây giờ, và mãi mãi. Mong mọi người phải vô cùng cảnh giác. Việc dàn dựng lên các đảng phái chống cộng để bắt người mưu đồ chống cộng là điều đương nhiên cục tình báo CS quốc nội và hải ngoại bắt buộc phải làm. Chúng tôi, những người làm nghề tình báo, rất thuần thục trong vấn đề cài người và sử dụng khổ nhục kế, dễ dàng kiểm chứng và nhận thấy hiện nay có ít nhất 3 đảng chống cộng trong và và ngoài nước là do Công An Cộng Sản cò mồi dựng nên. Cha Lý, Công Nhân và Nguyễn văn Đài đã rớt vào cái rọ. Trong phạm vi bài viết này, tôi không thể phân tích đầy đủ tại sao tôi kết luận như thế. Xin hẹn dịp khác

- Bửu Chỉ là ai?

Đó cũng là một chuyện thấy vậy mà không phải vậy. Vì là bà con trong Hoàng Tộc nên tôi có thể nói rất nhiều về Bửu Chỉ, và Bửu Chỉ cũng đã mất vào ngày 14 tháng 12 năm 2002, nên xem như mọi việc làm của Bửu Chỉ phải được bạch hóa để trả lại danh dự, công bằng và những đóng góp của ông đối với quốc gia. Đầu tiên xin nói về cá nhân Bửu Chỉ:

Bửu chỉ thuộc dòng Tuy Lý Vuơng. Phụ thân của Bửu chỉ là Cụ Ưng Thuyên, cháu nội ngài Tuy Lý Vưong, chú ruột là thầy Ưng Quả, một người bạn rất thân với phụ thân của tôi. Cậu ruột là Nguyễn Dương Đôn, Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục thời Đệ I Cộng Hòa.

Nói về cá tính và thói quen của Bửu Chỉ, cán bộ điều khiển NPLH hiện đang trú ngụ tại Cali , U.S.A. đã cho tôi biết như sau:

- Sau 1975, Bửu Chỉ hút thuốc, uống rượu nặng, ham mê nữ sắc, nhưng lại thích sống cô độc. Mệ vì vậy mà sau 1975 đã ăn ở với vợ của Hoàng Phủ Ngọc Tường là Lâm thị Mỹ Dạ. Bửu Chỉ rất ghét xu nịnh. Bửu Chỉ học hội họa, không phải học luật. Tranh Bửu Chỉ đẹp, bán rất đắt. Đã từng triễn lãm tại Pháp vào 1989. Vốn thuộc dòng dõi có truyền thống quốc gia yêu nước, Bửu Chỉ ý thức được tai họa của chủ nghĩa cộng sản, chúng tôi lại là họ hàng rất thân nhau, nên chuyện cộng tác vì lý tưởng chung là chuyện tự nguyện. Điều thuận tiện của Bửu Chỉ là bạn thân TCS, Đinh Cường và rất nhiều thành phần tranh đấu và đám SV cộng sản nằm vùng, lại tài giỏi, nên Bửu Chỉ đã dễ dàng thành công trong nhiệm vụ của một điệp viên quốc gia cài đặt trong mạng lưới nằm vùng. TCS và Đinh Cường cũng như những thành phần hoạt động nằm vùng cho đến nay đều nghĩ 100% Bửu Chỉ là đồng bọn của họ. Thân với TCS và đám nằm vùng tranh đấu chỉ là để thực hiện nhiệm vụ. Bửu Chỉ là người quốc gia chân chính, đã đóng góp rất nhiều cho ty CSQG Thừa Thiên Huế trong việc phát hiện và theo dấu rất nhiều cơ sở nằm vùng, trong đó có những hoạt động CS của TCS. Chính Bửu Chỉ là một trong nhiều nhân chứng quan trọng đã khai và xác nhận là Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ngôì ghế ông tòa, chủ trì cái gọi là “tòa án nhân dân” tại trường Gia Hội. Ông Tòa Tường đã ban lệnh xử tử 204 đồng bào vô tôi bằng cách đập đầu bằng vật cứng sau đó chôn sống tại một hầm tập thể cũng ngay tại trường Gia Hội. Sáng ngày 26/2/1968 chúng tôi phát hiện ra hố chôn tập thể này. Tất cả những điều mà Bửu Chỉ khai đều phù hợp với rất nhiều nhân chứng, trong đó có nhiều người là thân nhân là vợ con của ngụy quân ngụy quyền, ngụy cảnh sát bị hắn tuyên bố có nợ máu với nhân dân, đã có mặt tại phiên tòa hôm đó, và cũng hoàn toàn phù hợp với báo cáo của thiếu úy Trọng, trưởng toán tình báo khu vực quận 2, và lời khai của trung tá tình báo CS Hoàng Kim Loan mà chúng tôi bắt sau đó vào mùa hè 1972.

Không như TCS, không như đám bạn bè Việt Cộng nằm vùng, trái tim của Bửu Chỉ hoàn toàn dâng hiến cho quốc gia và lý tưởng tự do chân chính. Bửu Chỉ chết đi, không thẹn với tổ phụ, với non sông

Tại sao không bắt đám nằm vùng và Trịnh công Sơn?

Điều mà tôi bị chất vấn, hay đúng hơn là bị kết án nhiều nhất là: tại sao TCS và nguyên một danh sách dài đám trí thức nằm vùng không bị bắt! Tôi có thể khẳng định một cách đơn giản như thế này: “Nếu ông thân sinh tôi làm CS thì tôi cũng bắt!”

Và cũng để trả lời câu hỏi trên, tôi xin được hỏi ngược lại một câu: Chúng ta cần trốc cho tận gốc, hay chỉ cắt đi lớp cỏ bên ngoài? Để cho đám nằm vùng sinh sôi nẫy nỡ đến cỡ nào? lúc nào, và khi nào thì cần tóm gọn. Nên tóm những tên nào? Tên nào thì phải để lại cho nó thu hút những con ong chúa mới? Đó mới là việc mà giới tình báo chúng tôi phải suy tư tính toán.

Bài viết “TCS và những hoạt động nằm vùng” chỉ là một bài viết ngắn, nói đến những hoạt động nằm vùng của đương sự và đồng bọn mà thôi. Cho nên chúng tôi không tiện trình bày diễn tiến sự việc, kết cục ra sao, như trong cuốn sách BĐMT. Ngắn gọn là, qua theo dõi nhóm nằm vùng này, chúng tôi đã tóm gọn trên 1500 cơ sở nội thành quan trọng và gần 60 cơ sở kinh tài, trong đó có những cơ sở rất quy mô, đưa đi Côn Đảo ngay, không thể cho ở lại Huế mà hòng mong ngụy tạo một vụ kiểu Chín Hầm thứ 2, trong biến động 1966. Điều tối quan trọng là, nếu Huế thất thủ, thành phần này sẽ tắm máu Huế lần nữa, chúng trả thù còn hơn cả Mậu Thân. Chiến dịch thần tốc này có tên là “Chiến dịch Bình Minh”. Chiến dịch thật sự bắt đầu vào lúc 6 giờ sáng ngày 6 tháng 5 1972, nhưng trước đó 2 tiếng, để bảo đảm thành công trọn vẹn, chúng tôi đã quyết định bắt tên điệp viên chủ chốt nguy hiểm nhất, kiến trúc sư trưởng của toàn mạng lưới nằm vùng tại Huế và Miền Trung: Trung tá điệp viên CS Hoàng Kim Loan. Loan rất thông minh, hành tung xuất quỷ nhập thần. Chúng tôi tuyệt đối không thể để mất tên này. Hắn là cán bộ trực tiếp điều khiển Đôn Hậu, Trí Quang, thiết kế thành công nên một mạng lưới nằm vùng tinh vi và chặt chẽ, dưới vỏ bọc rất tôn giáo: Phật tử tiểu thương chợ Đông ba, Học sinh sinh viên Phật tử, chiến đo àn Phật tử, cảnh sát Phật tử, quân nhân Phật tử v.v . Rất nhiều lần Hoàng Kim Loan đã bí mật đến chùa Linh Mụ, Từ Đàm, gặp gỡ Đôn Hậu, Trí Quang. Chúng tôi theo dõi hắn và một số đồng bọn từ lâu. Và dĩ nhiên, chúng tôi muốn bắt hắn lúc nào mà chả được! Nhưng nếu làm như thế thì chỉ một vốn một lời. Chúng tôi muốn một vốn mười lời. Chúng tôi cần bắt trọn ổ, chứ không phải là vài ba tên tép riêu, đụng đâu bắt đó. Muốn đạt được điều này, chúng tôi theo dõi cặn kẽ, dài ngày và một kế hoạch cài người tinh vi mà phải tốn rất nhiều thời gian để có thể tạo được sự tin tưởng của bọn CS. Điều này đòi hỏi kiên nhẫn, công sức, nguy hiểm, và sự hy sinh rất lớn lao, ngay cả tính mạng, nhưng rất âm thầm đơn độc của biết bao nhiêu nhân viên CSĐB cài vào những cơ sỡ nằm vùng Huế.

Tại sao chúng tôi chọn thời điểm ngày 6/5/1972? Sở dĩ như vậy là vì tình hình Huế lúc đó đang hết sức nguy ngập. Chúng tôi đánh giá là kể từ ngày 6/5/72 trở đi, Việt Cộng có thể khởi động một cuộc tổng nổi dậy như tết Mậu Thân một lần nữa, bất cứ lúc nào, để tạo sức ép lên Hiệp Định Paris . Nên điều tối cần thiết là phải ra tay tóm ngay những thành phần nguy hiểm này, trước khi chúng dấy loạn. Để khỏi bị lộ, chiến dịch Bình Minh đã được tính toán chi li, cố không bỏ sót tên nào. Tôi đã ký sẵn trên 2000 lệnh bắt. Chiến dịch được thực hiện khẩn cấp và ráo riết trong vòng 12 ngày, trên toàn lãnh thổ Thừa Thiên, Huế. Nhóm không quan trọng như đám Trịnh Công Sơn, chúng tôi tiếp tục để chúng sinh sôi nẫy nỡ chờ các “vụ mùa” tiếp. Xin kể một vài cái tên “lớn” rất nỗi cộm tại Miền Nam mà chúng tôi, rất đau lòng khi khám phá ra trong chiến dịch Bình minh: Đó là Trung tướng Trần văn Trung, Thiếu tướng Lê văn Nghiêm, dược sĩ Nguyễn Cao Thăng.

Hai vị tướng kia quý vị đã biết tiểu sử và chức vụ, xin nói về chủ nhân Pharmacy Tràng Tiền : thuộc cơ sở cục tình báo chiến lược, với 2 nhân vật bí mật là dược sĩ Nguyễn Cao Thăng và Nguyễn Thúc Tuân. Năm 1951, Nguyễn Cao Thăng được cơ quan quân báo CS bố trí từ chiến khu về đầu thú với chính quyền quốc gia. Sau đó y lập gia đình với bà Nguyễn thị Ngọc Diệp, con gái ông Nguyễn văn Nghi, tức Hội Nghi. Ông Hội Nghi là bác ruột ông Nguyễn văn Ấm, chồng bà Ngô đình thị Hiệp, em gái TT Ngô đình Diệm. Con trai đầu ông Hội Nghi là ông Nguyễn văn Lễ, lấy bà Ngô đình thị Hoàng. Nhờ thế lực bên vợ, Nguyễn Cao Thăng đắc cử dân biểu nhiệm kỳ 1 đơn vị Quảng Trị. Sau khi có thế lực, Nguyễn Cao Thăng ly dị vợ.

Nguyễn Cao Thăng trở thành tỷ phú năm 1963, tổng giám đốc công ty dược phẩm OVP. Hắn ta leo đến chức phụ tá Tổng Thống thời đệ nhị Cộng Hòa.

Trở lại Trường hợp TCS, chúng tôi đã thảo ra một phương án theo dõi tinh vi bí mật mà bọn này đến chết cũng không thể ngờ. TCS đến giờ này, ở suối vàng, cũng không thể ngờ nhân viên tình báo chịu trách nhiệm theo sát y lại là X, một trong những người bạn thân ra vào gần gủi với y. Cũng như vậy, đó là trường hợp Lê Khắc Cầm, cán bộ điều khiển TCS. Chúng tôi giả lơ như không bao giờ để ý LKC, không bao giờ biết y là CS, và y đã tự do tung hoành. Cầm cứ tưởng những thông tin mà y chuyển qua những chuyến bay quân sự là an toàn số một. Ai dám đụng tới máy bay các ông tướng, ông tá? Thật ra các thư từ tin tức đó đều bị chúng tôi đọc và phối kiểm trước khi đến tay người nhận. Cho nên, tôi, Liên Thành, khẳng định lời của Lê Khắc Cầm nói rằng, tác giả của “Thư gởi Ngô Kha” là TCS, là sự thật 100%. Người nhận cuối cùng của lá thư này là Lê Khắc Cầm. Khi cái “thư gởi Ngô Kha” của TCS được đưa ra công luận của CS gần đây, thì liền bị tranh cãi kịch liệt. Gậy ông đập lưng ông. CS nói dối quá nhiều, cho nên kỳ này nói thật thì thiên hạ lại nghĩ ngược lại. Khi đọc qua bút tích này, những người hâm mộ nhạc TCS đều không tin nỗi. Lẽ nào một người siêu thực như TCS mà lại ham muốn quyền lực như vậy? Điều này là thực hay hư? Chính quyền CS muốn nỗi tiếng, nên ăn có theo TCS? Con người đầy tính “triết và thiền” của TCS không thể là chủ nhân của lá thư đầy ham muốn quyền lực trần trụi như thế! Dĩ nhiên, nhiều tr an h cãi đã xãy ra giữa nhóm bạn văn nghệ mới cũ , trên chính báo chí của CS, đến nỗi,“nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân” phải cất công đi “nghiên cứu” với Lê Khắc Cầm, để xác nhận xem TCS có thật là chủ của nó không. Cái bề ngoài đeo kính rất trí thức, đượm chút bất cần đời, lời nhạc thi khó hiểu như triết học, đã giúp TCS rất nhiều trong việc dư luận dễ dàng phủ nhận lá thư này là của đương sự. Hoàng Tá Thích, chồng Trịnh Vĩnh Tâm, em rễ TCS, em ruột của đại tá cộng sản Hoàng Xuân Tùy, cũng nhảy vào ăn có. Ông em rễ Hoàng Tá Thích cam đoan là TCS không màng danh vọng chính trị gì sất!

Tội nghiệp Lê Khắc Cầm. Ai không tin anh ta, nhưng tôi thì có thể làm nhân chứng cho anh ta, vì đó là sự thật. TCS là tác giả chính hiệu con nai vàng của cái ”Thư gởi Ngô Kha”, mà cơ quan CSĐB chúng tôi đã đọc qua. Cơ quan CSĐB của chúng tôi đã giảo nghiệm nét chữ, và sau đó có nhờ cơ quan tình báo bạn phối kiểm. Kết quả đều khẳng định là của chính hắn. Trong bức thư này, TCS đã nguyền rủa đời sống tại Miền Nam thậm tệ, và ao ước có ngày được nối vòng tử sinh với Hà Nội. Anh ta cũng khẳng định mình là một nhân vật của “đám đông” được đám đông thần tượng, nên anh ta phải có bổn phận với đám đông này. Đám đông đó là ai? Một đám thanh niên bạc nhược, chống chiến tranh trốn lính? Một đám thanh niên học sinh của thời thượng? chuyên nghe nhạc Trịnh, đọc sách Phạm công Thiện? Bổn phận của TCS đối với đám đông của đương sự là gì? Nối vòng tay lớn của chế độ cực kỳ tàn bạo và man rợ, điển hình qua các vụ Cãi Cách Ruộng Đất, vụ Quỳnh Lưu, vụ Nhân Văn Giai Phẩm, cho cái gọi là “đám đông” của hắn tại Miền Nam? Lá thư này đuợc viết vào mùa thu 1974 Xin quý vị tìm đọc là thư này ở www.damau.org để hiểu rõ thêm về TCS. Xin cho tôi miễn lời bình về nhân cách của TCS qua những lời mà y đã thóa mạ Miền Nam.

Một giai thoại giữa tôi với TT Nguyễn văn Thiệu, xin kể ra, để quý vị có thể tự trả lời câu hỏi tại sao chúng tôi không bắt TCS và nhóm nằm vùng Huế. Chúng tôi nhận được tin bọn CS sẽ đặt chất nỗ ở quán cơm Âm Phủ, khi Tổng Thống và các yếu nhân đến ăn ở đó. Tôi trình Đại Tá Tỉnh Trưởng, Ông không quyết định được mà muốn tôi cùng đi với ông vào trình tổng thống chuyện này, vì khi đó Tổng Thống đang nghỉ đêm tại Tòa Đại Biểu, lòng vô cùng băn khoăn lo lắng. Sau khi nghe tôi thuyết trình xong, ông cười tỉnh bơ và nói chỉ đúng hai chữ: “Cho nổ!”. Tôi tròn mắt ngó ông. Cái mà tôi chờ đợi không phải là 2 chữ đó, tôi chờ đợi 2 chữ khác, đó là “cho bắt”. Hiểu vẻ mặt sững sốt và hai con mắt đang trố ra của tên trưởng ty trẻ người non dạ, ngó thẳng vào tôi, ông điềm nhiên nói “Không biết mới sợ, biết thì còn sợ gì? Cho nổ!” “ Tổng thống cho lệnh em đó!” Và chúng tôi đã cho nỗ tại quán cơm Âm Phủ. Tiếng nỗ long trời lỡ đất kèm theo sự mừng rỡ của nhóm MTGPMN, bọn nằm vùng, và CS Bắc Việt, dĩ nhiên. Nhưng có điều, phía chính phủ VNCH không có ai bị giết như ý chúng mong muốn. Một thời gian sau, nhóm hoạt động khủng bố này đã bị chúng tôi tóm gọn.

