Thursday, March 26, 2009

Đời sống: Điều cần biết

Cẩn thận khi dùng Microwave

Bài này viết bởi một y tá tại Bệnh viện đa khoa khu Laval, Sainte-Foy, Quebec Nhiều người không biết ...

Khoảng năm ngày trước, con trai của tôi 26 tuổi quyết định làm một tách cà phê instant. Nó lấy một ly nước và bỏ vào trong microwave để hâm nóng nó lên (cái này nó đã làm hoài). Tôi không biết là nó đặt giờ bao nhiêu (phút), nhưng nó nói rằng nó muốn hâm cho nước sôi. Khi giờ đã ngưng, nó lấy ly từ lò ra. Lức đó, nó có lưu ý rằng nước không sôi. Đột nhiên nước trong ly nổ tung tóe vào mặt nó. Cái ly thì còn nguyên vẹn cho đến khi nó liệng đi khỏi tay nó, nhưng mặt nó phải đối diện bởi một sự bỏng cháy với cường độ gia tăng. Nó đã bị các vết bỏng trên mặt của mình với độ bỏng thứ nhất và thứ hai, mà sẽ có thể còn vết thẹo20đáng kể. Hơn thế nữa, nó có thể đã mất đi một phần thị giác của mình trong mắt trái.

Khi đến tại bệnh viện, bác sĩ điều trị nó cho rằng, đó là một chuyện thường xảy ra và nước (một mình nước) không bao giờ nên được đdun nóng trong lò microwave. Nếu nước cần được đun sôi theo cách này, thì phải để thêm cái gì đó vào trong ly, như một cây gậy gỗ hoặc một túi trà (không có staples) để giải tỏa năng lượng. "Đây là những gì giáo sư khoa học của chúng ta đã phải nói: Tôi đã nhìn thấy vụ này trong quá khứ. Điều này được gây ra bởi một hiện tượng được gọi là đun nóng quá độ. Nó xảy ra khi nước trong tình trạng sôi, đặc biệt là truờng hợp các ly tách mới, chất lỏng nóng lên vượt quá điểm sôi của nó. Khi nó được dời đi thì đột nhiên, có một cú sốc đủ để gây ra nhanh chóng tạo ra các bong bóng, khiến nước bị trục xuất khỏi ly. Đó cũng là lý do, các bọt hình thành bong bóng trong các chất carbonized lỏng (Coke, Champagne) trào ra khi mở nắp.

Xin vui lòng chuyển tiếp thông tin này đến người mà bạn biết để phòng ngừa chấn thương và đau khổ cho họ.

Deschesnes Y tá Francine, BSc,
trợ lý nghiên cứu lâm sàng ngực
Hôpital Laval, Sainte-Foy (Quebec)

Wednesday, March 25, 2009

Nhạc thính phòng



Thân tặng quý chị hay "đi Đại Hàn" (A.C.La)

Thơ NT

Ckick to enlarge

Phê bình tranh


SỐNG SÓT
(Trước khi tranh được final touch up)
* Sóng vẫn còn hiền quá, không thể tạo ra cảnh chết chìm được. (NT)

(Sau khi tranh được final touch)
* Cha nội ơi. Tranh mới vẽ những người vượt biển, sóng to quá làm sao bơi được? Cho sóng nhỏ nhỏ thôi, như mỗ đây chỉ bơi được độ 10 mét thì làm sao bơi được? (TĐ)

- Vậy thì "mỗ" sẽ không phải là một trong những kẻ sống sót và không có mặt trong bức tranh này! Ha ha!!!
* Sóng biển đã thật dữ tợn để có thể làm đắm thuyền, chứ không hiền như trước (NT)