Riêng nhóm họat động chung với TCS, gần 5 năm sau, thời điểm tháng 6 năm 1972, chúng tôi đã bắt khi chúng đ an g chuẩn bị tiếp một cuộc tắm máu thứ 2 như tết Mậu Thân. Chúng vẫn chọn lại cái tên quen thuộc sặc mùi tuyên truyền bịp bợm và đầy máu là “cuộc tổng nỗi dậy”. Vào ngày 6/5/1972 và 11 ngày tiếp theo sau đó, chúng tôi bắt gọn 1500 sơ sở qu an trọng của VC đưa đi côn đảo. Trong số đó có cả các viên chức VNCH, sĩ qu an , quân nhân VNCH như thiếu ta Lê Cảnh Thâm, trưởng ty CSQG tỉnh Quảng Trị, năm 1966., chi khu phó chi khu Hương Trà tỉnh Thừa Thiên màu hè đỏ lửa 1972, có an h ruột là thiếu ta quân báo CS móc nối từ khi y còn là trung sĩ, CS đã dùng tiền bạc chạy chọt cho học khóa sĩ qu an đặc biệt rồi tiếp tục dùng tiền để lọt vào các chức vụ qu an trọng. Y đ an g chờ lệnh thuyên chuyển tới trung tâm hành quân của BTL tiền phương quân đoàn I, để lấy tin tức hành quân của Trung Tuớng Ngô qu an g Trưởng, đ an g cố đánh bại 10 ngàn quân CS, tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Việc sắp thành thì bị SCQG Thừa Thiên Huế phát hiện trong chiến dịch Bình Minh. Y bị bắt. Bác sĩ Lê Khắc Quyến, khoa trưởng ĐH y khoa Huế, thành viên phong trào Hòa Bình. Nhà của Lê Khắc Quyến là căn cứ lõm, từng chứa chấp Phạm văn Nhân, em của thủ tướng CS Phạm văn Đồng. Nguyễn khoa Phẩm, chủ tịch hội đồng tỉnh Thừa Thiên, hoạt động trong tổ tôn giáo vận, em y là Nguyễn khoa Diệu Hồng, con nuôi Hồ Chí Minh, chủ tịch hội phụ nữ Việt Nam. Phẩm và Hồng là bà con với Nguyễn khoa Điềm, Ủy viên Trung uơng Đảng, đặc trách văn hóa giáo dục. Nghị viên hội đồng tỉnh Lê Qu an g Nguyên, …

Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, tôi không thể trình bày chi tiết như trong cuốn BĐMT. Xin thông cảm. Riêng TCS , chúng tôi chưa bắt vội, hơn nữa, khả năng y đang làm việc cho cơ quan tình báo ngoại quốc rất cao, chuyện bắt rất rắc rối, chưa chắc đã là hay. Tốt nhất là cứ để tình trạng như vậy mà khai thác cả hai phía. Thêm vào câu hỏi này là ý kiến cho là nhạc TCS gây nguy hại cho đất nước, lại hoạt động nằm vùng, tại sao chính quyền không bắt? tôi xin nhắc lại câu chuyện của tên nhà báo nằm vùng CS Vũ Hạnh. Sau khi chính quyền bắt tên CS Vũ Hạnh, liền bị một số rất đông các nhà văn nhà báo tên tuổi trong hàng ngũ quốc gia làm yêu sách chống đối kịch liệt. Họ đã gây không ít sóng gió cho chính quyền đương thời, kết án chính quyền bịt miệng báo chí, đàn áp đối lập.. Cuối cùng, chính phủ đành nhượng bộ, thả Vũ Hạnh. Sau 1975, Vũ Hạnh hiện nguyên hình là tên cộng sản, hắn thản nhiên giáng tội cũng như tham gia tố cáo tội ác Mỹ Ngụy phản động cho chính những “nhà” báo nhà văn, mà đã nằng nặc đòi chính phủ VNCH phải thả hắn ra. Có lẽ, đó chính là lúc các nhà văn bút tên tuổi này mới thấm sâu hai chữ cay đắng. Và tôi cũng tự hỏi, nếu như giới hữu trách lúc ấy cho lệnh bắt TCS, liệu nhóm nhà văn nhà báo “quốc gia thứ thiệt” này sẽ không làm chuyện đất bằng dậy sóng?

Tóm lại, âu đó cũng là điều đáng cho chúng ta suy gẫm về hai chữ “tự do”, nhất là những ai đã ký tên yêu sách thả các tên VC. Tục ngữ mình có câu “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” Họ không biết gì hết, nhưng không muốn dựa cột. Họ bù trớt như vịt nghe sấm, nhưng miệng họ to. Họ to miệng đến nỗi tự cho mình thành lập nhóm cái bang, có tên rất nỗi một thời là Ký Giả Ăn Mày. Họ có công bằng không, với những nhân viên công lực không tên không tuổi, hy sinh cả mạng sống mình, ngày đêm cố gắng truy tìm từng tên CS một, để bảo vệ nền Cộng Hòa? để rồi các nhà văn, báo, bút này đòi thả ra? Các nhà văn nhà báo kiểu đó, có bao giờ họ tự nhận phần nào trách nhiệm với lịch sử ?

Sự vụ lệnh của Trịnh công Sơn
Có trách cứ rằng tại sao tôi cấp Sự Vụ Lệnh cho TCS trốn lính trong khi đó lại chẳng nhận được gì đáng kể từ đương sự, cho nên, tôi cũng đáng chết theo TCS lắm lắm! Tôi hiểu sự bực tức này. Nghề của tôi là tình báo, nói trắng ra, tôi là một gã buôn tin tức. Những gì tôi cho TCS là một, thì tôi phải lấy lại ít nhất cũng là sáu bảy. Việc chúng tôi nói TCS chỉ cung cấp cho chúng tôi 1/10 tin tức mà đương sự biết, có nghĩa là chúng tôi đã biết tỏng 10/10 rồi. Không biết hết thì làm sao chúng tôi xác định là 1/10 được? Nói ra đây, chỉ là để công luận đánh giá tấm lòng của TCS có biết quay lại với lương tri con người hay không mà thôi. Nhất là sau khi chính đương sự đã biết rõ cảnh đồng bào Huế của hắn bị trói lại từng xâu dài, bằng dây kẽm, dây điện thoại, dây thừng, từng xâu người, lần lượt bị đập đầu, kẻ sống người chết, đều bị chôn vùi trong những hầm tập thể. Đau cho Miền Nam , là hắn vẫn chọn phía tội ác! Dù hắn chỉ cung cấp cho chúng tôi 1/10 những gì hắn biết, thì 1/10 đó cũng đủ cho chúng tôi phát hiện rất nhiều các tay CS nằm vùng liên hệ quanh hắn, chúng tôi cũng “lời bộn” rồi! Có người lại cho rằng Sự Vụ Lệnh mà tôi cấp cho TCS chỉ có giá trị tại Huế mà thôi, trong khi đó, đa phần là TCS lại ở Sài Gòn, thế thì tại sao TCS không bị bắt lính tại Sài Gòn? và như thế, có nghĩa là toàn bộ chuyện mà tôi nói ra chỉ là “ láo”. Thưa, hãy bình tĩnh, chuyện gì mà phải nóng nãy kết luận hồ đồ như thế? Muốn vạch lá tìm sâu nhưng mà lại không có một tí kiến thức gì về luật pháp cũng như giá trị của cái SVL rất ngon lành này, nên sâu làm sao mà bắt cho có? Nếu Cảnh Sát hoặc Quân Cảnh Sài Gòn hay của bất cứ tỉnh nào bắt TCS chẳng hạn, thì chỉ cần TCS xuất trình cái SVL này ra, cơ quan bạn phải gọi ngay cho Ty Cảnh Sát Thừa Thiên Huế. Chỉ cần chúng tôi xác nhận đó là người của chúng tôi, thì cơ quan bạn phải lập tức thả TCS ra vô điều kiện, mà không có quyền tra vấn gì thêm cả. Đó là luật của VNCH và cũng là luật của nhiều nước khác. Ở Mỹ cũng thế thôi! Như vậy, nó mới làm cho gã trốn lính TCS này thèm muốn mà phải cộng tác với chúng tôi chứ!?

Riêng vấn đề TCS có hoạt động cho tình báo ngoại quốc hay không, và là ngoại quốc nào, tôi biết rõ 100%. Nhưng điều này tôi không thể viết rõ. Khi chúng tôi đã mở hồ sơ theo dõi, thì con ruồi bay qua chúng tôi cũng biết. Cũng như rất nhiều chuyện đời thường của đương sự mà nói ra thì quả thật khó tưởng tượng nỗi. Nếu tôi viết rõ TCS hoạt động cho tình báo ngoại quốc nào, điều chắc chắn là sẽ ảnh hưởng đến an nguy của những người còn ở lại, và ngay cả chính cá nhân tôi. Và như tôi cũng đã nói, việc công bố những hoạt động tình báo 3 mang của TCS khi đương sự còn sống thì chẳng khác nào đưa một bản án tử hình cho đương sự và cho những người khác, đã âm thầm theo dõi những hoat động nằm vùng của TCS trước kia, mà nay còn bị kẹt lại ở quê nhà. Ai có thể đoan chắc là công an CS không tìm ra manh mối được? Tôi lập lại, tình báo có luật của tình báo, đó là lương tâm, là đạo đức dành cho các cộng sự viên của mình. Tôi chỉ có thể viết đến thế là cùng. Điều này nó cũng gián tiếp trả lời cho câu hỏi ‘Tại sao tôi lại đưa tên nằm vùng TCS đi Mỹ?!” Tất nhiên, chuyện này đã gây nhiều phẫn nộ, và nó có vẽ rất mâu thuẫn, thậm chí gây ngờ vực đối với tôi. Tại sao một kẻ “diệt cộng” như tôi lại rủ một tên nằm vùng đi Mỹ?

Thưa đâu có gì mà khó hiểu? Trước đây, tôi là “cán bộ” điều khiển TCS. Tôi cũng là chỉ huy trưởng trung tâm Phụng Hoàng Huế.“Ai đó”, họ biết chứ! Và vì vậy, họ đã yêu cầu tôi làm việc này. Tôi chỉ là một kẻ trung gian cho “ai đó”( xin quý vị tự hiểu),“ mời” TCS đi Mỹ mà thôi, cũng như ông Đỗ Ngọc Yến vậy,ông ta cũng đã phải “rủ” TCS đi Mỹ ! Chuyện đơn giản có thế!

Tôi cũng xin minh định một điều, tôi, lúc TT Ngô Đình Diệm bị thảm sát, chỉ mới 20 tuổi, còn là sinh viên, chưa hề giữ một chức vụ gì trong chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa. Tôi sinh vào tháng cuối cùng của năm 1942. Từ đó đến nay, tôi chưa hề tham gia bất kỳ một đảng phái chính trị nào..Tôi quý trọng nhân cách và tài năng của TT Ngô Đình Diệm, nhưng tôi cũng ủng hộ tinh thần chống cộng và đánh giá cao khả năng của TT Nguyễn văn Thiệu, trong số những người có tiềm năng lãnh đạo còn lại của Miền Nam. Điều này nghe ra, sẽ có một số người cho là nghịch lý, là ba phải. Vì “pro”TT Diệm mà sao lại còn ủng hộ cả Nguyễn văn Thiệu? kẽ đã bị kết án là một trong những thành viên tham gia đảo chánh, nhận 100 ngàn của Conine, có chứng từ chũ ký hẳn hoi!

Thưa, quan điểm của tôi rất rõ: tôi không bao giờ mù quáng yêu thương hay đập đổ một chính quyền nào cả. Tôi chỉ hết lòng bảo vệ Thể Chế Việt Nam Cộng Hòa, mà qua thể chế đó, quyền làm người được luật pháp minh định và thực thi, thông qua một chính quyền do dân bầu hợp pháp. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch của tôi. Tôi không thể đang tâm đập phá một thể chế, một chính phủ đang điều hành đất nước, khi mà chưa có một chính phủ khác tốt hơn để thay thế. Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã có tham gia đảo chánh phá đổ nền đệ nhất cộng hòa, nhưng sau đó, nếu chúng ta không chọn ông thì chúng ta chọn ai? Dương văn Minh? Trần Thiện Khiêm? Vũ văn Mẫu, Nguyễn cao Kỳ? …Dù sao đi nữa, thì ông cũng là “cái tốt nhất” còn lại mà chúng ta có được. Nhất là ông đã được dân bầu, và nhất là khi quốc gia với nền dân chủ còn non trẻ, lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh ghê khiếp nhất trong lịch sử loài người, đó là cuộc chiến tranh chống lại Chế Độ Cộng Sản. Kết quả thì người Việt Nam từ Nam chí= Bắc đều thấy rồi đó! Cái mà lịch sử đã thế vào, sau khi một thiểu số ngông cuồng say sưa đập đổ chính phủ VNCH, là cái thể chế Cộng Sản!

Tôi sẽ không bao giờ là người đập đổ bất cứ chính phủ VNCH nào do dân bầu lên, cho dù vị Tổng Thống đó tôi có ghét cay ghét đắng, nhất là lúc quốc gia đang trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng. Tôi chỉ muốn góp phần gìn giữ và làm cho nó tốt đẹp hơn, qua lá phiếu, theo sự suy nghĩ, theo cách của tôi. Vì nếu không làm như thế, thì tôi đã mặc nhiên giúp sức cho CS thanh toán chính quyền non trẻ VNCH, mà lại còn hợm hĩnh ngu xuẫn cho mình là có công với quốc gia dân tộc!

Tôi không có ý định viết sử.. Tôi chỉ muốn cung cấp cho lịch sử những vấn đề mà tôi biết, chuyện gì tôi đã làm, đã thấy. Để lịch sử phải đúng là lịch sử: Đó là, lịch sử phải là sự thật.

Điều gì biết rất rõ thì tôi mới viết. Những gì còn mù mờ thì không bao giờ tôi đề cập đến. Đó là bản chất của tôi, để ngày nào gặp lại tổ tiên tôi, ông tôi, cha tôi, tôi không thẹn với các ngài là tôi đã không dám nói lên sự thật.
Nhân tiện đây, với tư cách là thành viên trong Hoàng Tộc Nguyễn Phúc, tôi có lời chia xẽ với bất cứ ai m an g dòng máu Nguyễn Phúc là, dòng họ, tổ tiên chúng ta đã có công lớn trong việc mỡ m an g, khai ho an g lập ấp, giữ gìn phát triễn bờ cõi quốc gia. Ngày hôm nay, quê hương chúng ta không còn như khi các ngài còn tại thế. Lãnh thổ và lãnh hải đã mất, Cao Nguyên Trung phần Việt Nam cũng đ an g mất. Đến khi nào thì quốc gia mà đức Cao thế tổ Hoàng Đế Gia Long đã đặt tên là Việt Nam hoàn toàn rơi vào tay Bắc Kinh? Ai làm chuyện bán nước này? Nếu không phải là Cộng Sản Hà Nội? Và ai trong hoàng tộc đã và đ an g tiếp tay, cộng tác, phò tá cho bọn bán nước cộng sản tàn bạo này? Xin thưa, quý vị đã bán lương tâm, bán linh hồn, bán đi d an h dự, làm đau lòng các bậc tiên đế dòng họ Nguyễn phúc! Phủ phục bọn bán nước CSVN, quý vị đã làm nhục các ngài!
Tôn Nữ Thị Ninh là một trong những điển hình cho việc làm nhục anh linh tiên đế. Đề nghị Hoàng Tộc khai trừ tất cả các thành viên đã ít nhiều bắt tay giúp sức cho bọn CS bán nước.
Thần quyền và thế quyền.

Bài viết này, tôi riêng tặng tất cả những chiến sĩ quốc gia của lực lượng CSQG Thừa Thiên Huế, đặc biệt là những anh linh tử sĩ đã nằm xuống, đã bỏ mình âm thầm lặng lẽ trong mặt trận tình báo cực kỳ nguy hiểm trong lòng địch, để diệt trừ họa cộng sản. Tôi cũng dành tặng cho những ai yêu chuộng sự thật, và muốn thẳng thắn nhìn vào sự thật. Tôi không viết cho những kẻ muốn vạch lá tìm sâu, những kẻ chạy tội, những kẻ mù quáng phạm thượng đánh đồng tôn giáo với những người “lãnh đạo tôn giáo”, những kẽ cố tình đánh đồng những bậc chân tu với những tên cộng sản mặc áo tu hành..

Tôi xin chia xẽ vài suy nghĩ về vấn nạn thần quyền lũng đoạn thế quyền mà trong đó cá nhân tôi đã là một nạn nhân.