* Bác Chánh chắc vẫn nhớ : "THÂN lão TÂM bất lão". Có lẽ ACLa la HS " yêu nước" nhất trong các HS.
- Vui thì vẽ. Khi vẽ lại thêm vui thành ra trì hoãn được lão hóa. Phải vậy không Bác Lý?
* Lan Đàm tôi, sau 7 lần vượt biên và 6 tháng làm thông dịch viên cho phái đoàn JVA của Hoa Kỳ tại đảo Galang, Indonesia, đã ớn lạnh và không còn muốn nhớ/nhắc tới chuyện vượt biên, chuyện mưa gió bão bùng ngoài biển khơi, chuyện thuyền đắm, chuyện hải tặc, chuyện đói ăn khát nước khi lênh đênh trên biển... Bây giờ "Người Sống Sót" đã được posted, nên mới có mấy giòng "trần tình" trên đây, chỉ gửi riêng cho Họa Sĩ thôi.
- 28 năm trước, khi vượt biển tìm cách trốn khỏi chế độ CS, thuyền dạt vào Bu-đi, nam Thái Lan, mỗ tôi sung sướng hít thở bầu khi trong lành buổi sớm mai đâu tiên trên đất tự do. Nhưng những hình ảnh gian khổ của những ngày vượt biển chìm sâu vào tâm khảm và lâu lâu hiện về trong những giấc mơ kinh hãi. Ở trên đất Thái, và ngay cả sau này trên đất Canada, tôi vẫn còn mơ thấy mình đang lọp chọp lội ở các bờ sông rạch bùn xình dính đầy người... Những ngày tối tăm của cuộc đời nhiều khi muốn quên đi nhưng rất khó. (A.C.La)
DA DIẾT
* Xin gửi lời khen ngợi ông bạn ĐS 14 vẽ bức tranh rất đẹp. (T) (email qua VMN, ĐS16)

Tuy tốt nghiệp khóa ĐS16, nhưng anh đã trên tuổi thất thập cổ lai hi, và anh cũng là một họa sĩ.

- Xin cám ơn sư huynh đã khen tặng và mong sư huynh cũng cầm cọ lại cho vui lúc tuổi già (A.C.La)


CHIÊM BAO
* Vợ tôi vào xem tranh của Bác thấy "tay nghề" ngày một cao. (Khen như vậy chẳng khác gì VC khen công nhân.) Nói chơi vậy thôi: tranh ACLa đặc biệt tranh người đẹp càng ngày càng sinh động: đường nét, mầu sắc... nói chung : RẤT ĐẸP, RẤT SỐNG... Bọn này thắc mắc hình như chỉ có một người mẫu đã ngự trị trong tim, trong óc, trong từng tế bào của họa sĩ chăng? "Thành thật khai báo", "CM" biết hết cả rồi. Chúc sang năm mới tranh càng ngày càng đẹp. (PT)

- Về chuyện người mẫu, có nhiều anh chị và bạn hữu thắc mắc. Nhưng thú thực với ngài, tôi chẳng biết khai báo ra sao nữa. Mà đại gia đã biết cả rồi kia mà!

Tuesday, March 24, 2009

Đại diện Hội CSV-QGHC Liên Bang Úc lên tiếng

SỰ TRƯỞNG THÀNH VỀ DÂN CHỦ

Nhìn lại diễn biến và kết qủa của Đại Hội Cựu Sinh Viên QGHC tại Nam Cali vào những ngày đầu năm nay, người viết ghi nhận sự trưởng thành của tập thể trí thức các CSV QGHC trong một sinh hoạt thử thách về dân chủ với những đặc điểm dưới đây:

    • Chúng ta đã thể hiện được lòng bao dung (tolerance) cần thiết cho một sinh hoạt dân chủ, dẹp bỏ những bất đồng của bè phái nhỏ nhoi (in-fighting) và chấp nhận cùng ngồi lại với nhau để giải quyết các vấn đề mâu thuẫn trong tình ái hữu của các hội viên.
    • Ý kiến của nhiều hội viện phát biểu trong Đại Hội cho thấy ưu điểm của sinh hoạt dân chủ trực tiếp được thực hiện tại Hội Trường với số người tham dự trên dưới 100 người. Trong một sinh hoạt như thế, những điều lệ và nội quy trở nên phù phiếm. Sinh hoạt dân chủ trực tiếp đó đã diễn ra nhanh chóng và hữu hiệu hơn phương thức dân chủ gián tiếp. Nhưng liệu những thể thức sinh hoạt trực tiếp đó có thể trở thành một thứ Điều Lệ “Bất Thành Văn” tại Nam Cali hay không, thì chúng ta cần phải xem xét lại.
    • Hiến Pháp của Anh Quốc đã dựa trên tập tục và trở thành một thứ luật tối cao bất thành văn của các bậc quân tử (gentlemen). Dù bất thành văn, nhưng Hiến Pháp đó đã được các đại diện ở cả hai Viện của Anh Quốc tôn trọng và duy trì từ hơn hai trăm năm nay, đã trở nên một trong những Định Chế Chính Trị Dân Chủ ổn định lâu đời nhất trên thế giới. Trở lại câu hỏi nêu trên thì liệu các hội viện của Hội Ái Hữu CSV QGHC Nam Cali có thể coi mình như những “gentlemen”, tôn trọng và chấp nhận những giao ước, tuy bất thành văn, là một thứ tập tục có tính cưỡng bách cho tất cả mọi hội viên hay không. Điều này, chỉ có thời gian mới chứng minh được điều đó.
    • Cũng dựa trên căn bản “Bất Thành Văn” đó, Hội Cựu Sinh Viên QGHC Liên Bang Úc Châu, tuy có Nội Quy chính thức được thỏa thuận hơn 20 năm trước, trong các buổi Đại Hội để chọn Đại Diện cho Liên Bang Úc Châu qua hình thức dân chủ trực tiếp, phần lớn đã không áp dụng đúng theo Nội Quy. Vô hình chung, tập tục đó đã tạo nên một Bản Điều Lệ “Bất Thành Văn” được áp dụng trên hơn 20 năm qua trong một hình thức dân chủ ổn định và hài hòa tại các Tiểu Bang của Úc Châu.
    • Nói đến dân chủ trực tiếp và bất thành văn, chúng ta không không thể quên rằng Tổng Hội CSV QGHC là một tổ chức rộng lớn bao gồm các quốc gia ở rải rác trên thế giới. Do đó không thể áp dụng hiệu qủa thể thức dân chủ trực tiếp và những tập tục bất thành văn ở trên, do sự ngăn cách về không gian và sự thiếu thông cảm lẫn nhau của các tổ chức địa phương. Đó cũng là nguyên nhân mà một vài cá nhân có tham vọng bất chính đã lạm dụng tình ái hữu đồng môn và những khe hở của Bản Điều Lệ hiện nay của Tổng Hội, mặc tình thao túng các sinh hoạt của Tổng Hội với ý đồ bám giữ lấy vai trò Chủ Tịch HĐQT, và đưa đến nguy cơ làm đổ vỡ một Tổ Chức Ái Hữu các Cựu Sinh Viên QGHC. Các đồng môn chắc cũng không quên là vài ngày trước Đại Hội tại Nam Cali, Trần Xuân Thời, Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị của Tổng Hội đã gởi một điện thư cảnh cáo các hội viên tại Nam Cali về việc áp dụng triệt để các Điều Lệ Nội Quy trong sinh hoạt bầu cử Đại Diện của Hội tại đây.
    • Sự thành công và trưởng thành về sinh hoạt dân chủ của các hội viên tại Nam Cali cần được duy trì và phát huy trên một quy mô rông lớn của Tổ Chức Tổng Hội hiện nay. Thiển nghĩ đã đến lúc cần nên đề nghị với các tổ chức Cựu Sinh Viên QGHC trên thế giới cùng nhau phân tích và tu chính các Điều Lệ ca Bn Nội Quy của Tổng Hội, thẩm định lại vai trò và quyền hạn của viên Chủ Tịch HĐQT, để tránh lp li tình trạng phân hóa của các tổ chức QGHC trong thời gian qua, hầu chuẩn bị cho việc tuyển chọn lại vai trò Chủ Tịch HĐQT và Ban Chấp Hành Tổng Hội vào nhiệm kỳ sắp tới đây.