Cuối tháng 12/1969, chúng tôi nhận được tin tức từ cơ quan tình báo quân sự Hoa Kỳ CID tại Phú Bài cho biết có điện đài đang phát sóng tại địa điểm X, mà sau đó, chúng tôi xác định được là chùa Trà Am. Hai tháng sau, 4 tấm không ảnh chụp về đêm được nhận diện rất rõ có 3 tên VC vũ trang xuất hiện tại hậu trai của chùa.. Tôi và đại úy Trương Công Ân trưởng phòng CSĐB liền thiết lập một trạm bí mật theo dõi. Chưa đầy 6 tuần lễ sau, chúng tôi phát giác một số đối tượng CS mà chúng tôi vẫn đang theo dõi lên chùa hội họp vào những ngày thứ bảy chủ nhật, khi mà có đông thiện nam tín nữ đến lễ chùa. Vào trung tuần tháng 5/1970 sẽ có phiên họp của cơ sở nội thành diễn ra tại đây. Lúc 6giờ 30 sáng ngày 19/5 chúng tôi đổ 2 trung đội CSDC và 20 CSĐB đến vây chùa, bắt được một phụ nữ dưới 30 tuổi tên là Lê Thị Út, cán bộ an ninh thành ủy Huế, năm thanh niên khác, cùng thầy Thích Như ý. Tang vật gồm có một số tài liệu của CS gồm một nghị quyết mới nhất của trung ương đảng CS. Sau đó, qua khai thác 7 người này, chúng tôi biết được buổi họp tối hôm đó là để bố trí công tác cho 5 cơ sở nội thành, thực hiện một số mục tiêu phá hoại khủng bố, đặt chất nổ tại các cơ quan quan trọng của chính quyền và hai rạp Ciné Tân Tân và Châu Tinh.

Khi chúng tôi rời chùa Trà Am 9 giờ sáng ngày 19/5/1970 thì 3 giờ chiều cùng ngày, Phật Giáo bắt đầu biểu tình. Đoàn biểu tình rầm rộ kéo xuống tòa Hành Chánh Tỉnh phản đối chính quyền đàn áp Phật Giáo, yêu cầu thả người! Nghĩ mà cay đắng. Tất nhiên, chúng tôi không thể thả CS mà trong đó bao gồm ông Thích Như Ý. Ngày 20/5 lực lượng phật Giáo tiếp tục biểu tình rầm rộ hơn, phản đối chính quyền đàn áp Phật Giáo, yêu cầu thả người. Tình hình càng lúc càng trầm trọng. Cùng ngày, chúng tôi nhận được 2 công điện khẩn, một từ văn phòng tư lệnh CSQG thiếu tướng Trần Th an h Phong và một của đại tá trưởng khối CSĐB yêu cầu giải thích nội vụ chuyện bắt Thích Như Ý. Tất nhiên tôi lập tức phúc trình nội vụ. Chung quy cũng vì cái chữ “Thích” của ông ta mà ra, nếu ông ta không m an g họ “Thích” như mấy tên VC kia thì chính quyền địa phương, trung ương, và an h em chúng tôi đâu phải khốn đốn đến vậy. Và chuyện dĩ nhiên không dừng tại đó. Chúng tôi tiên liệu chuyện sẽ nổ lớn, vì Thích Như Ý có liên hệ gia đình với Tượng Tọa Thích Trí Thủ, Tổng Thư Ký viện Hóa Đạo Sài Gòn. Khả năng một biến động về phật Giáo lại xãy ra chỉ là chuyện thời gi an . B an tham mưu chúng tôi không còn giải pháp nào hơn là nh an h chóng lập hồ sơ đưa ra hội đồng an ninh tỉnh hoặc giải tòa, cùng lúc thương lượng với phía Phật Giáo. Tối 21/5, tôi đích thân đến chùa Linh Qu an g, gặp thượng tọa Mật Nguyên. Là một người cao tăng đức độ, phật tử hay bất cứ ai gặp ông đều nể trọng, ông giữ chức chánh đại diện GHPGVNTN miền Vạn Hạnh sau khi Đôn Hậu thoát ly ra bắc. Mặc dù phải đương đầu với những áp lực nặng nề từ những tín đồ quá khích và đám cơ sở VC đội lốt tăng ni, ông luôn luôn chủ trương tìm cách hòa giải với chính quyền bằng tấm lòng ngay thẳng từ bi. Ông tiếp tôi tại nhà hậu trai. Sau khi tình cho ông những bằng chứng, bốn tấm không ảnh, lời khai của Thích Như Ý và đồng bọn. Tôi cho Thượng Tọa biết là chúng tôi sẽ đưa ra hội đồng an ninh tỉnh, hoặc ra tòa, có thể mở họp báo để công luận suy xét.

Và tôi cũng đã hỏi ông: “ Bạch thầy, cứ mỗi lần lực lượng CSQG phá vỡ và bắt giữ một số cơ sở nội thành, thì giáo hội tại Huế lại tổ chức biểu tình, cho là chính quyền đàn áp Phật Giáo, bắt bớ tăng ni phật tử.. Vậy những người biểu tình đó là ai? Họ ở bắc hay nam vĩ tuyến 17?” Trầm ngâm một lúc, cuối cùng, ông nói với tôi:

“Con biết trong giáo hội Huế, người của bên kia cũng nhiều, khó mà kiểm soát được họ. Nhưng thôi, thầy không muốn đề cập đến chuyện này. Các cuộc biểu tình vừa rồi không phải là giáo hội hành động, mà là do một nhóm Phật giáo đồ. Khi nghe tin chùa Trà Am bị lục soát và thầy Như Ý bị bắt, họ hấp tấp biểu tình phản đối. Họ chẳng cần xin lệnh của giáo hội, chẳng có lệnh của Thầy. Mọi chuyện có thể trầm trọng hơn, thôi thì mỗi bên nhường nhịn nhau một tí. Thầy sẽ cho họ biết rõ nội vụ, yêu cầu họ chấm dứt biểu tình.. Phần con cũng nên tha cho thầy Như Ý và mấy người đó đi, mọi chuyện hóa giải tất cả”. Tôi không đồng ý.

“Bạch thầy, thật khó cho con. Thầy Thích Như Ý và mấy người kia là cơ sở và cán bộ an ninh nội thành Việt Cộng. Họ đang mưu toan và đã có kế hoạch đặt chất nổ phá hoại, giết hại dân lành. Họ phải bị truy tố ra tòa” Thượng tọa ngắt ngang lời tôi:

“Thôi được, mấy người kia là chuyện ngoài đời, thế tục, thầy không muốn nhúng tay vào. Riêng thầy Như Ý, con tha cho ông ta. Con có muốn thầy đứng ra bảo lãnh cho thầy Như Ý không?” tôi trả lời ông:

“Dạ, không dám. Con chỉ có thể hứa với thầy là con sẽ đưa ra Ủy Ban An Ninh tỉnh, với đề nghị thật nhẹ. Nhưng với 6 người kia thì con vẫn lập thủ tục giải tòa. Và lời hứa thứ 2 là sẽ không họp báo công bố nội vụ, nhưng với điều kiện sẽ không có cuộc biểu tình nào nữa vào ngày mai”

“ Con yên tâm đi. Thôi con về. Xe để ở đâu? Con ra cửa sau, cẩn thận đừng để ai thấy, kẻo thiên hạ lại tung tin thầy có quan hệ với ông Liên Thành, với Mỹ. Ngoại trừ có chuyện khẩn cấp, bình thường con cứ nói thằng Bích lên đây gặp thầy là được rồi”

Ngày 22/5 hồ sơ Thích Như Ý và đồng bọn được chuyển qua hội đồng an ninh tỉnh truy tố với đề nghị: Thích Như Ý: 3 tháng. Sáu đồng bọn: 2 năm tái xét. Và cuộc biểu tình chấm dứt lúc 10 giờ sáng ngày 22/5/1970
Mọi chuyển tưởng đã ổn, nhưng không. Ba ngày sau, 26/5, viên cố vấn CSĐBN gặp tôi:
“Đại Úy Thành, ông gặp rắc rối rồi”. Ông ta cho biết, nội trong ngày, khoảng 2 hay 3 giờ chiều, thiếu tướng Nguyễn Thanh Phong, tư lệnh CSQG và một phái đoàn cao cấp của chính phủ gồm đại tá Nguyễn Khắc Bình, giám đốc phủ Đặc Ủy Trung Uơng tình báo, một đại tá thuộc cục an ninh quân đội, nếu tôi nhớ không lầm là đại tá Nhuận và 4 sĩ quan cao cấp thuộc khối CSĐB/BTL sẽ gặp tôi điều tra việc bắt Thích Như Ý và lục soát chùa Trà Am. Như thế, “chuyện đã lớn” tôi lẩm bẩm..

Từ phi trường Phú Bài, đích thân tướng Phong gọi cho tôi ,yêu cầu tôi trình diện ông ta tại phòng khách danh dự của phi trường. Biết là chuyện không lành, một mất một còn, tôi cố gắng thu gom tất cả tài liệu, tang chứng, kể cả khối chất nỗ gồm 6kg chất nỗ TNT và 8 ngòi nỗ chậm, mà Lê thị Út đã chuyển từ mật khu về chùa Trà Am, sau đó đem cất giấu ở vùng nghĩa trang gần núi Ngự Bình, tôi để ở ngoài xe, cùng hình chụp tang vật.

Sau gần 30 phút thuyết trình diễn tiến và kết cục của sự việc, tôi kết thúc bằng câu nói “Trình Thiếu Tướng và quý vị trong phái đoàn, khối 6kg chất nỗ TNT và 8 ngòi nỗ chậm hiện đang để ngoài xe, quý vị muốn xem tôi mang vào?”

“Không cần đâu Liên Thành. Thiếu Tướng muốn hỏi em một câu nữa, Tại sao Phật Giáo ngưng biểu tình?”
Tôi thuật lại cuộc gặp gỡ và những thỏa thuận giữa Thượng Tọa Mật Nguyên và tôi cho ông nghe.

Tôi hiểu phần trình bày của tôi đến đây là quá đủ. Tôi xin phép ra ngoài, để cho phái đoàn thảo luận và quyết định số phận của mình. Vả lại, tôi cũng đã quá mệt, quá chán.

Liên Thành

Thursday, July 09, 2009

Mùi hương

QUÁ KHỨ

Thuở ấu thơ để lại thật nhiều kỷ niệm. Cuộc đời còn lại luôn luôn bàng bạc những kỷ niệm từ quá khứ trở về.

Gia đình tôi nhà ở đầu phố, cuối phố trước sân nhà một cư dân có một cây dạ lan. Những đêm hè oi ả, mùi hoa thơm lan tỏa cả một góc phố. Sự tò mò của một đứa trẻ buộc tôi kiếm cho ra một bông hoa vào ban ngày để được tận mắt ngắm nhìn những cánh hoa trắng dầy dặn mớn trớn trên đầu những ngón tay, những cánh hoa mịn màng nhiều đêm tôi đã say mê hương thơm từ đó tỏa ra.

Thế rồi sau này khi đi làm, một kỷ niệm về hương hoa khác lại đến với mình. Ngay hai bên những bậc thềm xi-măng căn nhà tôi thuê, dẫn xuống sân trước, là những khóm hoa nhỏ màu tím, tôi không biết là hoa gì chỉ nghe người ta nói là hoa mimosa. Mùi thơm cũng thường tỏa ra vào những đêm oi ả , thật ngọt ngào và đầy quyến rủ. Nếu đem nước tưới vô thân và gốc cây, hương thơm còn tỏa ra ngào ngạt hơn nữa.

Ban ngày muôn hoa khoe sắc trước ánh mắt người thưởng lãm. Nhưng về đêm chỉ còn hương thơm độc chiếm cảm xúc khách đa tình. Âm nhạc, phim ảnh, hội họa ... chưa có nghệ thuật nào thực sự tạo ra hương vị cống hiến cho người thưởng thức. Muốn cảm nhận hương vị cần phải sống, sống thực và giữa cái huyền diệu của màn đêm.

Một nụ cười nhàu nát rút cục được ướp vào hương thơm ...về đêm. "Rồi đêm, hoàng lan thơm ngào ngạt". Bài thơ Lan Đàm ngẫu hứng viết ra như để đùa cợt nhưng thực ra câu chót đã mở lối đi về quá khứ nồng nàn hương và vị...

Điền Thảo





Kỷ niệm ấu thơ ngọt ngào

Khảo luận: Ngôn ngữ Việt và tiếng Hán


Ngày nay, môn văn chương dạy cho các em không còn là môn văn chương thuần túy nữa mà có quá nhiều điều giáo dục về chính trị học được đưa vào nên không làm cho các em ưa thích và rung cảm như ngày xưa chúng mình học văn chương nữa. Đó là điều thực đáng tiếc và đáng lo. Văn chương là món ăn cần thiết cho tâm hồn. Ngày nay tâm hồn các em không còn được thưởng thức đầy đủ món ăn đó như chúng mình xưa kia.

**

Sáng nay tôi mở máy và nhận được thư anh Đh. gởi cho tôi nói về “tài viết văn” của học sinh Việt Nam hiện nay. Cách nay không lâu tôi cũng nhận được một email của anh Đ. về vấn đề nầy. Đó là điều làm cho nhiều người buồn phiền không ít kể từ sau 1975. Khà năng viết văn của các em hiện nay tệ lắm, không phải lỗi của các em mà là lỗi của cách dạy môn văn chương trong chương trình tiểu học và trung học. Người ta không dạy cho các em viết văn mà bắt các em học thuộc lòng các bài văn mẫu từ trung ương đưa vào. Bạn tôi đang dạy môn văn ở bậc trung học bảo rằng những bài mẫu nầy chẳng hay ho gì. Trong nhiều bài, lối hành văn không phù hợp chút nào với tuổi của các em, nhưng học sinh cứ phải học thuộc để khi đi thi thì cứ tuôn những bài mẫu đó vào giấy. Nếu đề thi không trúng với bài mẫu thì sẽ xảy ra những chuyện cười ra nước mắt. Thí dụ, một chuyện rất được nhiều người biết đến sau đây:

Trong lớp, học sinh được học thuộc bài mẫu về tả con chó, con mèo vv…. Lúc đi thi, gặp đề bài “Tả ông nội của em”. Có học sinh nhập đề ngay: “Nhà em có nuôi một ông nội”!

Những đoạn văn quái đản trong bài viết mà tôi nhận được từ email của hai anh cũng là kết quả của việc học các bài mẫu mà các em không thể tiêu hóa được nên lấy râu ông nọ cắm vào cằm bà kia.

Thế đó; bây giờ người ta thường không để học sinh tự viết lấy theo khả năng của các em rồi thầy cô dần dần uốn nắn cho các em. Bắt các em học thuộc lòng những bài mẫu là giết chết khả năng sáng tác của các em, kể cả các em có năng khiếu thiên phú về văn chương. Với tình thế nầy, trong tương lai, ở Việt Nam khó có nhà văn nào có thực tài xuất hiện. Thực là tai hại.

Không phải chỉ riêng vấn đề dạy các em viết văn mà rộng hơn, môn văn chương trong chương trình học cũng hỏng rồi. Ngày nay, môn văn chương dạy cho các em không còn là môn văn chương thuần túy nữa mà có quá nhiều điều giáo dục về chính trị học được đưa vào nên không làm cho các em ưa thích và rung cảm như ngày xưa chúng mình học văn chương nữa. Đó là điều thực đáng tiếc và đáng lo. Văn chương là món ăn cần thiết cho tâm hồn. Ngày nay tâm hồn các em không còn được thưởng thức đầy đủ món ăn đó như chúng mình xưa kia.

Tôi thường ưu tư về vân đề nầy. Vì vậy, cách nay vài năm, một người bạn đề nghị tôi viết cho kỷ yếu của trường trung học cũ một bài về giáo dục hay văn chương, tôi đã chọn đề tài ngôn ngữ, vì ngôn ngữ là nền tảng của giáo dục lẫn văn chương. Muốn chỉnh đốn văn chương thì trước hết phải có nền ngôn ngữ lành mạnh trước đã. Nền ngôn ngữ của chúng ta hiện nay đang có nhiều sự lệch lạc và bài viết của tôi có ý nêu lên một trong những sự lệch lạc đó với hi vọng đánh động lương tâm của những vị có tài. Tuy nhiên bài viết đó chẳng có tác dụng gì cả, có lẽ vì phạm vi phổ biến quá hạn hẹp và có lẽ vì ngày nay người ta chỉ chú tâm về kinh tế, về như cầu vật chất. Và tôi vẫn giữ niềm ưu tư đó cho nền văn chương của nước nhà.

Sẵn dịp viết lá thư nầy gởi cho anh Devannguyen và anh Ngquydinh, tôi đã lục và sao lại bài viết đó với ý nghĩ rằng nói lên được niềm ưu tư của mình với bạn bè thì cũng là một cách tự an ủi cho tuổi già của mình.


VAI TRÒ TIẾNG HÁN
TRONG NGÔN NGỮ VIỆT NAM

Một buổi sáng, một bạn đồng nghiệp cũ đến thăm tôi và đề nghị tôi viết bài để góp ý về nền giáo dục hiện nay. Điều đó chẳng khó khăn gì vì sau mấy mươi năm gắn bó với nghề nghiệp thì ở cuối cuộc đời, hẳn tôi cũng có một số ý kiến không tệ lắm về công việc mà mình đã từng tha thiết biết bao. Đối với nền giáo dục hiện tại thì có vô số điều phải nói. Tuy nhiên, trong nhiều năm nay, người ta đã phê bình quá nhiều nhưng chẳng đi tới đâu cả mà thậm chí còn làm cho rối thêm. Ý kiến nêu tràn lan trên báo chí thường có tính đã kích, đôi khi có vẻ như mất bình tĩnh và có lẽ có quá ít đề nghị xây dựng thực sự xác đáng. Hậu quả là những ý kiến phê bình đó đem lại bao nhiêu lợi ích thì chưa rõ nhưng đem đến cái hại thì ắt phải có.

Cái hại là làm giảm sự tin tưởng của học sinh đối với nền giáo dục mà các em đang thụ hưởng, sách giáo khoa mà các em đang dùng, nhà trường mà các em đang theo học và thậm chí mất luôn sự tin tưởng đối với thầy cô của các em nữa. Thực là đáng lo!

Làm mất lòng tin ở những tâm hồn trong trắng, theo tôi, là một điều cực kỳ tai hại. Dĩ nhiên, nguyên nhân chính yếu là những sai lầm trong chính nền giáo dục hiện nay, nhưng những lời phê bình bừa bãi cũng như đổ dầu vào lửa.