Nhan Tử Hà

Đại Diện Hội Cựu Sinh Viên QGHC Liên Bang Úc Châu

Monday, March 23, 2009

Thơ Hàn Thiên Lương

(Click to enlarge)

Ký sự đặc biệt

Trang sử máu và nước mắt cuả dân tộc Việt Nam bước vào giai đoạn thảm khốc kể từ 30 tháng 4 năm 1975! Sau vaì ngày tuyên truyền láo khoét, bọn cầm quyền cộng sản thi hành chiến dịch tập trung những ngươì làm việc trong hàng ngũ quốc gia, truy tìm những ngươì đã tích cực chống cộng, phân loaị để biệt giam, thủ tiêu hoặc tuyên án tử hình.

Trong các tầng lớp quân, dân, cán, chính miền Nam đã giáng trả những đòn chí tử ngăn chận cộng sản xâm lăng, anh em hôì chánh viên và các toán võ trang tuyên truyền (armed propaganda teams) góp phần không nhỏ . Cộng sản đã bị nhiều tổn thất nặng nề do những tin tức từ hôì chánh viên cung cấp và hướng dẫn hoặc các cuộc hành quân đột kích vào tận hang ổ cộng sản cuả cán bộ võ trang tuyên truyền , vì vậy chúng liệt họ vào hàng kẻ thù số một . Hàng trăm hôì chánh viên và cán bộ võ trang tuyên truyền bị giết haị từ khi miền Nam bị cuỡng chiếm .

Chính sách chiêu hôì, khai sinh từ Đệ Nhất Cộng Hòa, là một phần hành cuả Bộ Công Dân Vụ . Ông Bộ trưởng Ngô trọng Hiếu thường xuyên nhắc nhở công tác chiêu hôì, thảo luận, chọn lựa các danh từ thích hợp như là qui vị viên, qui chánh viên đến hôì chánh viên . Chương trình chiêu hôì ngày càng phát triển trở thành một Bộ và đưộc sự hổ trợ mạnh mẽ cuả ngân sách ngoaị viện . Hoạt động chiêu hôì dưạ trên Huấn thị điều hành 222, bao gồm các điều khoản từ định nghĩa hôì chánh viên đến nghĩa vụ và quyền lơị cuả hôì chánh viên như : khai báo lý lịch và tin tức, tiêu chuẩn ẩm thực, tiêu vặt, y phục, huấn chính, huấn nghệ, thủ tục căn cước và cuôí cùng hòan hương vơí đầy đủ quyền công dân .

Cho đến tháng 4 năm 1975, tổng số hôì chánh viên vượt quá con số hai trăm ngàn, từ binh sĩ đến thượng tá, từ du kích điạ phương đến chính qui Bắc Việt, từ giao liên đến tỉnh ủy viên . Môĩ hôì chánh viên khi rơì bỏ cộng sản đều mang laị nhiều thuận lơị, đó là niềm tin vào chính nghiã quốc gia và vô số tin tức giá trị . Sau đây là tóm tắt những đóng góp nôỉ bật cuả anh chị em hôì chánh viên và cán bộ võ trang tuyên truyền .

1/ Chiến thắng trên Quốc lộ 15 . Trong một buôỉ tiếp đón phaí đoàn thanh tra chương trình Bình định phát triễn Quân khu 3 taị toà hành chánh tỉnh Phước Tuy năm 1967, Trung tá Lê đức Đạt tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng tường trình trường hợp Tiểu khu Phước Tuy không những bảo vệ tỉnh ly - thị xã Phước Lễ - tránh được chiến trường đẫm máu mà còn có cơ hôị tiêu diệt nhiều sinh lực cộng quân trong lảnh thổ quân khu 3 .

Vào buôỉ sáng cuôí tuân tháng 5, tiểu khu Phước Tuy nhận được tin một đoạn daì trên quốc lộ 15 bị đào và đắp mô cản trở lưu thông . Như thường lệ, bộ chỉ huy tiểu khu cử đaị úy Dung, Phó tỉnh trưởng nôị an đưa một số đaị đôị điạ phương quân và đaị úy Hiệp chỉ huy lực lượng biệt động quân đến nơi giaỉ toả chướng ngaị và taí lập lưu thông .

Khoảng một giờ trưa, từ hướng Long sơn xuất hiện một cán binh cộng sản hơ haỉ xin hôì chánh và yêu cầu gặp ngay Trung tá Tỉnh trưởng . Ngươì hôì chánh ấy báo cho Trung tá Tỉnh trưởng biết từ đêm hôm qua hai sư đoàn cộng quân - công trường 5 và công truờng 7 - đã tập kết taị chân nuí Thị vaỉ và các đơn vị đang di chuyển đến vị trí tác chiến áp sát tỉnh lỵ . Kế hoạch cuả cộng quân là dụ các lực lượng cơ hữu cuả Tiểu khu đến đoạn đường bị đào đắp, chúng sẽ chận đánh và tiêu diệt đoàn xe khi trở về gần đến tỉnh vào buôỉ chiêù đồng thơì cũng là lúc khai hoả thọc những muỉ tấn công ồ ạt vào tỉnh lỵ . Chúng dự tính có đủ quân số và vủ khí tràn ngập thị xả Phước Lể, kế đến tiến chiếm thị xả Vủng Tàu .

Kinh nghiệm nhiều năm trong chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng từ Bình Tuy ( 1962 ) đến Phước Tuy, Trung tá Đạt ra lệnh cho đaị úy Dung và đaị úy Hiệp không được di chuyển về tỉnh, phaỉ đào công sự cố thủ ngay taị chỗ . Lệnh báo động ban hành trong toàn tỉnh , tập trung tất cả các đơn vị quân sự và bán quân sự còn laị của tỉnh sẵn sàng chiến đấu . Các cố vấn quân sự Mỹ được mơì họp lập kế hoạch ngăn chận và tiêu diệt địch .
Được các phi cơ quan sát hướng dẫn, nhiều phi vụ F4, F105 ném bom xăng và bom mảnh vào đôị hình cộng quân một cách chính xác . Tiếp theo, các phi đoàn trực thăng vaĩ đạn vào lớp ngươì đôị nón tai bèo đang tháo chạy vào hướng nuí . Quân đôị Hoa Kỳ đồn trú taị Long Bình nhanh chóng tham chiến, traỉ quân dọc theo Quốc lộ 15 và pháo binh nả đạn vào các toạ độ xác định . Chiều tôí, pháo đaì bay B52 traỉ thảm đuôỉ theo đám tàn quân .

Sự xuất hiện đúng lúc cuả một hôì chánh viên đã phá vở một kế hoạch quân sự qui mô cuả địch, đồng thơì tiêu điệt phần lớn sinh lực công trường 5 và công trường 7 cộng quân vơí hơn ba trăm thương vong chỉ bằng hoả lực cuả không quân và pháo binh .

2/ Trung Tá Phan văn Xướng và trung đoàn Cửu Long hôì chánh tập thể . Trong kế hoạch tổng công kích mậu thân đợt 2, trung đoàn Cửu Long do trung tá cộng sản Phan văn Xướng chỉ huy đã đột nhập khu Đồng Ông Cộ, cách tòa hành chánh tỉnh Gia Định khoảng 3 kilomet và đang bị bao vây . Mặc dù được lệnh tử thủ nhưng trung tá Phan văn Xướng quyết định hưởng ứng lơì kêu goị hôì chánh . Toàn bộ trung đoàn Cửu Long được tiếp đón taị trung tâm chiêu hôì trung ương Thị Nghè, ngoaì anh Phan văn Xướng còn có hai ca sĩ nôĩ tiếng Đoàn Chính và Buì Thiện . Sự trở về cuả trung đoàn Cửu Long là một caí tát vào mặt Lê đức Thọ đang vênh váo, khoác lác về những chiến thắng trên các mặt trận, bẻ gảy thủ đoạn bắt bí phaí đoàn thương thuyết Việt Mỹ taị Hòa đàm Paris .
Anh Phan văn Xướng được Bộ Chiêu hôì bổ nhiệm chức vụ tham nghị vơí lương bổng và phụ cấp cuả một giám đốc . Đoàn Chính và Buì Thiện tiếp tục ca hat trên đaì phát thanh và truyền hình . Đoàn Chính được ông Vũ bá Ước, Chủ tịch Phòng thương maĩ Saìgòn, bạn thân cuả nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đưa về nhà nuôi dưỡng và gả con gaí, vai năm sau Buì Thiện cươí vợ dược sĩ .