Sự mất niềm tin đó đôi khi trở thành khuynh hướng nổi loạn ở học sinh mà điển hình là sự kiện Nguyễn phi Thanh đã từng làm xôn xao dư luận. Do đó, tôi không muốn bàn về giáo dục công khai trên báo chí, vì không muốn đổ dầu vào lửa như những người khác đã làm. Tuy nhiên, nể tình bạn, tôi chọn một đề tài khác để trình bày, một đề tài rất quan trọng mà cho tới ngày nay chưa thấy ai đề cập một cách nghiêm túc. Đó là vấn đề ngôn ngữ Việt Nam. Tôi xin nhấn mạnh, đề tài về ngôn ngữ nầy còn quan trọng hơn cả giáo dục nữa, vì những lý do sau đây:

1. Ngôn ngữ có trước giáo dục rất xa. Từ thời tiền sử cổ xưa, khi con người bắt đầu sống thành đoàn thể để sinh tồn, họ cần phải trao đổi ý nghĩ cho nhau bằng âm thanh nên tiếng nói, tức là ngôn ngữ, đã sớm bắt đầu xuất hiện. Mãi lâu lắm về sau, có thầy có trò thì sự giáo dục mới chính thức hình thành.

2. Ngôn ngữ có tầm ảnh hưởng rộng lớn hơn giáo dục. Đối tượng trực tiếp của giáo dục là thầy và trò. Những người có con em đi học chỉ là thành phần gián tiếp, đa số phải dành thì giờ và năng lực để lo làm việc kiếm sống nhiều hơn là chú tâm đến giáo dục. Ngược lại, ngôn ngữ chi phối mọi người, già trẻ, sang hèn, không từ ai cả, ngoại trừ những người câm không nói được mà thôi.

3. Ngôn ngữ có ảnh hưởng sâu xa. Ngôn ngữ ảnh hưởng đến tâm hồn và tình cảm của con người hơn giáo dục rất ra. Ngôn ngữ giúp cho mọi người có thể kiếm sống, giúp mọi người hiểu nhau, giúp trai gái tỏ tình, giúp cha mẹ dạy dỗ con cái, giúp các nhà làm chính trị tuyên truyền và giúp người ta chửi rủa nhau khi nổi giận. Tóm lai, không có một sinh hoạt nào, dù tốt hay xấu, mà không cần đến ngôn ngữ. Giáo dục cũng nằm trọn trong vòng ảnh hưởng của ngôn ngữ vậy.

Có một lần, tôi nghe một câu chuyện khá cảm động về ngôn ngữ như sau. Một phụ nữ Việt Nam, do hoàn cảnh đẩy đưa nào đó, đến định cư ở một vùng hẽo lánh của Alaska bên Mỹ. Một hôm đi chợ, bà bỗng nghe sau lưng mình có giọng nói Việt Nam nên quay phắt lại và nhân ra hai đồng bào của mình. Quá xúc động, ba người ôm nhau giữa chợ, một người khóc, hai người kia nước mắt lưng tròng. Có lẽ, trong giờ phút đó, ba người đều cảm thấy rằng, trong cuộc đời, không có gì quan trọng bằng tiếng nói quê hương.

Trong nghề dạy học, ngôn ngữ có vai trò quan trọng bậc nhất. Đó không chỉ là một phương tiện đơn sơ mà còn là một nghệ thuật nữa. Thực vậy, ở tất cả các môn học, thầy cô cần phải khéo ăn khéo nói thì mới gợi được hứng thú nơi học trò để các em thu nhận kiến thức mà mình truyền đạt. Kiến thức thì đã được bộ Giáo dục quy định rõ trong chương trình và trong sách giáo khoa, thầy cô nào cũng bắt buộc phải truyền đạt bao nhiêu đó thôi, nhưng có người dạy hay nên học trò tiến bộ, có người dạy dở, học sinh chẳng thu nhận được bao nhiêu. Dạy dở là nói ra những kiến thức rời rạc với âm điệu nhạt nhẽo như nắm từng viên sỏi mà quăng vào đầu học sinh. Dạy hay là biết điều tiết âm điệu, lúc thì du dương, lúc thì hùng hồn cho phù hợp với kiến thức và với đối tượng ngồi nghe. Dạy hay cũng phải biết chuyển tiếp từ kiến thức nầy sang kiến thức khác một cách liền lạc làm cho những điều cần dạy trong giờ học kết thành một chuỗi hài hòa, học sinh nhớ được điều nầy là có thể liên tưởng đến những điều khác.

Vậy, thầy nầy dạy hay hoặc dở, không phải do khối lượng kiến thức của thầy mà chính yếu là do trình độ sử dụng ngôn ngữ vậy. Tôi nhớ, lúc trước, thỉnh thoảng tôi có giải thích cho các em nghe về vài khía cạnh của nghề nghiệp của mình. Có một lần vào cuối buổi dạy, tôi đã so sánh thầy giáo với người chiến sĩ. Người chiến sĩ mang thanh gươm bén ra trận còn người thầy giáo bước lên bục giảng với lợi khí là tiếng nói của mình. Nếu thầy giáo không biết trau dồi cách nói cho hay thì chẳng khác gì chiến sĩ ra trận với thanh gươm cùn.

**

Tầm quan trọng của ngôn ngữ thực là bao la. Vì vậy, trong khung khổ của bài viết nầy, tôi phải giới hạn vấn đề lại và chỉ bàn về vai trò tiếng Hán trong ngôn ngữ Việt Nam mà thôi.

Ngôn ngữ Việt Nam là do ông cha ta ở thời rất xa xưa đặt ra. Ở cái thuở còn lạc hậu, ngôn ngữ chỉ cần một số ít từ là người ta đã có thể liên lạc được với nhau rồi. Dần dần về sau, khi đời sống văn minh lên, sinh hoạt trở nên phức tạp, người ta cần có nhiều từ mới để diễn tả ý nghĩ của mình. Lúc đó, nước ta rơi vào vòng đô hộ của người Tàu. Sẵn có những từ của họ, ông cha chúng ta lấy dùng luôn, khỏi phải tốn công đặt ra những từ mới. Điều đó không có gì đáng chê trách. Mình chưa có mà người ngoài đưa vào thì mình cứ mượn, xin hay mua để trở thành vật sở hữu của mình. Ngày nay cũng thế, chúng ta đã dùng nhiều từ của Châu Au cũng như dùng những sản phẩm công nghệ mà nước ngoài đưa vào, trong khi chúng ta chưa có đủ trình độ và thì giờ nghiên cứu để chế tạo ra. Vậy, việc dùng những từ của nước Tàu văn minh thời đó để làm giàu cho ngôn ngữ Việt Nam không có gì gọi là xấu xa; hơn nữa, còn đáng khen vì ông cha mình không nhập suông mà biến đổi ra âm Việt Nam, tạo nên một loại tiếng độc đáo được mệnh danh là tiếng Hán. Trong số những tiếng Hán đó, dần dần, ông cha mình tuyển một số cần thiết để nhập vào ngôn ngữ Việt Nam. Đó là những tiếng Hán được Việt hóa, gọi tắt là tiếng Hán Việt.

Tôi xin mở ngoặc để nói thêm rằng từ Hán 漢, nguyên thủy nghĩa là nhà Hán, vương triều do Lưu Bang dựng lên, và cũng có nghĩa là dân tộc Hán, một trong 5 dân tộc lớn nhất của Trung quốc. Nhưng sau đó, ở nước ta, tiếng Hán có nghĩa là tiếng Tàu đọc theo âm Việt Nam để phân biệt tiếng Tàu đọc theo âm Tàu như tiếng Quan thoại, tiếng Quảng đông, vân vân. Trong bài nầy, tất cả tiếng Tàu đều được viết theo âm Việt Nam tức là trở thành những chữ Hán.

Được Việt hóa trong thời gian rất dài nên có rất nhiều từ Hán trở thành Hán Việt. Vài nhà ngữ học ước lượng số nầy chiếm đến hơn 60% trong tất cả từ của ngôn ngữ chúng ta. Vì thế, có những câu rất tầm thường, có vẻ Việt Nam thuần túy lại chứa rất nhiều tiếng Hán. Thí dụ: “Thiếu thời, cô học tiểu học tại thị trấn, học trung học tại thị xã; trưởng thành, cô học đại học y dược tại thủ đô; tốt nghiệp đại học, cô tận tâm hành nghề bác sĩ, cứu sinh mệnh vô số bệnh nhân trầm trọng”. 100% tiếng Hán Việt!

Sử dụng rất nhiều từ của Tàu cho ngôn ngữ mình nhưng ông cha ta vẫn giữ được Tổ quốc đứng vững để truyền lại cho chúng ta ngày nay. Ai cũng biết nước ta đã bị người Tàu đô hộ đến trên 1000 năm. Trong thời gian đó, người Tàu không chỉ bóc lột dân mình mà còn liên tục thực hiện mưu đồ đồng hóa mình thành người Tàu nữa. Họ đã đặt đất nước mình thành quận huyện của họ, sử dụng luật lệ và ngôn ngữ của họ để làm biến mất tổ quốc Việt Nam. Song song với Việt Nam, họ đã thực hiện công cuộc đồng hóa nầy với nhiều nước khác và họ đã thành công. Các nước đã có thời rất mạnh như Mông cổ, Mãn châu đều bị đồng hóa một phần hay toàn phần. Xem lịch sử, vào đời Đường, thầy Tam Tạng đi thỉnh kinh phải qua vô số quốc gia mới tới được Thiên Trúc nằm phía Bắc Ấn độ. Ngày nay, tất cả các quốc gia đó đều biến mất, chỉ còn một nước Trung hoa rộng mênh mông, trải dài từ bờ Thái bình dương đến tận Trung Á!

Thế mà Việt Nam không bị đồng hóa! Tại sao như thế? Có nhiều lý do; một trong những lý do chính yếu là ngôn ngữ, hay đúng hơn một khía cạnh quan trọng của ngôn ngữ. Đó là cách sắp xếp từ thành một câu mà bây giờ ta gọi là ngữ pháp hay văn phạm.

Trong ngôn ngữ thuần túyViệt Nam, chữ chính đứng đầu, sau đó là chữ bổ túc. Tôi tạm gọi đó là văn phạm xuôi. Thí dụ: cờ đỏ. Cờ là danh từ, tiếng chính, đỏ là tính từ bổ túc cho cờ. Ngôn ngữ Tàu thì ngược lại; họ nói hồng kỳ, tiếng chính là danh từ kỳ lại đặt sau tiếng bổ túc là hồng. Có lẽ xưa kia, người Tàu đô hộ xứ mình, muốn dân mình nói như họ, phải gọi “cha tôi” là “ngã phụ” hay ít ra cũng là “tôi cha” nhưng người mình vẫn cứ gọi “cha tôi”.

Một thí dụ khác rõ rệt hơn. Người Tàu nói: “Ngã muội chi mỹ diện”, thì ta nói (gương) mặt đẹp của em tôi chứ không nói theo văn phạm Tàu là “tôi em của đẹp mặt”.

Đó là một trong những lý do cản trở người Tàu đồng hóa dân ta và Tổ quốc Việt Nam ngày nay vẫn còn tồn tại trên bản đồ thế giới. Quả thực, ngôn ngữ có tầm quan trọng rất lớn và rất đáng cho các học giả bỏ công ra mà nghiên cứu cho tinh tường.

Điều kỳ lạ và lý thú là mặc dù mượn đến hơn 60% chữ Tàu, ngôn ngữ Việt Nam có vẻ giàu hơn và trong sáng hơn chữ Tàu. Tôi xin dẫn chứng. Tiếng Tàu có quá nhiều đồng âm. Thí dụ riêng âm “di” có đến 46 cách viết khác nhau (theo Từ điển Hán Việt của Nguyễn Tôn Nhan), âm “tư” có đến 57 chữ viết (theo Tống Phước Khải trong Internet); mỗi cách viết lại gồm nhiều nghĩa nên riêng mỗi từ nầy diễn tả hàng trăm sự việc riêng biệt. Tiếng Việt của mình đâu có quá nhiều đồng âm như thế. Trên nguyên tắc, ngôn ngữ nào có nhiều đồng âm thì ngôn ngữ đó nghèo và tối nghĩa; nghèo là vì sử dụng số lượng âm ít hơn những ngôn ngữ khác; tối nghĩa là vì khi một âm được xướng lên thì người nghe không hiểu được một cách đích xác ý của người nói. Thực vậy, tiếng Tàu nổi tiếng là tối nghĩa, nhất là trong những áng văn xưa. Nhiều đoạn, độc giả mỗi người hiểu theo một cách riêng biệt. Thí dụ, có một câu duy nhất, rất thông thường trong Lễ Ký là “Nam nữ thọ thọ bất thân” 男女授受不親 mà tôi đã thấy được đến bốn lời giải thích khác nhau.

Lời giải thích thứ nhất: Trai gái không được trao và nhận đồ vật của nhau.

Thứ hai: Trai gái không được tự tiện trao và nhận đồ vật một cách riêng tư.

Thứ ba: Trai gái được trao nhận đồ vật nhưng không được chạm vào tay nhau.

Thứ tư: Trai gái được trao và nhận đồ vật nhưng không được tỏ ra thân mật.

Thực là rắc rối. Những chỗ khác còn tối nghĩa hơn nữa đến độ các học giả lừng danh cũng chịu thua. Tiếng Việt của chúng ta sáng sủa hơn nhiều.

Tiếng Tàu thì rắc rối nhưng khi được ông cha mình biến đổi thành tiếng Hán Việt thì mang lại lợi ích vô cùng to lớn cho ngôn ngữ Việt Nam. Đó là công ơn đáng ghi nhớ của ông cha mình. Với lòng biết ơn đó, tôi xin kể ra đây vài lợi ích thiết thực của tiếng Hán Việt.

1. Tiếng Hán làm giàu cho tiếng Việt vì đã cung cấp hơn phân nữa tổng số từ. Tôi đã nói điều nầy ở phần trước, nên không cần phải giải thích thêm nữa.

2. Tiếng Hán Việt làm tăng giá trị của ngôn ngữ Việt Nam. Trong tiếng Việt có rất nhiều từ Hán cùng nghĩa với từ Nôm nhưng khi ta thay vài từ Nôm bằng từ Hán thì câu văn trở nên đẹp hơn gấp bội. Những thí dụ thì nhiều vô số kể. Những áng văn xưa và nay của ta sở dĩ trở thành tuyệt tác cũng nhờ sử dụng các từ Hán Việt. Lợi ích của tiếng Hán không chỉ giới hạn trong câu văn mà ở cả câu nói nữa. Đi dự tiệc cưới, tôi đã từng nghe hai lời giới thiệu sau đây:

Lời thứ nhất: Tôi xin giới thiệu đây là cha mẹ của chú rể.

Lời thứ hai: Tôi xin giới thiệu đây là song thân của chú rể.

Chỉ cần thay hai từ Nôm cha mẹ bằng hai từ Hán Việt song thân là lời giới thiệu thứ hai trở nên đẹp hơn và có thể làm cho lễ cưới trở nên trang trọng hơn.

3. Tiếng Hán Việt giúp ích rất nhiều cho việc soạn thảo những danh từ khoa học.

Vào đầu thập niên 50 của thế kỷ trước, khi tiếng Việt được quyết định chính thức dùng làm chuyển ngữ ở bậc Trung học và sau đó ở Đại học, các nhà viết sách giáo khoa lao vào việc dịch tiếng Pháp ra tiếng Việt. Nhờ dùng tiếng Hán Việt mà những vị đó đã diễn tả được đầy đủ ý nghĩa mà nhiều khi còn đem lại sinh khí cho các sách Việt ngữ nữa.

Thí dụ, trong toán học, ngày xưa tôi học chữ asymptote và phải thuộc nằm lòng cái chữ vô tri vô giác đó. Ngày nay các em được thầy dạy là đường tiệm cận và được hiểu: tiệm 漸 là từ từ, cận 近 là gần lại, tiệm cận là cái đường thẳng xáp lại càng lúc càng gần một đuờng cong và găp đường nầy ở vô cực. Thực là sống động.

Một thí dụ khác trong vật lý. Inertie là một từ rất quan trọng. Lúc đầu, người ta dịch là nọa tính 惰 性. Nọa 惰 có nghĩa là lười biếng. Nhưng inertie đâu phải là lười biếng. Một vật đang chạy, nếu không có gì làm cho nó đứng lại thì nó cứ chạy hoài chạy mãi như một thằng điên. Thế là lười biếng sao? Vì vậy người ta sửa lại là quán tính 慣 性. Quán 慣 có nghĩa là thói quen. Dùng chữ quán tính để dịch chữ inertie thi e còn hay hơn chữ gốc nữa .Thực là lý thú.

Một thí dụ khác về sinh vật học. Ở môn học nầy, học sinh và sinh viên không được nhầm lẫn giữa hai từ: ovule là tế bào sinh dục cái chưa được thụ tinh và oeuf là tế bào đó sau khi được thụ tinh rồi. Các nhà viết sách đã dùng từ Nôm trứng cho chữ oeuf và từ Hán Việt noãn 卵 cho ovule, dù trong tự điển Hán Việt, noãn 卵 cũng chính là trứng. Hay thực, tiếng Hán Việt quả là được việc.

Tôi chỉ nêu ba lợi ích để tượng trưng, chứ không phải chỉ bao nhiêu đó thôi đâu. Nhờ sử dụng tiếng Hán Việt mà ngôn ngữ Việt Nam trở thành một ngôn ngữ giàu và trong sáng, có thể diễn tả bất cứ tri thức nào của nhân loại. Điều đáng buồn là ngày nay không mấy người ý thức sự quý giá đó nên sử dụng ngôn ngữ một cách bừa bãi, có thể dần dần làm mất sự trong sáng và chính xác đi. Điều đó cần được báo động cho những học giả và những người có trách nhiệm.

Tôi xin nhắc lại một câu danh ngôn mà mọi người đều biết: “Nếu người thầy thuốc làm sai thì hại một người. Nếu nhà giáo dục làm sai thì hại nhiều thế hệ.” Thế mà, như trên tôi đã chứng minh, ngôn ngữ còn quan trọng hơn cả giáo dục nữa. Vì vậy, các dân tộc sớm văn minh đều đã nổ lực lo cho ngôn ngữ của họ. Nước Pháp chẳng hạn, vào thời Phục hưng, đã lập Hàn lâm viện qui tụ nhân tài và bỏ ra cả trăm năm, chỉ với mục đích làm cho tiếng Pháp trở nên chính xác và trong sáng. Ngày nay, chúng ta đã đi sau hàng bao nhiêu thế kỷ, phải bắt đầu ngay việc chuẩn hóa tiếng Việt đi thôi. Loài người càng tiến bộ thì càng có nhiều phát minh và nhiều từ mới, khoa học càng phát triển thì càng có nhiều điều tinh vi mà ngôn ngữ cần phải chính xác mới ghi nhận và phổ biến được. Vì thế, sự chuẩn hóa tiếng Việt thật vô cùng cần thiết và cấp bách.

Nhưng chuẩn hóa là làm việc gì?

Trước hết là sửa lại những từ Hán Việt đang dùng sai, chỉnh lại cho đúng với cái nghĩa nguyên thủy của tiếng Hán chứ không phải là cái nghĩa dùng theo thói quen hoặc tự tiện đặt ra. Hiện nay, người ta dùng sai nhiều lắm, cần phải tốn nhiều công sức để chỉnh đốn. Tôi chỉ kể vài trường hợp phổ biến mà thôi.

Một từ rất thông dụng là chung cư. Dùng sai một cách thực buồn cười. Chung 終 có nghĩa là cuối cùng. Chung cư 終 居 nghĩa là chỗ ở cuối cùng tức là cái mộ trong nghĩa trang. Thế mà có người rất hãnh diện khi nói rằng mình mới dọn về ở trong chung cư. Thực là dễ sợ. Phải sửa lại là chúng cư 眾 居 , nghĩa là chỗ ở của nhiều người, mới đúng. Có người bảo rằng chung cư có nghĩa là chỗ ở chung cho nhiều người. Sai rồi, chữ chung trong nghĩa chung chạ là tiếng Nôm không thể đặt trước tiếng cư được.

Một từ khác cũng phổ biến là quá trình. Quá 過 là đã qua, trình 程 là đoạn đường. Quá trình là đọan đường đã đi qua. Thế mà tôi đã thấy có sách và báo viết: Quá trình sắp tới của tôi là…..Tệ thực!

Thí dụ thứ ba là từ khả năng. Khả 可 là có thể, năng 能 là năng lực con người dùng để thực hiện. Khả năng là có thể dùng năng lực mình để làm việc gì đó. Vậy mà ngày nay người ta dùng từ khả năng thay cho từ có thể. Tôi cho rằng, người ta đã nhầm lẫn giữa hai từ khả năng 可 能 (capacité, capable) và khả dĩ 可 以 (possibilité, possible). Nhưng thôi, cứ dùng từ có thể, tiếng Việt thuần túy, ai cũng hiểu và trả từ khả năng cho điều có thể do năng lực tạo nên.

Tôi nghĩ rằng 3 thí dụ như thế cũng vừa rồi. Bây giờ xin sang vấn đề chuẩn hóa khác. Đó là việc dùng cho đúng văn phạm, nghĩa là sắp xếp các từ cho đúng thứ tự trước sau. Xét về hai nhóm từ gồm một phần chính và một phần bổ túc thì ta phải chia các từ thành 4 nhóm:

- Nhóm thứ nhất là những tiếng Nôm thì nhất thiết phải đặt phần chính phía trước dù có chen tiếng Hán Việt vào. Tôi tạm gọi là đó văn phạm xuôi. Thí dụ: Thân phụ của tiên sinh. Thân phụ (cha) là tiếng chính. Tiên sinh (ông) là tiếng bổ túc. Cả hai đều là tiếng Hán nhưng có từ của là tiếng nôm thuần túy chen vào nên phải đặt tiếng chính ở trước.

- Nhóm thứ hai là những tiếng Hán đã được Việt hóa hoàn toàn như áo 襖 quần 裙, cô 姑, bà 婆…. thì dùng văn phạm xuôi như nhóm thứ nhất. Thí dụ, phải nói áo lục, quần lục chứ không nói lục áo, lục quần, dù các từ đều là Hán Việt.

- Nhóm thứ ba là những tiếng Hán mới được Việt hóa nửa chừng thì dùng văn phạm cả xuôi lẫn ngược tùy nơi và tùy nghĩa. Thí dụ: cao 高, tu 修, học 學, tướng 將 v.v…Ta có thể nói tòa nhà cao (xuôi), hoặc hàng cao cấp (ngược); thầy tu (xuôi) hoặc tu sĩ (ngược); đồ dùng dạy học (xuôi) hoặc học cụ (ngược); vị thượng tướng (ngược) hoặc vị tướng tài (xuôi).

- Nhóm thứ tư, mới được Việt hóa sơ sơ thôi thì buộc phải dùng văn phạm ngược, và từ kép phải toàn là tiếng Hán. Thí dụ: quân 君 (vua), vương 王 (vua), ái 爱 (thương), ố 惡 (ghét). Ta chỉ có thể nói minh quân, hôn quân chứ không thể nói quân sáng suốt, quân u tối được.

Phân biệt 4 nhóm như thế rồi mới thấy bây giờ người ta dùng sai rất nhiều. Một tờ báo thuộc loại tầm cỡ ở Sài gòn đã gọi bọn đào vàng là vàng tặc, bọn trộm tôm là tôm tặc, bọn rải đinh ngoài đường là đinh tặc! Thực là khiếp. Các em học sinh có thể đọc và tưởng như thế là hay mà bắt chước để sáng tác trong bài thi mình những từ xe máy tặc, chó tặc, mèo tặc thì thực là tai hại. Trong một tờ báo khác, tôi thấy một tựa rất to ở trang nhất: Tuần thú đường sắt ký sự. Đường sắt là tiếng Nôm mà quăng chữ ký sự ra sau thì bậy quá. Cần phải viết Ký sự tuần tra đường sắt, nghe êm tai là vì đúng còn nói như trên nghe chỏi cái lỗ tai vì sai.

Đài truyền hình cũng chẳng khá gì hơn. Tôi còn nhớ, cách nay không lâu, sau khi lính Mỹ bắn chết nhân viên tình báo của Ý bảo vệ người nữ phóng viên vừa được bọn bắt cóc trả tự do, các đài truyền hình loan tin nhiều lần và nhắc đi nhắc lại nhóm từ nữ nhà báo. Thực là quá tệ! Nhà báo là tiếng Nôm nên phải dùng văn phạm xuôi và phải nói “nhà báo nữ” Còn muốn dùng văn phạm ngược thì phải dùng 3 từ Hán Việt: “nữ phóng viên” hay “nữ ký giả”. Các báo và đài đều có trưởng ban biên tập hẳn hòi; không biết tại sao các ông ấy lại để cho nhân viên mình viết và nói như thế.

Gần đây, tôi thấy xuất hiện rất thường xuyên hai từ triều cường. Hai chữ nầy có thể thay đổi vị trí trước sau và có hai ý nghĩa khác nhau. Cường triều 強 潮 gồm tính từ đứng trước danh từ thì có nghĩa là thủy triều lớn (haute marée). Triều cường 潮 強 thì lại là một mệnh đề gồm một danh từ triều và một động từ cương và có nghĩa là thủy triều đang lớn lên (la marée monte). Lúc nào cũng dùng chữ triều cường thì có thể sai hơn phân nửa trường hợp rồi.

* *

Tôi đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng tiếng Hán Việt vô cùng quý giá đối với ngôn ngữ Việt Nam. Tuy nhiên, việc dùng tiếng Hán không phải lúc nào cũng hay cũng tốt. Cần phải tránh dùng tiếng Hán Việt một cách thái quá hay bất cập. Tôi muốn nói thái quá là dùng tiếng Hán Việt một cách không cần thiết, và bất cập là cố tình tránh tiếng Hán một cách phi lý.

Có một lần, cách nay hơn hai mươi năm, tôi thấy một thầy giáo dẫn học sinh đi làm lao động, kéo thành hàng dài. Thầy dừng lại và la to lên: “Bộ phận phía sau khẩn trương lên”. Học trò nghe xong, nhiều đứa bụm miệng cười. Ở địa vị của thầy thì tôi sẽ nói: “Các em phía sau nhanh chân lên”. Câu nói đó dễ nghe và chắc chắn gây được cảm tình hơn.

Một người bạn cũ kể cho tôi nghe câu chuyện buồn cười thế nầy: Anh định cư tại Uc từ năm 1975. Cách đây vài năm, anh về Việt Nam lần đầu tiên và dùng tàu hỏa ra Hà nội thăm quê. Giữa khuya, tàu đến ga Đồng hới thuộc tỉnh Quảng bình. Đang ngủ say bỗng anh giật mình tỉnh dậy vì tiếng loa “… hành khách khẩn trương lên”. Anh hoảng hồn phóng xuống giường, chạy ra khỏi buồng của toa xe vì tưởng xe trật đường rầy hay có hỏa hoạn xảy ra. Té ra chẳng có gì quan trọng: nhân viên trên toa tàu nhắc nhở hành khách nào xuống ga Đồng hới thì hãy nhanh chân rời khỏi toa tàu. Thì ra, ở miền Nam trước đây, ngươi ta ăn nói một cách giản dị và chỉ thường dùng tiếng Hán Việt trong văn chương và khi có việc nghiêm trọng mà thôi.

Sau năm 1975, khi trở lại dạy học, tôi nghe hai từ lưu ban và không hiểu là gì, dù tôi đã đi học và đi dạy đến mấy mươi năm rồi. Về sau mới biết từ đó có nghĩa là ở lại lớp . Ở lại lớp mà nói là lưu ban 留 班 thì e không đúng bằng lưu cấp 留 級. Tuy nhiên, chỗ nầy dùng tiếng Hán Việt làm chi. Dùng chữ ở lại lớp thì vừa hay lại vừa dễ hiểu cho mọi người, nhất là nhân dân lao động có con em đi học.

Ngày xưa các cụ nhà ta dùng nhóm từ “dốt thì hay nói chữ” để chê trách những kẻ hay chen tiếng Hán, (thường là sai và không cần thiết) vào lời nói của mình. Chắc các cụ chán ghét những kẻ đó. Bây giờ cũng thế, nghe dùng tiếng Hán Việt một cách thái quá và bừa bãi, có nhiều người bực mình chứ không phải riêng tôi. Cách nay vài tháng, trên một bài báo, tôi thấy có một ông nào đó viết rằng ông đọc được ở ngõ đi vào của một địa điểm du lịch, hàng chữ to tướng dùng để quảng cáo “Nơi đây có đệ nhất thác”. Ông biết người ta đã viết sai vì thác là một tiếng Nôm thì không dùng như vậy được. Ông ấy đề nghị sửa lại là đệ nhất khê. Rất đúng văn phạm vì khê là tiếng Hán nhưng tiếc là sai nghĩa vì khê 溪 là khe nước chứ không phải là thác. Thác là bộc bố 瀑 布, nhưng đó lại là tiếng Hán thuần túy nghĩa là chưa được Việt hóa nên chưa thể dùng được. Trong trường hợp nầy, nên viết “Nơi đây có thác đẹp nhất”, vừa đúng, vừa dễ hiểu lại vừa hấp dẫn khách du lịch.

Đó là những thí dụ về việc lạm dụng tiếng Hán Việt. Ở chiều ngược lại, sự tránh né tiếng Hán Việt một cách phi lý cũng không phải là hiếm. Vì tránh né tiếng Hán Việt mà người ta bỏ từ trực thăng và thay bằng từ máy bay lên thẳng, làm mất đi sự gẫy gọn của ngôn ngữ. Cũng vì tránh né tiếng Hán Việt mà người ta bỏ tên thủy quân lục chiến mà thay bằng lính thủy đánh bộ trong khi từ trên đã rất quen thuộc và từ dưới cũng vẫn phải dùng tiếng Hán Việt là thủy 水 và bộ 步. Hai sự việc nầy đã được nhiều người đề cập trước đây rồi nên tôi chỉ nhắc sơ qua mà không bình luận thêm nữa.

* *

Với sự trình bày trên đây, tôi hi vọng người đọc đồng ý về sự cần thiết phải bắt đầu chuẩn hóa tiếng Việt càng sớm càng tốt. Ba nguyên tắc đầu tiên của việc chuẩn hóa là đúng đắn, đại chúng và hiện đại.

Đúng đắn là nguyên tắc đầu tiên bất khả nhượng, nghĩa là nhất thiết phải dùng cho đúng từ và đúng văn phạm. Chúng ta phải cương quyết sửa sai ngay bây giờ, để lâu thành thói quen thì rất khó sửa.

Đại chúng là phù hợp với cách dùng của nhiều người và mọi sự điều chỉnh phải thuyết phục được đa số chấp thuận. Tiêu chuẩn đại chúng đứng sau tiêu chuẩn đúng đắn cho nên, nếu đại chúng xưa nay dùng sai thì vẫn phải sửa và cố gắng thuyết phục đại chúng chấp nhận. Còn từ Hán Việt nào quá xa lạ đối với đại chúng mà có từ nôm thay thế thì cương quyết loại ra khỏi tự điển

Hiện đại là phải dựa vào cách nói và cách viết thông dụng hiện nay. Rất nhiều tác giả, trong đó có những người làm tự điển, thường có khuynh hướng lấy những tác phẩm xưa nổi tiếng để làm chuẩn mực. Điều nầy, theo tôi, không phải luôn luôn đúng. Với những áng văn cổ, chúng ta chỉ nên dùng để tham khảo chứ không dùng làm tiêu chuẩn tuyệt đối để chuẩn hóa ngôn ngữ vì vi phạm nguyên tắc hiện đại. Để làm thí dụ, tôi dùng ngay tác phẩm số một của Việt Nam là Truyện Kiều của Cụ Nguyễn Du, với câu thơ:

Lạ gì bỉ sắc tư phong,

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Bốn chữ bỉ sắc tư phong rất được các học giả lưu ý và được nêu ra trong hầu hết các từ điển. Chúng ta hãy xét từng chữ một.

Bỉ 彼 mà Cụ Nguyễn dùng có nghĩa là bên kia. Trong tiếng Việt không có chữ đó mà chỉ có chữ bỉ 鄙 nghĩa là thô lỗ, hèn mọn mà thôi. Trong kinh Phật có chữ đáo bỉ ngạn 到 彼 岸 là qua bờ bên kia, nhưng đó là cách viết nguyên tiếng Hán vào một đoạn kinh hay kệ chứ không phải là dịch ra tiếng Việt.

Chữ sắc 嗇 mà Cụ dùng có nghĩa là keo kiệt thiếu thốn. Tiếng Việt cũng không có chữ đó mà chỉ có chữ sắc 色 nghĩa là màu sắc và chữ sắc 敕 trong từ kép sắc lệnh 敕 令 mà thôi.

Chữ tư 兹 hay 斯 mà Cụ dùng có nghĩa là bên nầy. Tiếng Việt lại không có chữ đó mà chỉ có những chữ tư 私 (riêng tư), 思 (tư tưởng), 司 (tư lệnh), 資 (vốn liếng như tư bản) mà thôi.

Chữ phong 豐 nghĩa là dồi dào thì đúng là tiếng Hán Việt, như tài nguyên phong phú thường được dùng trong môn địa lý.

Tôi không biết, ở thời đại của Cụ, cả 4 chữ trên có được dùng một cách phổ biến hay không chứ ở thời đại chúng ta thì trong bốn chữ, có đến ba chữ chưa thể gọi là đã được Việt hóa.

Chúng ta hãy thử bàn tiếp về sự dùng chữ Việt của Bà Đoàn thị Điểm trong một câu thơ ở bản Chinh phụ ngâm:

Thành liền mong tiến bệ rồng.

Thành liền là gì? Tôi tra bản chữ Hán của Ông Đặng Trần Côn và thấy chữ gốc là liên thành trong câu thơ:

Dục bả liên thành hiến minh thánh 欲 把 連 城 獻 明 聖 nghĩa là muốn chiếm cả dãy thành trì để dâng lên cho vua. Bà Đoàn thị Điểm là một thi hào của Việt Nam, hẳn thế, nhưng riêng chữ thành liền mà Bà dùng thì khó mà chấp nhận trong tiếng Việt hiện đại được.

Trong bài thơ Cảnh chiều hôm của Bà Huyện Thanh Quan, có câu:

Gác mái ngư ông về viễn phố.

Chữ phố 浦 mà Bà dùng có nghĩa là bến sông, quả thực không có trong tiếng Việt ngày nay. Bây giờ chỉ có chữ phố 鋪 là phố xá, nơi có nhiều cửa hàng buôn bán.