Sau 30/4/75, anh Phan văn Xướng bị biệt giam và không có tin tức gì khác ngoaì tin anh bị xử bắn . Gia đình Đoàn Chính và Buì Thiện di tản khoỉ Saì gòn trong những ngày cuôí tháng 4/75 .

3/ Các hôì chánh viên cuả Ty chiêu hôì Kiến Hoà . Những năm 1969, 1970 Ty chiêu hôì Kiến Hoà tiếp nhận vượt mức số lượng hôì chánh viên, nôỉ bật nhất là anh Xuân Vũ, văn sĩ hôì kết và anh Buì công Tương, uỷ viên tuyên huấn tỉnh Bến Tre .

Anh Xuân Vũ tên thật Buì quang Triết, bạn học cùng lớp vơí tướng Ngô quang Trưởng, tham gia kháng chiến chống Pháp năm 15 tuôỉ . Sự trở về vơí đaị gia đình dân tộc cuả anh Xuân Vũ không những đem laị cho Việt Nam Cộng Hoà một cây bút chống cộng giá trị mà còn cung cấp hai nguồn tin quan trọng, đó là sự chia rẽ Nam, Bắc trong hàng ngủ cao cấp cộng sản và tù binh Mỹ .

Anh kể laị, trên đường trở về miền Nam, anh đã nhìn thấy raỉ rác trong môĩ hố sâu thẵm là một tù binh gầy ốm, hôi thôí, rên rĩ, như một con thú . Những ngươì nầy sẽ chết vì đoí khát, bệnh tật và hầm giam sẽ được vuì lấp bằng một vaì tảng đá, kể cả tù binh còn sống nếu đơn vị cộng sản có nhu cầu rơì khoỉ vị trí . Anh cũng cho biết cộng sản Hà Nôị đã chuyển giao cho Liên Xô một số tù binh phi công Mỹ để cơ quan tình báo Liên Xô khai thác những tin đặc biệt về không lực Hoa Kỳ.

Trong năm 2002 vừa qua, một vaì giơí chức nước Nga lên tiếng nhắc đến hồ sơ tù binh phi công Mỹ trong chiến tranh Việt Nam bị lưu đày taị Liên Xô liền bị khóa mồm ngay từ lúc mở miệng . Việc làm nầy cuả cộng sản Việt Nam thật dễ hiểu như động tác cuả một con chó thuần dưởng chui vào buị rậm tha con môì đặt ngay dươí chân ông chủ . Vì vậy,vấn đề còn laị là liệu lập pháp và hành pháp Mỹ có đủ quyết tâm buộc Hà Nôị thành thật khai báo .

Anh Buì công Tương, ngay khi mơí ra hôì chánh đã hợp tác chặt chẻ vơí tiểu khu Kiến Hoà và quân đôị Hoa Kỳ triệt hạ nhiều cơ sở tỉnh uỷ cộng sản Bến Tre . Anh Buì công Tương có lôí noí trôi chảy, thao thao bất tuyệt, không những được các cấp Bộ Chiêu hôì khen ngơị mà còn được sự lưu ý cuả Thủ tướng Trần thiện Khiêm . Năm 1970, anh Tương giúp Bộ Chiêu hôì hoàn thành một bạch thư tố cáo tôị ác cộng sản . Anh Tương cung cấp một số hình ảnh ngụy tạo cuả cơ quan tuyên huấn Bến Tre như cán bộ cộng sản đóng vai linh mục trong thánh lễ, dàn dựng cảnh binh sĩ V.N.C.H. đánh đập phụ nữ, cầm đuốc đốt nhà trước vẽ mặt căm giận cuả một cụ già . Sách nầy được viết bằng hai thứ tiếng Việt và Anh .