Tôi nêu các thí dụ trên đây để nói rằng khi chỉnh đốn tiếng Việt thì phải tôn trọng các tiêu chuẩn nêu ra, nhất là tiêu chuẩn hiện đại, chứ tôi không hề tỏ ý nghi ngờ giá trị tác phẩm của các thi hào của dân tộc ta. Tôi vẫn luôn luôn xem các tác phẩm nói trên là những viên ngọc cực kỳ quý giá của nền Văn học Việt Nam. Tuy nhiên những viên ngọc ấy là những món đồ cổ, chúng ta không thể rút từng chi tiết trong đó ra để chuẩn hóa tiếng Việt hiện đại. Phố cổ Hội an thì rất quý, cần giữ gìn cẩn thận nhưng không thể dùng để làm khuôn mẫu cho việc xây dựng những đô thị ngày nay được.

* *

Biết bao nhiêu người, trong đó có tôi, mong muốn tiếng Việt mình trở nên phong phú và trong sáng hơn để có giá trị không thua bất cứ ngôn ngữ nào trên hành tinh. Ngôn ngữ là một trong những di sản lớn nhất mà ông cha để lại cho con cháu. Ai cũng phải có bổn phận làm cho di sản đó có giá trị hơn để truyền lại cho thế hệ mai sau.

Hầu hết các nước trên thế giới đã chỉnh lý và chuẩn hóa ngôn ngữ của họ. Công việc hệ trọng nầy bao giờ cũng là một việc khó khăn. Với tiếng Việt thì chắc chắn công tác sẽ hết sức gay go và phức tạp. Nội cái việc định xem, trong kho tàng tiếng Hán, những từ nào được chính thức công nhận là tiếng Việt, cũng đã ngốn biết bao nhiêu công sức và thời gian.

Vậy ai có thể đảm nhiệm trọng trách đó? Theo kinh nghiệm của những nước đã đi trước chúng ta thì đó là trách nhiệm của những người có tài, tập họp trong tổ chức gọi là Viện Hàn lâm. Đúng thế, chúng ta cần phải thiết lập các Viện Hàn lâm, trước hết là Viện Hàn lâm ngôn ngữ rồi sau đó đến những Viện Hàn lâm khác. Chúng ta thường hãnh diện tuyên bố mình có đến 4000 năm văn hiến thế mà cho đến thời đại nầy một Viện Hàn lâm cũng chưa có và thậm chí chưa được nhắc nhở đến, các cơ quan truyền thông ăn nói sai cũng chẳng có mấy người quan tâm thì đó quả thực là điều đáng buồn phiền và xấu hổ. Nghe nói hiện tại có một Viện Ngôn ngữ, nhưng cái viện đó ở đâu, làm việc gì thì chẳng mấy ai biết.

Từ thuở mới bắt đầu đi dạy học cho tới ngày nay, tôi vẫn ước mong xứ sở mình có một Viện Hàn lâm, không phải lập ra để làm cảnh mà để làm việc một cách tích cực, hầu làm vẻ vang nền văn học của nước nhà. Muốn được như thế, Viện Hàn lâm phải tập họp những vị có thực tài và tâm huyết chứ không phải những ông tiến sĩ “trời ơi đất hỡi”, chui vào đó cốt để “tùng xẻo” ngân quỹ nghiên cứu mà thôi.

Tôi đã qua cái tuổi mà thi hào Đỗ Phủ đời Đường gọi là “thất thập cổ lai hi”, còn ông bà mình gọi là tuổi “gần đất xa trời”. Một ngày nào đó không xa lắm, nếu được nhìn thấy, trên báo chí hay màn truyền hình, tin tức về việc thành lập một Viện Hàn lâm Việt Nam đúng nghĩa, thì đó sẽ là một trong những điều vui thích ở đoạn cuối của cuộc hành trình của tôi trên trần thế .

Tôi xin kết thúc bài viết với niềm tâm sự nho nhỏ và tha thiết nầy.

Võ Phá

Wednesday, July 08, 2009

Đối Thơ


**
Đa tạ Người Ẩn Danh đã đối thơ Tình Mộng của Út NT
Xin mời vào " chiếu thơ " để Út học hỏi thêm
Út NT

Thơ Như Thương

Click to enlarge

Tuesday, July 07, 2009

Nguyên nhân sâu xa của bạo động ở Tân Cương


Người Uighur cay cú với
chính sách cai trị của Bắc Kinh


Những cuộc bạo động diễn ra trước đây và hiện nay chống lại sự cai trị của Đảng Cộng Sản người Hán tại Tân Cương không phải hoàn toàn không có nguyên nhân. Nguyên nhân có thể bắt rễ từ nhiều thập kỷ trước đây mà có thể từ thế kỷ 18 khi nhà Thanh đã xâm chiếm miền đất mà nay người Tàu gọi là Tân Cương.

Vào những năm 40 đã hiện hữu nước Cộng Hòa Đông Turkesstan mà một phần hiện nằm trong tỉnh Tân Cương và nhiều người Uighurs cảm thấy đây là quyền bẩm sinh của họ.

Ngược lại họ trở nên một phần của Nước Cộng Hòa Nhân Dân Tàu vào năm 1949, và Tân Cương được tuyên bố là một vùng tự trị, dựa vào đại đa số dân chúng lúc đó là người Uighur.

Chế độ tự trị này không có thực, và mặc dầu Tân Cương hiện nay có một Thống Đốc người Uighur, nhưng người nắm quyền lực thực sự là Tổng bí thư Tân Cương thuộc đảng Cộng Sản Tàu Hoàng Ly Quân là một người Hán-Hoa.

Dưới sự cai trị của Đảng Cộng Sản, kinh tế phát triển đáng kể, thế nhưng vì đông đảo đám di dân trẻ và những người có trình độ kỹ thuật đổ vô từ các tỉnh phía đông khiến cuộc sống người bản địa Uighur trở nên khó khăn hơn.

Những người nhập cư này tất cả đều dùng lưu loát tiếng Hoa chứ không phải chỉ như một số ít người Uighur, nên những người nhập cư này thường được chỉ định vào những cộng việc tốt nhất.

Thế nên chẳng lạ gì người Uighur trở nên bất mãn sâu xa, coi việc nhập cư của đám Hán tộc như là một mưu toan của chính quyền nhằm làm tan biến cộng đồng của họ, phá hủy nền văn hóa của họ và để ngăn chận mọi cuộc đối kháng chống lại sự khống chế của Bắc Kinh.

Mới đây thanh niên Uighur được khuyến khích tha phương cầu thực. Ngưòi ta đặc biệt lo lắng vì gần đây chính quyền ép buộc phụ nữ Uighur đi đến những phần đất khác tìm kế sinh nhai khiến người ta càng sợ vì thấy rằng phụ nữ Uighur tách rời khỏi gia đình và cộng đồng nên không được bảo vệ, có thể trở thành gái bán bar hay gia nhập vào các nhà chứa.

Đạo Hồi là một thành phần bất khả phân của đời sống và gốc tịch của người Uighur Tân Cương. Thế nên họ hận chính quyền nước Tàu chính vì đã giới hạn việc hành đạo của họ một cách khắc khe.

Thiếu niên dưới 18 tuổi không được hành lễ ở đền thờ. Giới chức Đảng Cộng Sản và trong chính quyền cũng bị cấm như thê

Trường Hồi giáo Madrasas bị kiểm soát sít xao.Những cơ sở Hồi giáo khác một thời đã là tâm điểm trong sinh hoạt tôn giáo đã bị đình chỉ ...

Điền Thảo
Trích dịch từ: "Uighur resentment at Beijing's rule"
By Michael Dillon, Historian on Islam in China.

(Hình BBC)


____

Kết quả của cuộc bạo động ở Tân Cương :
- 156 người thiệt mạng
- Hơn 800 người bị thương.
- Khoảng 1200 người bị chính quyền cộng sản bắt giữ.
- Có tới trên hai trăm phụ nữ và người già Uighur xuống đường phản đối bất chấp cảnh sát.
- Chính quyền CS dùng mọi phương cách để dân chúng không vô được các trang Web đưa tin về cuộc chống đối này.
- Giới nghiêm trên toàn thủ đô Urumqi sang đêm thứ nhì.



NT đọc báo Người Việt

Tạ hôn

“ …. Phía Nam
nước Tàu (Trung Quốc) gần Việt Nam, người Mán có phong tục lạ là tạ hôn và cưới chịu. Các cô gái thường có 3, 4 người tình. Nhưng một khi cô đã chính thức đính hôn với ai, cô sẽ cắt bỏ quan hệ với người khác. Điều lạ là đêm tân hôn, cô dâu không làm lễ động phòng với chú rể mà đến với người tình cũ để tạ ơn và hưởng đêm xuân với anh ta. Cô gái phải đi tạ ơn mỗi người tình 1 đêm rồi trở về với chồng. …” (Người Việt)


Có thiệt hông nè trời !?
Hôm nọ, các quan anh đi Tây Lương Nữ Quốc. Còn bây giờ Út giơ tay xin đi chỗ này !!!

Monday, July 06, 2009

Hết Tây Tạng đến Tân Cương!

Lấn chiếm Biển Đông, liệu Nước Tàu Cộng Sản
có được lòng dân để vô yên thiên hạ

tại miền tây Hoa Lục tự trị?



Ít nhất 140 người thiệt mạng và hơn 800 bị thương trong cuộc bạo động chống chính quyền xẩy ra hôm qua tại thủ đô vùng tự trị Tân Cương, Nước Tàu CS. Chính quyền Hoa Cộng đổ trách nhiệm cuộc bạo động tệ hại này cho những người Hồi giáo ly khai hiện lưu xứ.

Chưa rõ nguyên nhân nào gây ra sự bất ổn này, thế nhưng tương quan giữa hai cộng đồng người Hán-Hoa và người Hồi giáo Uighur tại đây có thể trở nên căng thẳng.

Lâu nay một số trong công đồng
Uighur muốn tách khỏi Nước Tàu để được độc lập

Khối người Uighur trên thế giới đặc biệt tại Mỹ lên tiếng rằng việc chính quyền Nước Tàu cáo buộc những người lưu vong Uigur gây ra cuộc bạo động chống bạo quyền người Hán tại đây chẳng qua chỉ nhắm đánh lạc hướng dư luận thế giới về những nguyên nhân đích thực của những cuộc chống đối này. Người dân Uighur Tân Cương bất mãn đứng lên chỉ vì họ bị kỳ thị và bị áp bức.
(Tổng hợp)

Publish Post


ĐS 14 gặp gỡ người từ phương xa

Click to enlarge

**
Các anh-chị ĐS14 gặp gỡ anh-chi N.N. Cường NY.
Cali Restaurant, Orange County, California (July 5, 09).
Có anh Lê Danh Đàm cùng tham dự.
Từ trái:
Các anh Tín, Lan Đàm, Danh, Ninh, Xuân, chị Tâm, A/C Ảnh, Quế, A/C Cường
Chú ý: Những nhân vật có nụ cười toe toét dễ thương nhất là:
Phạm Công Xuân, Lan Đàm và Cao Minh Tâm

Sunday, July 05, 2009

Nữ nghệ sĩ Phùng Há không còn nữa

0g30phút ngày 5/7/2009, nghệ sĩ Phùng Há đã từ giã cõi trần, hưởng thọ 99 tuổi.

Bất giác, tôi nắm tay bà như thể sợ tuột mất, hỏi: “Má có sợ chết không hả má ?”. Bà cười, cũng nắm lấy tay tôi: “Má sống tới giờ này là đủ lắm rồi con… Miễn sao khi sống thì được sống vui, nhẹ nhàng thôi con hả…” Nặng lòng với nghề, bà thỉnh thoảng gọi để “trút” nỗi niềm với tôi “sao hồi này tụi nhỏ ca ít, nói nhiều, làm biếng ca quá con ơi. Ra bộ tay chân cũng không phải nữa. Hát vậy là có tội với khán giả lắm”.
(Bạch Tuyết)


Nguồn: Việt Nam Net

Saturday, July 04, 2009

Cấm thành Nước Tàu


Bản di chúc của những bạo chúa

Chinas verbotene Stadt Das Vermächtnis des Despoten
(Lược thuật phim tài liệu từ đài truyền hình Đức quốc)

Nguyễn Văn Nhiệm, Đức Quốc

Lịch sử Cấm thành bắt đầu bằng sự tranh chấp cướp ngôi vua đẫm máu. Hoàng tử Chu Đệ ( Zhudi ) là con thứ tư không được truyền ngôi của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, dấy binh cướp ngôi vua của cháu mình rồi lên ngôi vào năm 1402, xưng là Vĩnh Lạc (Yongle), có nghĩa là Niềm vui vĩnh cửu (immerwährende Freude).

Vĩnh Lạc là người đa mưu, túc trí. Lúc mới lên chín tuổi mà Hoàng tử trẻ đã một mình, không cần người tùy tùng, có thể tự mưu sinh đươc trong rừng núi thâm sâu, hẻo lánh. Với bản chất tàn bạo, cho nên vừa lên ngôi, Vĩnh Lạc ra lệnh giết hết tất cả triều thần cũ để trừ hậu hoạn, tuy nhiên lúc nào cũng bị ám ảnh chuyện oán thù, ăn không ngon, ngủ không yên, đêm ngủ phải thủ kiếm bên người. Trong khi đó, Vĩnh Lạc lại trọng dụng đám Thái giám vì họ dã có công làm nội ứng trong cuộc tranh chấp cướp ngôi vua, mà trong đó có Nguyễn An (Ruan An), một tù binh Việt Nam (Vietnamesischer Kriegsgefangene), có thể do Trương Phụ bắt đem về Tầu từ đời nhà Hồ.

Vĩnh Lạc dời đô về Bắc Kinh và cho xây dựng cung diện vĩ đại ở đó gọi là Cấm thành. Công trình kiến trúc qui mô này đươc giao cho Nguyễn An chịu trách nhiệm phác họa sơ đồ, cũng như đôn đốc nhân công.

Trong phim tài liệu này có kể một huyền thoại khá lý thú bất ngờ về lai lịch của bốn ngôi tháp ở góc thành như sau: Vĩnh Lạc đã bác bỏ nhiều kiểu họa đồ về bốn tháp ở góc thành, mà Nguyễn An được giao nhiệm vụ phác thảo. Lần này, Vĩnh Lạc cũng không vừa ý, đập bàn quát: "Nhà ngươi lại một lần nữa làm ta thất vọng. Cho đến ngày mai, nếu không trình được kiểu vẽ tốt, nhà ngươi sẽ mất đầu".

Nguyễn An cố gắng phác họa kiểu vẽ mới, nhưng bất thành. Đang lo âu, buồn bã, Nguyễn An bỗng nghe tiếng dế kêu. Cũng như hầu hết những người ở trong triều đình đều có nuôi dế, mượn tiếng dế làm vui như nghe một thứ âm nhạc thiên nhiên, Nguyễn An cũng có nuôi dế trong một cái lồng tuyệt đẹp. Trong cảnh ngộ này, tiếng dế làm sao có thể làm vui con người được!

Nguyễn An cầm cái lồng dế lên, nhìn con dế thân yêu, buồn bã nói: "Ta không còn sống được bao lâu nữa, nhưng ta làm cho mi cái lồng lớn hơn để mi thoải mái". Thấy những dấu vết của con dế để lại trên cát trong lồng, và theo hình vẽ của con côn trùng này, Nguyễn An phác họa cái lồng đã hứa. Sáng sớm hôm sau, Vĩnh Lạc đi vào phòng làm việc của Nguyễn An. Trong khi người Hoạn quan này vẫn còn gục trên bàn, ngủ mê vì quá mỏi mệt, Vĩnh Lạc xem họa đồ mới, gật gù hài lòng. Khi Nguyễn An giật mình thức giấc, thấy sự hiện diện của Minh đế, hoảng hốt sụp lạy, tung hô: "Thánh hoàng vạn tuế!" Vĩnh Lạc phán: "Rất đẹp! Nhà ngươi được khen thưởng".

Như vậy họa đồ về bốn tháp ở góc thành là do sự tình cờ, còn ngoài ra đều có tính toán dựa trên vũ trụ quan hẳn hòi. Sau thời gian xây dựng chỉ ba năm, Cấm thành hoàn tất vào năm 1420. Đó là một bản sao trật tự vũ trụ, mà theo hình dung của người Á đông thì Trời tròn, Đất vuông. Cung điện của Hoàng đế ở ngay tại trung tâm vũ trụ, nơi lễ nghi có tính cách huyền thoại, tại đó Trời và Đất giao tiếp nhau. Như vậy, Vĩnh Lạc là Thiên tử ( con Trời ) thay mặt Thiên hạ, tức là nhân dân để tế lễ Trời Đất.

Công trình kiến trúc vĩ đại này được xây dựng trên một diện tích đất 720.000 mét vuông, với diện tích xây cất 150.000 mét vuông, có 890 cung điện với vô số nhà tạ ( Pavillons ), với 9999,5 phòng. Theo huyền thoại, Trời có 10.000 phòng, như vậy con Trời hài lòng với con số 9999,5 phòng. Bức tường thành cao 10 mét, dài 3428 mét có hào nước bao quanh. Theo mỗi phương hướng về Trời đều có cổng và ở bốn góc thành có tháp. Lối vào chánh là Ngọ môn quan ( Mittagstor )…

Vài con số chi dụng cho công trình kiến trúc vĩ đại này: 1.000.000 nô lệ, hơn 100.000 thợ mỹ thuật, thủ công. Với con số như vậy, công trình mới có thể hoàn thành vào năm 1420. Trong quá trình xây dựng, có những phiến đá bề mặt hơn 50 mét vuông, dầy hơn 1,5 mét. 20.000 công nhân chuyển vận phiến đá nặng 250 tấn vào mùa đông đi xa 50 kilomét trên nền nước đá, họ cần cho việc đó 28 ngày.