Các hôì chánh viên cuả tỉnh Kiến Hoà cũng kể laị những thủ đoạn áp chế ngươì dân quê chất phát trong thơì kỳ phát động chiến dịch đồng khơỉ 1960 . Chúng thúc ép dân chúng từ các thôn, ấp đến tập trung trước các Quận kể cả thị xả Bến Tre phất cờ đỏ, trương biểu ngử, la ó, chưỉ bơí, xô xát vơí nhân viên công lực. . . Sau vaì lần quậy phá, chúng mở cuộc kiễm thảo, phê bình, hăm dọa những ngươì mà chúng cho là thiếu tích cực hoặc không thực tâm phục vụ chính sách, nếu taí phạm sẽ bị trừng phạt bằng nhiều biện pháp- . Do cách kiềm kẹp nầy nên đám đông quần chúng thường có những hành động liều lỉnh, quá khích . Một số ngươì bị cơ quan an ninh tỉnh bắt giữ, bị thẫm vấn mạnh tay nhưng vẫn có thai độ chịu đựng, thản nhiên, một cách khó hiểu . Đuợc gặn hoỉ họ thú nhận rằng nếu không có những vết tích chứng tỏ sự trung thành, khi trở về thôn ấp sẽ bị nghi ngờ và có thể bị kết tôị như là khai báo tổ chức, bị móc nôí làm tay sai . . . và sẽ lảnh bản án nặng nề làm gương cho kẻ khác.
Chiến dịch đồng khơỉ Bến Tre còn được thúc đẩy bằng biện pháp khủng bố ghê rợn khác nửa . Taị môĩ thôn ấp chúng lưạ chọn một số công dân, buộc họ nhiều thứ tôị từ ác ôn, cường hào ác bá, phản cách mạng đến gián điệp, tay sai Mỹ ngụy . . . và tập trung taị một baĩ đất rộng goị là tòa án nhân dân . Chúng troí các nạn nhân vào hai hàng cọc đôí diện nhau . Sau thủ tục xét xử nham nhở, chúng tuyên án tử hình một số ngươì và khoan hồng một số khác . Tên đao phủ cầm mã tấu lần lượt chém đằu những ngươì bị kết tôị . Kể từ đấy những ngươì được tha cũng trở nên mất trí, những ngươì dân chứng kiến phiên toà hoặc nghe kể laị đều trở thành đám cưù non răm rắp tuân theo bất cứ mệnh lệnh nào cuả đám cán bộ cộng sản ! Câu chuyện đã xảy ra hàng nửa thế kỷ trước, nay có dịp nhắc laị những ẩn tích cuả đồng khơỉ Bến Tre và con quaí vật Nguyễn thị Định .

4/ Trận đột kích táo bạo cuả cán bộ võ trang tuyên truyền Ty Chiêu Hôì Kiên Giang. Kể từ 1972, chính qui Bắc Việt gia tăng xâm nhập vào lảnh thổ Quân khu 4, không những dọc theo biên giơí Việt Miên từ Kiến Tường đến Hà Tiên mà còn vượt kinh Caí sắn vào rừng U Minh . Giữa năm 1973, một trưởng trạm giao liên vùng U Minh, anh Lê văn Be ra hôì chánh . Anh Be cho biết có nhiều chính qui Bắc Việt vưà xâm nhập và đang trú đóng taị khu rừng chôì . Ty Chiêu hôì Kiên Giang lên kế hoạch tiêu diệt địch và được sự chấp thuận cuả Đaị tá Chính, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Kiên giang .