Vì công trình xây dựng Cấm thành quá tốn kém, khổ dân như vậy nên trong phần 2 của phim có một một triều thần cao cấp can gián Vĩnh Lạc, đại ý như sau: - Ruộng đồng bị bỏ hoang, dân chúng đói khổ, nhiều người bán vợ, đợ con, nay đề nghị hãy cho dân về cày cấy, làm ăn; nhà vua hãy về Nam Kinh viếng mộ vua cha, cầu nguyện thì may ra tránh được đại họa. Vĩnh Lạc tức giận, hạ lệnh tống giam.

Nhận định : Về chủ quan: Mục đích của công trình kiến trúc đồ sộ này là để chứng minh quyền lực của đế chế Minh triều, đánh tan mọi hoài nghi về tính cách hợp pháp ( pháp lý ), tính cách chính vì vương của Vĩnh Lạc. Hoàng đế là Thiên tử ngự tại trung tâm Thế giới, thay Trời hành đạo, trị vì Thiên hạ , bao gồm chư hầu, nghĩa là ôm mộng đế quốc làm bá chủ toàn cầu. Về khách quan: Do tính tàn bạo, coi thường sinh mạng dân, Vĩnh Lạc dù có tế lễ Trời Đất cũng không bao giờ được lòng Trời, vì đã trái với lòng dân, cho nên không tránh được đại họa như lời tiên tri của vị đại thần.

Thực vậy, chỉ vài năm sau khi hoàn thành công trình xây dựng Cấm thành, một hôm mưa bão, sấm sét đánh cháy ba chánh điện ở trung tâm, người bình dân nói đó là Trời đánh, có nghĩa là Trời phạt, Trời cảnh cáo. Cái chủ quan phô trương bề mặt, ý chí quyền lực, thanh thế của bạo chúa, còn cái khách quan ở đây vạch trần bề trái của vấn đề. Cảnh thiến sống con người trong phim khiến người xem ở thời đại văn minh này phải ngỡ ngàng về truyền thống coi thường nhân phẩm, nhân quyền của xứ này. Thật không thể tưởng tượng, con người bị tuyệt đường sống, phải tự nguyện được thiến, từ chối hết mọi ý nghĩa của cuộc đời để được suốt đời làm nô lệ cho bạo chúa.

Đã từ lâu sự thật lịch sử bị xuyên tạc, người cho rằng Hoàng thành Huế chỉ là mô phỏng thu nhỏ của Cấm thành Bắc kinh, ngụ ý nói VN cái gì cũng bắt chước Tàu.

Nói như vậy là sai lầm, bởi vì qua phim tài liệu lịch sử giá trị này của Âu Mỹ thực hiện, người ta đã thấy rõ đâu là sự thật. Một điều còn quan trọng hơn nữa có tính cách rộng lớn bao trùm là Nho giáo. Từ trước tới giờ ai cũng tưởng Nho giáo là của Tàu, sách sử Việt cũng ghi Sĩ Nhiếp đem Nho khai hóa dân Việt. Nhưng triết gia giáo sư Kim Định đã chứng minh rằng Nho nguyên thủy là của Việt tộc tức Việt Nho thuộc nền văn minh nông nghiệp phương Nam, trọng văn hóa, còn Hoa tộc ở phương Bắc thuộc văn minh du mục, chủ trương vũ lực xâm chiếm đất người, rồi nhân đó cũng chiếm luôn văn hóa của họ (Việt tộc) mạo nhận là của mình.

Để xóa bỏ dấu tích của việc mạo nhận này, đế quốc phong kiến phương Bắc chủ trương thủ tiêu tận gốc văn hóa Việt mà quan trọng nhất là không để cho người Việt có chữ viết riêng làm phương tiện duy trì và phát huy văn hóa của mình. Câu nói sau đây của Hán Cao Tổ chứng minh rõ ràng ý đồ của Hoa tộc du mục trong việc vận dụng tiếp thâu, chuyển hóa nguyên Nho tức Việt Nho trở thành Hán Nho: "Mình có thể ngồi trên ngựa mà lấy được thiên hạ (truyền thống du mục võ biền), nhưng không thể ngồi trên mình ngựa mà trị thiên hạ được". Như vậy Nho giáo truyền sang Việt Nam là Hán Nho rồi đến Tống Nho có tính cách độc đoán, độc tôn, khác hẳn với phẩm chất nguyên thủy của Việt Nho.

Ngay cả kinh Dịch cũng của Việt tộc mà Tổ tiên đã khéo léo để lại di chúc xác nhận chủ quyền cho con cháu qua các chuyện kể huyền thoại truyền khẩu như truyện Hồng Bàng Thị tức truyện kể về Âu Cơ – Lạc Long Quân (nguyên lý âm dương tức Lưỡng nghi trong đồ Thái cực) sanh ra cái bọc 100 trứng (biểu tượng Bách Việt). Truyện bánh dày bánh chưng diễn tả lý thuyết "thiên viên địa phương" và "tham thiên lưỡng địa" là nói đến con số 5 tức tổng hợp của dương căn 3 và âm căn 2 (3+2 = 5), và trong dân gian có lời chúc tụng "mẹ tròn con vuông".

Trong truyện Trọng Thủy - Mỵ Châu, Trọng Thủy đánh tráo móng rùa thần, đó là hành động ăn cắp. Rùa thần là biểu tượng của kinh Dịch, tương truyền vua Đại Vũ sau khi trị thủy thấy rùa thần hiện lên ở sông Lạc trên lưng có đồ hình bằng những vạch mang ý nghĩa Dịch lý. Thân rùa hình tròn chỉ thiên viên, còn bốn chân chỉ địa phương. Nói chung thì hầu hết những truyện truyền khẩu huyền thoại Việt Nam cũng như những di vật ẩn giấu dưới đất như trống đồng Ngọc Lũ đều mang màu sắc triết lý dưới góc độ Minh triết, trong đó con người trở nên cao cả, là thành viên của hệ thống Tam tài: Thiên-Địa-Nhân, từ cái Tâm cá nhân thăng hoa, siêu việt lên hòa nhập vào Tâm vũ trụ đại đồng.

Đó thật là tất cả cái lý thuyết nhân bản tâm linh đáng quý biết bao, mà Tổ tiên đã ưu ái để lại di chúc bằng những bí ngữ, những ẩn tượng, cho nên muốn đọc ra được bí ngữ, ẩn tượng đó, con cháu phải tu tâm, dưỡng tính, rèn luyện cho mình có cái căn bản tâm linh tương ứng thì lúc đó theo luật "đồng thanh tương ứng " nội dung di chúc mới hiện rõ lên được. Khả năng siêu việt đó mọi người đều có, đó là nguồn năng lượng vô biên của con người như suối nguồn vô tận sẽ trào vọt lên theo quy luật lượng phẩm. Những ai đã phát huy trọn vẹn được Việt tính, có được tâm bình đẳng, không phải chỉ bằng lòng với sự trở về nguồn, nhập vào dòng sông Minh triết của Tổ tiên để có kinh nghiệm an vi, thái hòa cho riêng mình, mà phải quãng diễn, minh giải Minh triết ấy thành Triết lý trong sáng cho đại chúng, cho dân tộc và nhân loại. Triết lý ấy không phải là triết lý duy lý, biết để mà biết, mà là Triết lý nhân sinh có lợi ích thiết thực cho nhân quần xã hội, triết lý nhân bản tâm linh nâng cao phẩm giá con người. Có nhiều dấu hiệu cho thấy dự phóng đó trở thành hiện thực, trong thực tế đã có những người Việt ưu tú chẳng những đọc rõ được bản di chúc trên mặt trống đồng mà còn phát huy, khai triển thành môn quỹ đạo học nỗi tiếng, đưa con người vào thám hiểm không gian như giáo sư tiến sỹ Nguyễn Xuân Vinh chẳng hạn. Rồi đến tinh thần Phù Đỗng, sức mạnh nõ thần, hiệu năng của gậy thần, sách ước...cũng đều có thể trở thành hiện thực để bảo vệ hữu hiệu độc lập, tự chủ, hòa bình cho Tổ quốc và nâng cao dân sinh theo ý nghĩa toàn vẹn cả vật chất lẫn tinh thần trong sự cân đối, hài hòa.

Khi sự thật lịch sử đã rõ ràng, mọi người Việt Nam mới có đủ cơ sở để tự hào về đất nước có bốn ngàn năm văn hiến của mình và tin tưởng ở một tương lai sáng lạn.

Nguyễn Văn Nhiệm
( Viết lại ngày 30-06-2009 )
__________________________________________________________

Diễn Đàn: Tàu Cộng vẫn coi Cấm Thành như là một kỳ quan kiên trúc của Tàu nhưng không bao giờ nhắc nhỡ đến vị kiến trúc sư Việt Nam tài ba đã có công xây dựng khu Cấm Thành. Đó là một tù binh người Việt Nam tên là Nguyễn An (Ruan An), có lẽ đã bị bắt về Tàu bỡi Trương Phụ vào thời vua Hồ Quí Ly.

http://www.take2tango.com/?display=6243

Về VN cưới vợ

... Trắng tay sau ly hôn

Đã nhiều tháng nay, anh H.N.Giao không thể quay trở về Mỹ vì trong túi không còn lấy một xu. Tình cảnh buộc anh phải quay về quê nội ở huyện Chợ Gạo (Tiền Giang) sống nương nhờ nhà người chú họ, chờ gia đình bên Mỹ gửi tiền sang.

Cách đây ba năm, Giao đến TP Saigon và quen Lê Thị Mỹ Trinh, quê ở Cái Bè (Tiền Giang), đang theo học nghề trang điểm cô dâu tại quận 8, TP Saigon. Sau khi kết hôn, anh Giao bỏ tiền để mua một căn nhà ở Mỹ Tho, chung sống với Trang được một tuần thì trở về Mỹ làm ăn. Mỗi tháng, Giao gửi tiền về cho Trang tiêu xài.

Tháng 9/2008, Giao về Mỹ Tho thì hay tin Trang đã bán nhà, rời khỏi Mỹ Tho cùng với một người trai trẻ. Anh Giao cất công tìm và biết được Trang đang sống với người tình tại TP Cần Thơ..

Ngay khi tìm được Trang, anh Giao chưa kịp nói lời nào thì bị một gã thanh niên từ nhà sau đi lên đấm vào mặt. Anh ta còn “la làng” anh Giao là một con “dê xòm” đến ve vãn vợ của mình. Trang cũng kêu là mình bị quấy rầy rồi thẳng tay đuổi anh Giao ra khỏi nhà.

Về Mỹ Tho, anh Giao dự định viết thư tố giác Trang vi phạm chế độ một vợ một chồng, nhưng ý định đó chưa kịp thực hiện thì anh bị một nhóm thanh niên chặn xe đánh một trận tơi bời hoa lá trên địa bàn phường 6. Trước khi rút đi, bọn chúng còn nói: “Nếu biết xấu hổ vì bị vợ cắm sừng thì hãy làm đơn ra tòa ly dị!”.

Ngày 4 tháng Bảy

Friday, July 03, 2009

Bằng chứng ngón lươn lẹo của CSVN

Lê Công Định trong buổi hội thảo "Tự do dân chủ cho Việt Nam"
do Nguyễn Sĩ Bình tổ chức. (Chú thích của báo Công An Nhân Dân)
**
Ngày 1/7/2009
Kính gởi các cơ quan truyền thông

Đề mục: Bản lên tiếng về một bức hình của Ủy Ban Yểm Trợ Aarhus - Đan Mạch bị Công an nhân dân Online và An ninh thế giới sử dụng với dụng ý sai lạc.


Trong loạt bài “Những kẻ cơ hội bị đẩy thành “tiên phong” chống Nhà nước” đăng trên báo Công an nhân dân online liên tiếp các ngày 22 và 23/6/2009 [1] [2] và sau đó bài “Chân tướng Nguyễn Sĩ Bình và tổ chức ‘đảng nhân dân hành động’ ” trên tờ An ninh thế giới ngày 23/6/2009 [3], nhà cầm quyền CSVN đã đăng một bức hình và khẳng định đó là một buổi hội họp do ông Nguyễn Sĩ Bình tổ chức. CSVN đánh dấu X vào một người trong hình và nói đó là luật sư Lê Công Định. Và bức hình này là một trong những cái gọi là bằng chứng mà chế độ CSVN đưa ra để kết tội ông Lê Công Định “cấu kết với thế lực bên ngoài chống lại nhà nước XHCNVN”.

Chúng tôi, Ủy Ban Yểm Trợ Aarhus (Đan Mạch), xin khẳng định trước cả thế giới rằng chúng tôi là chủ bức hình đó và là người tổ chức buổi sinh hoạt. Đây là ảnh chụp buổi sinh hoạt của đồng bào tại thành phố Aarhus (Đan Mạch) vào 18/3/2007 nhân dịp giáo sư Nguyễn Chính Kết ghé thăm cộng đồng người Việt tại đây.

Buổi sinh hoạt này KHÔNG liên hệ gì đến ông Nguyễn Sĩ Bình hay luật sư Lê Công Định, và KHÔNG hề có sự hiện diện của 2 vị này. Người bị đánh dấu trong hình là một đồng bào đang sinh sống tại Đan Mạch. CHẮC CHẮN đó không phải là luật sư Lê Công Định.

Chúng tôi xin để công luận thế giới và mọi người Việt Nam đánh giá mức độ coi thường người dân và coi rẻ công lý của hệ thống pháp lý CSVN.

Kính chào quí đài.

Trân trọng,
Ủy Ban Yểm Trợ Aarhus - Đan Mạch

Thơ Ý Nga


THÊM MỘT NỐT NHẠC

*Nhân xem hình các em ở Hà Nội tưởng niệm
ca, nhạc sĩ Michael Jackson


Các em khóc,
thương một người nghệ sĩ
Có em nào thương khóc đời tù giam?

Các em khóc,
thương cho một người Mỹ?
Có em nào thương khóc cả… Việt Nam?

Mừng các em,
dù “con Đoàn, cháu Đảng”;
dù “vô thần” vẫn… rung động trái tim.

Mừng các em
“không” cuồng say thác loạn
Giặc vào nhà, chớ lười lĩnh nằm im!

Nhé các em!
Xin thêm chút tình cảm
Hãy cùng đau với vận nước thăng trầm

Nhé các em!
Thương bà con, chòm xóm
Thương dân nghèo phải bán máu nuôi con
Thương dân oan đang trăm đòn chí tử
Thương quê hương đang cung điệu trầm buồn,
Không “Rock, Pop”*. Lệ bao người chan chứa

Nhé các em! Hãy thêm lòng biết ơn
Bao công khó của tiền nhân dựng nước
Máu Cha Ông, sử ghi lại lòng son
Không phải để cho cháu con bán nước.

Ta cũng tiếc một tài năng vừa mất
Nhưng niềm đau rất lớn vẫn: San Hà!
Ta cũng phục người đa tài, thành đạt
Nhưng thương nhiều vẫn duy nhất: Việt Nam!

Ý Nga, 30.6.2009
_______________
* Michael Jackson là một ca sĩ được giới trẻ yêu chuộng
qua cách hát và trình diễn dòng nhạc “soul, Funk, disco, rock”;
anh còn được vinh danh là vua nhạc “Pop”,


Chúc nhau nhân ngày July 4


Thưa quý anh chị, và kính thưa quý vị,
Mình "ăn ké" Independence Day " của USA để chúc nhau !!!
Còn đến bao giờ anh chị em mình mới có một ngày như vậy để chúc nhau đây ?
Và để chúc nhau như thế trên giải giang sơn hình chữ S đây ?
Xin hãy bảo vệ sức khoẻ thật tốt để đợi ngày đó nghen .
Xin hãy bảo vệ tình đồng môn CSV/QGHC để đợi ngày về,
Về để ôm hôn Tổ Quốc,
Về đề tạ tôi với Đồng Bào,
Về đề xây dựng lại Đất Nước,
Về để gầy dựng lại niềm tin,
Về để góp phần thực thi DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN.
Về để thực thi TỰ DO TÔN GIÁO. TỰ DO NGÔN LUẬN...
và nhiều nhiều nữa...

Dù mình "chống gậy" vẫn hân hoan mừng ngày trở về
Giấc mơ nầy không là ảo tưỡng mà sẽ trở thành hiện thực.

Hãy đợi MỘT NGÀY VỀ.

Happy July 4 of VIệt Nam.

Thân chào,
cao xuân thức.

Thursday, July 02, 2009

Chiêu thức đánh vợ trả thù (post hôm qua)

Trả đũa

Người vợ có anh chồng giả say, tủm tỉm đắc ý vì chợt khám phá ra mánh khóe của anh chồng xưa nay bị mình đàn áp. Đợi chàng ta ăn sáng xong, người vợ quát:
- "Anh lại góc nhà quỳ cho tôi"
Rồi nàng đi lấy cây chổi, mặt đanh lại nhìn chồng:
- "Anh say không nhìn ra được vợ mình, thì làm sao anh còn tìm ra được đường về nhà!"
Thế rồi quay cán chổi quất anh chồng lẻo mép hai hèo để răn đe.

(Một độc giả giấu tên)

Sức khỏe

Sự kỳ diệu của đôi bàn tay

(Tạp chí Femme Actuelle)

Massage có những tác dụng rõ rệt đối với cơ thể, làm giảm tình trạng căng cơ và giúp máu lưu thông điều hòa. Về mặt tâm lý, tinh thần thoải mái, giảm căng thẳng và mệt mỏi. Trong thực tế chúng ta không cần tới phòng massage mà chỉ cần thực hành những động tác đơn giản như xoa tay, chân hay mặt đủ để thư giãn.
Tạp chí Femme Actuelle của Pháp dẫn lời các chuyên gia vật lý trị liệu khuyên bạn nên tạo thói quen xoa hai bàn tay vào nhau vì động tác này rất có ích cho thân thể.

Có 9 lý do để xoa tay.
1.Tạo ra sức nóng :
Hai tay xoa vào nhau tạo ra năng lượng cho các bộ phận của cơ thể vì mỗi điểm trên bàn tay tương ứng với một bộ phận trong cơ thể. Để bàn tay trái trên bàn tay phải và xoay chiều hai bàn tay...

2.Làm giảm căng thẳng :
Hai tay đưa ra trước ngực xoa vào nhau mỗi khi gặp vấn đề khiến trí óc bạn căng thẳng hay bực bội.

3.Làm cho ngón tay hết tê.
Mới ngủ dậy hay khi ôm vật nặng hay nhứt là vào mùa lạnh,ngón tay bạn thường tê cóng. Chà xát ngón tay với ngón cái và ngón giữa hay dang hai tay ngang vai và nắm các bàn tay.

4.Làm cho thoải mái.
Dùng ngón tay cái của bàn tay trái bóp mạnh các ngón tay của bàn tay phải rồi vuốt tường ngón. Làm 3 lần như vậy rồi đổi tay.

5.Chống đau nhức
Trên bàn tay có nhiều huyệt có thể chống đau nhức trên cơ thể. Khi đau lưng, bấm vào huyệt nằm giữa ngón tay cái và ngón tay trỏ, xoa khỏang vài chục lần từ cuối ngón cái tới ngón trỏ.

6.Làm tỉnh ngủ
Bạn thường có cảm giác mệt mỏi sau một đêm không ngủ yên. Ngồi lên hai tay đưa ra trước mặt, hai bàn tay chắp vào nhau rồi rời ra, đưa tay ngang qua vai trong lúc thở ra. Các ngón tay duỗi thẳng. Làm như vậy 5 lần..

7.Làm đẹp bàn tay.
Càng xoa nhiều ,tay sẽ mềm mại và ít nổi gân. Mùa đông Bạn có thể thoa kem glycérine, dầu Olive hay những thứ kem có sinh tố B5 hoặc E. Những chất nầy vừa làm cho da mát mẻ vừa bảo vệ da.

8.Sau khi chơi thể thao hay trời nóng, tay bạn phồng lên..
Muốn cho máu lưu thông điều hòa dùng ngón tay cái của bàn tay mặt xoa trên bàn tay trái theo vòng tròn rồi làm ngược lại. Bắt đầu từ đầu cho tới cườm tay.

9.Chống lạnh.
Xoa mặt và xoa tay, làm cho máu chạy tới các ngón tay để khỏi bị rét buốt nếu không mang găng tay. Xoa thật mạnh như lúc bạn giặt quần áo. Nên dùng một ít kem chống lạnh như "beurre de Karité" hay "huile de Calendula".

Xoa tai (không phải tay)
là tập thể thao toàn thân.


Trên cơ thể con người, tai là bộ phận chứa tới 120 huyệt và các huyệt này lại thông với tất cả bộ phận trong cơ thể,cho nên có thể nói xoa tai là sự vận động tòan thân. Động tác đầu tiên là dùng hai tay xoa vào nhau để làm cho hai tay ấm lên. Nếu dùng ngón tay lạnh không những hiệu quả giảm sút mà còn ành hưởng xấu đến tai tức các bộ phận trong cơ thể bị tổn thương. Khi tay đã nóng ,đưa ngón tay trỏ vào tai khẽ xoay tròn, sau đó dùng đầu ngón tay trỏ bịt chặt lỗ tai 2 hay 3 giây rồi ngưng. Khi bịt chặt lỗ tai không nên dùng lực,chỉ cần bịt nhẹ để tránh cho màng nhĩ không bị nén mạnh. Động tác này giúp tránh viêm tai giữa hoặc viêm tai;


Động tác tiếp theo là dùng ngón tay cái đặt vào phía sau tai, dùng 4 ngón còn lại để xoa tai.. Sau đó dùng bàn tay ấn tai vào từ phía sau, dùng lòng bàn tay bịt chặt tai lại. Tòan bộ quá trình chỉ mất khoảng 3 phút nên có thể tập một lần mỗi ngày.

Xoa mặt để giữ nhan sắc.

Dung nhan tiều tụy là do suy nghĩ và lao lực quá mức. Theo các chuyên gia vật lý trị liệu,x oa mặt mỗi buổi sáng sẽ làm cho dung nhan tươi đẹp. Sáng sớm vừa ngủ dậy, trước khi xuống giường, xoa hai tay vào nhau cho nóng rồi úp hai cườm tay lên hai hốc mắt, tay chạm xung quanh mắt, không đè mạnh vào mắt, xoa vòng quanh mắt 30 lần. Động tác này làm cho mắt sáng,khai thông huyệt, làm gỉảm mệt mỏi. Sau đó đặt 2 ngón trỏ miết vào hai bên mũi tới cạnh mắt,ròi chập hai ngón tay cái và trỏ vuốt từ trên sống mũi xuống 30 lần. Sau đó xoa má vàà cằm.
Động tác dùng 10 ngón tay cào trên đầu giúp cho máu lưu thông lên não .

Sau khi thực hiện xong,nên rửa mặt bằng khăn nhúng nước ấm, rồi lấy khăn chà xát mặt,cổ và gáy..
Những động tác xoa bóp trên rất đơn giản và de thực hiện. Các chuyên gia vật lý trị liệu khuyên bạn nên làm đều đặn mỗi ngày để có sức khỏe tốt hơn.

Wednesday, July 01, 2009

Cười tí tỉnh

Chiêu thức đánh vợ trả thù.

"Mình tát cho vợ hai cái và đá một phát làm vợ lăn quay ra nhà. Vợ không giận được mà còn thấy sướng" - một anh kể với đồng nghiệp chiêu trả thù vợ.

Cậu bạn ngạc nhiên gặn hỏi rõ.

- À, đơn giản thôi mà. Hôm nọ, mình uống bia nhưng uống không nhiều, trên đường về nghĩ ra một ý tưởng...Về đến nhà, mình giả vờ say, vợ chưa bao giờ thấy mình say tệ như thế, chạy ra đỡ mình. Mình tát cho vợ hai cái và đá một phát làm vợ lăn quay ra nhà, rồi quát: "Cô là đứa nào, ngoài vợ tôi ra không con nào được đụng vào người tôi." Nói rồi mình lăn ra ngủ.

Sáng ngủ dậy đã thấy cơm nóng dọn sẵn, vợ thì vừa làm vừa tủm tỉm. Mình vừa trả được thù việc vợ hay mắng chửi, mà vợ thì vẫn sướng.

Ngày Một tháng Bảy

Happy 142nd birthday Canada

Cờ Canada gồm ba phần:

- Phần trắng tương trưng cho lục địa nằm giữa ...
- Hai vạch đỏ nằm hai bên, tượng trứng cho hai đại dương Đại tây dương bên phải và Thái bình dương bên trái
- Chiếc lá phong đỏ nằm trên nền trắng tương trưng cho Canada Cây phong mọc rất nhiều và đủ loại ở Canada.. Chìếc lá phong (Maple Leaf) được đưa vô cờ Canada từ năm 1965.

Truyền thống mẫu hệ hiếm hoi

TÂY LƯƠNG NỮ QUỐC

Các thiếu nữ bộ tộc Mosuo. Ảnh: wordpress.com.
**
Dưới đây là một bài dịch từ The National Geographic do nhóm "Lão Huynh Già Dịch Dễ Thương" làm báo của mỗ tôi gửi tới từ Vùng Toronto. Mấy ông bạn già này đang rủ rê tôi trở về Toronto. Họ nói: "Nếu không muốn về Toronto thì nên đi Tây Lương sống cũng ...vui "tuổi già" được đấy!!! Chừng nào đi, hú một tiếng bên này cùng đi với cho vui!"

Nhân Ngày Canada Day, mời quý anh chị đọc cho vui để xả hơi. A.C.La.

***

Cả thế giới chào đón ngày dành cho những người cha hôm 21/6. Nhưng tại một vùng đất của Nước Tàu, những đứa trẻ không cần biết tới ngày này bởi chúng chưa bao giờ có cha trên giấy khai sinh trong hàng nghìn năm qua.

Bộ tộc Mosuo - gồm khoảng 15.000 người - sống quanh hồ Lugu ở khu vực nằm giữa tỉnh Vân Nam và Tứ Xuyên. Theo phong tục truyền thống của họ, phụ nữ có quyền ngủ với bất cứ người đàn ông nào mà họ muốn. Nếu các cô gái thích một chàng trai, họ chỉ cần khều nhẹ vào lòng bàn tay của đối tượng để mời anh ta ngủ cùng.

Những phụ nữ trong xã hội theo chế độ mẫu hệ này không bao giờ kết hôn. Họ và con cái sống trong những ngôi nhà gồm nhiều thế hệ, song những đứa trẻ ấy không có cha trên tất cả giấy tờ tùy thân. “Đó là một xã hội không có đám cưới trong suốt hàng nghìn năm qua song các bà mẹ vẫn thành công trong việc nuôi dạy con cái như mọi xã hội bình thường khác”, Stephanie Coontz, một giáo sư chuyên nghiên cứu về gia đình của Đại học Evergreen (Mỹ), phát biểu.


Nam giới Mosuo cũng tham gia vào việc nuôi dạy trẻ con, song đó là những đứa trẻ do những phụ nữ trong đại gia đình của họ sinh ra. Quyền hành của đàn ông đối với lũ trẻ cũng khá hạn chế. “Trẻ con của bộ tộc Mosuo sống cùng vài người chú hoặc bác. Những người đàn ông này cùng đảm nhiệm vai trò của người cha trong gia đình gồm nhiều thế hệ”, John Lombard, giám đốc Hiệp hội phát triển văn hóa Mosuo, cho biết.

Theo Lombard, tập quán kỳ lạ của người Mosou rất có ý nghĩa về mặt di truyền. “Khi vợ hoặc người tình có thai, nhiều người đàn ông không dám chắc chắn tuyệt đối rằng đứa trẻ thực sự là con của họ. Nhưng nếu chị gái hoặc em gái của họ có con, họ có thể tin chắc rằng đứa trẻ cùng huyết thống với họ”, ông giải thích.

Phụ nữ của bộ tộc Mosuo nắm quyền quyết định đối với mọi vấn đề trong cuộc sống gia đình và xã hội. Tài sản và quyền hành trong gia đình chỉ được truyền cho con gái. Sau khi bước vào tuổi 18, phụ nữ Mosuo được phép đưa đàn ông về phòng ngủ mỗi tối và các chàng phải ra về vào buổi sáng hôm sau. Báo chí phương Tây gọi kiểu quan hệ này là "hôn nhân một đêm".

Nữ giới có thể ngủ với nhiều đàn ông trong một khoảng thời gian và thay đổi người tình cho đến khi nào họ cảm thấy chán. Họ có thể sinh con sau những lần quan hệ tình dục, song chẳng một người đàn ông nào được trở thành cha của những đứa trẻ mà họ sinh ra. Quan hệ tình ái lăng nhăng và chung chạ bừa bãi với đàn ông chưa bao giờ bị coi là điều đáng xấu hổ trong xã hội của người Mosuo. Tập quán đó khiến bộ tộc Mosuo trở nên nổi tiếng. Nam giới từ những nơi khác trên lãnh thổ Trung Quốc coi "hôn nhân một đêm" là biểu tượng của tự do luyến ái.

Mặc dù các nhà thổ dành cho khách du lịch xuất hiện tại nhiều làng của người Mosuo, song phần lớn nhân viên tới từ nơi khác.. Người Mosuo coi đó là sự sỉ nhục đối với họ.

“Đôi khi giới truyền thông đưa tin rằng phụ nữ Mosuo có thể ngủ với tất cả đàn ông không cùng huyết thống trong cộng đồng, miễn là họ có đủ thời gian. Sự hiểu lầm ấy khiến họ tức giận”, nhà sản xuất phim Xiaoli Zhou, người từng làm một bộ phim tài liệu về bộ tộc Mosuo vào năm 2006, giải thích. Bộ phim của ông mang tên The Women's Kingdom (Vương quốc của phụ nữ).

Một phụ nữ Mosuo chèo thuyền trên hồ Lugu.Ảnh: current.com.

Theo Zhou, trên thực tế phụ nữ Mosuo không thay đổi người tình quá thường xuyên..Họ cũng hiếm khi quan hệ với hai người đàn ông trở lên cùng lúc. “Nhiều phụ nữ nói với tôi rằng họ chỉ có một hoặc hai người tình trong suốt cuộc đời”, Zhou kể.

Việc phụ nữ Mosuo không kết hôn và những đứa trẻ không có cha có thể khiến nhiều người nghĩ rằng bộ tộc này không coi trọng cuộc sống gia đình. Nhưng điều này không đúng. Trên thực tế, người Mosuo coi gia đình là thứ quan trọng hơn mọi mối quan hệ khác. Lombard cho biết, những gia đình mở rộng của họ - gồm nhiều thế hệ chung sống dưới một mái nhà – có cuộc sống tình cảm cực kỳ ổn định. Do không có hôn nhân nên người Mosuo không có khái niệm "ly dị" hay "ly thân".

Do những ngôi làng của người Mosuo tách biệt với thế giới bên ngoài nên rất ít người biết đến phong tục của họ. Từ sau thập niên 1970, với sự giúp đỡ của chính phủ, làng Mosuo dần thay đổi. Bây giờ, chế độ một vợ một chồng dù không tồn tại nhưng nhiều phụ nữ đã có quan hệ gắn bó với một người đàn ông duy nhất.

Brent Huffman, người cũng tham gia sản xuất bộ phim tài liệu The Women's Kingdom, phát biểu: “Xã hội Mosuo khiến chúng ta đặt câu hỏi: Liệu trẻ con có nhất thiết phải có cha hay không? Điều ấy thật khó tưởng tượng trong xã hội phương Tây, song ở đây nó đã tồn tại từ rất lâu rồi”.

(theo National Geographic)
___

Các bạn ở lại mạnh-giỏi, tôi quyết-định sang đất nước này để sống đến già. (LÊ M)

New York 2009.

Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế





New York - Cộng đồng VN ở New York đã tham dự Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế, được tổ chức vào lúc 12 giờ trưa ngày 27 Tháng 6, 2009 tại New York, NY. Đây là cuộc diễn hành, quy mô, đông vui nhất kể từ ngày cộng đồng VN tham dự Diễn Hành Văn Hóa QT ở New York, mười năm nay. Có khoảng một ngàn năm trăm đến hai ngàn đồng hương từ nhiều nơi trên thế giới như Đức, Âu Châu, Canada, Nhật, và khoảng ba mươi cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ về tham dự. (Tuyết Mai)

Tuesday, June 30, 2009

Bọn Tàu Cộng Phỉ

hoành hành tại Biển Đông và các đảo chúng cưỡng chiếm của Việt Nam





Việc làm nhân đạo vẫn tiếp tục

Danh sách quý nhân ủng hộ Con Dâu Hành Chánh
làm việc nhân đạo

1) Thầy Nguyễn Giõng: $50 Aud.
2) Thái Nghiêm:........... $50 -
3) Cường Phạm: ...........$50 -
4) Châu - Trúc: ........... $50 -
5) Hàn - Thu: ...............$50 -
Tổng cộng .................$250 -

Trên đây là danh sách những người có hảo tâm thuộc trường cũ của Như Thương đã đóng góp vào việc giúp em Hoàng Em. Số tiền này đã chuyển cho người đứng mũi chịu sào trong việc này là chị Liên Hương , qua chi Thúy Lan. Dẫu rằng số tiền giúp đỡ nhỏ bé, nhưng tấm lòng của những người không quen biết với em Hoàng Em thật quý báu vô cùng và mỗi người đã giúp một tay với chị Liên Hương, chị Thuý Lan.


Em rất cảm ơn thầy đã liên lạc với em mau lẹ qua emails

Kính bút,
Em: Hương
Từ trái: Chị Nguyễn Thị Cúc (mẹ của Hoàng Em), Cháu Hoàng Em,
Chị Liên Hương, Chị Thúy Lan;

Cười tí tỉnh: Thả . . . Dê


Thơ Già Dê " Ấy ơi ! "
**
Cái cô này, ô hay sao mà lạ,
Tôi chưa già nên đâu đã có râu,
Nhìn kỹ coi, mới năm mí tuổi đầu,
Mắc mớ chi cứ gọi tôi là chú?
Tiếng Việt mình biết bao nhiêu là chữ,
Có lẽ nào không đủ để xưng hô,
Chú cháu làm chi nghe dị chết mồ,
Tôi chẳng có cháu như... cô đâu nhé!

Cô hiểu cho vì tôi hãy còn trẻ,

Nên vẫn còn như cậu bé ham chơi,

Tôi không thèm làm người lớn, cô ơi,

Đừng bắt tôi mau già tội tôi quá.

Lỡ một mai - tôi nghĩ thầm - cô ạ,

Tôi với cô lại đem dạ ưa nhau,
Chẳng lẽ tôi lại thủ thỉ bằng câu:
"Chú...thích cháu"...nghe dị mần răng rứa.
Cô biết không, chỉ mới vừa gặp gỡ,

Mà tôi nghe lòng hớn hở quá chừng,

Ai dè đâu, cứ "chú, cháu" cô xưng,

Làm cho tôi thật ngại ngùng khó xử.
Tôi xin cô đừng gọi tôi bằng chú,
Tôi chẳng khờ đi làm chú cô đâu,
Nếu như cô e ngại buổi ban đầu,

Thôi thì kêu tôi là " ấy " cũng được.

Cô ơi, sao cứ tần ngần,
Mà không gọi thử một lần "ấy ơi",

Để tôi mê mẩn trả lời,
"Gớm, nghe "ấy " gọi mà rụng rời con tim."

Vô danh