Một toán cán bộ võ trang tuyên truyền mươì hai ngươì quen thuộc điạ hình khu vực, caỉ trang thành bộ đôị vơí dép râu, nón tai bèo, vũ trang tiểu liên AK47 do trung đôị trưởng Nguyễn văn Tòng chỉ huy . Toán hành quân khơỉ hành từ sẫm tôí trên bốn chiếc xuồng nhỏ do sự hướng dẩn cuả hôì chánh viên Lê văn Be về lộ trình, mật khẩu và mật hiệu là một ngươì ngôì taị muĩ ghe vớí nón tai bèo, AK47 băng đạn đưa về phía trươc . Toán hành quân vào đến vị trí vào lúc nưả khuya khi các cán binh cộng sản đang ngon giấc . Anh em cán bộ VTTT áp dụng phương pháp tác chiến đã dặn dò từ trước . Họ dùng dao găm cắt đây treo mùng để chiếc mùng phủ chụp trên thân ngươì đang năm vuà làm cản trở ngươì đang ngủ muốn đứng dậy vuà gíúp ngươì bên ngoaì phân biệt đầu và chân . Qua ánh sáng lờ mờ cuả mấy ngọn đèn dầu taị chỗ, cán bộ VTTT hướng muĩ lê AK47 nhắm vào phần cổ, ngực đâm mạnh nhiều nhát . Môĩ chiến sĩ tấn công phaỉ thanh tóan từ hai đến bốn đôí tượng bằng nhiều muĩ lê chính xác .

Sau khoảng mươì phút ra tay không một tiếng súng nổ, chiến trường đã thanh toán xong vơí hiện trạng hơn ba mươi cuộn vaỉ mùng đẫm máu, lăn lộn , rên rĩ . Đôị giang đỉnh cuả tiểu khu Kiêng Giang ứng chiến taị Rạch Soĩ nhận được tín hiệu nổ máy lao vào điễm hẹn tập trung đón các chiến sĩ VTTT trở về tỉnh lỵ . Taị toà hành chánh Kiên Giang, Đaị tá Chính vẫn còn thức và chờ đơị, đích thân mở rượu, ân cần mơì môì chiến sĩ một ly rượu nồng trong khi bình minh vưà ló dạng trên biển trơì Rạch Giá .

Các cán bộ VTTT tham gia cuộc hành quân được tuyên dương công trạng vào buôỉ sáng thứ hai chào cờ tai sân toà hành chánh . Anh Lê văn Be được tuyển dụng vào chức vụ tiểu đôị trưởng VTTT . Kể từ đấy anh Lê văn Be cung cấp các tin tức chính xác, hướng dẫn các cơ quan an ninh và quân sự tỉnh Kiên Giang dọn dẹp sạch sẽ địa điểm trú ẩn cuả tỉnh uỷ Long Châu Hà taị rừng U Minh .

Chiều ngày 30/4/75 anh Lê văn Be và vợ tự sát trong một hố chiến đấu taị trung tâm chiêu hôì Kiên Giang de lai mot con trai 10 tuoi : cháu Lê van Kiên . Vaì ngày sau, trung độị trưởng Nguyễn văn Tòng bị xử bắn taị chợ Rạch Giá . Những tháng năm kế tiếp cộng sản tìm nhiều thủ đoạn khác lấy đi hàng chục mạng sống cựu cán bộ VTTT tỉnh Kiên Giang.

Nam 1987, cháu Lê văn Kiên vuot biên den Thaí Lan và qua thoi gian tam trú sáu tháng tai trai ty nan, cháu Kiên duoc dinh cu tai My . Cháu Kiên hiện là một chuyên viên điện tử, sinh sống cùng vơí gia đình taị San Jose . Hàng năm cứ vào chủ nhật cuôí tháng 4 dương lịch, cũng như nhiều gia đình có ngươì thân bị bách haị trong ngày đaị tang cuả dân tộc, gia đình cháu Kiên kỵ giỗ cha mẹ vơí sự tham dự cuả các chú bác thân quen . 5/ Tin tức từ hôì chánh viên cuả Ty Chiêu Hôì Châu Đốc . Năm 1973 Ty chiêu hôì Châu Đốc đón nhận một số lượng hôì chánh viên đáng kể và cung cấp cho các cơ quan hữu trách các cấp - tỉnh, quân khu, trung ương - nhiều bản tin giá trị.
Anh Châu Dok, ngươì Việt gốc Miên, bí thư huyện Tịnh Biên đã hướng dẩn cuộc hành quân phôí hợp cán bộ VTTT và thám sát tỉnh PRU (provincial reconnaissance unit) lục soát đỉnh Tuk Chup khu vực Thất Sơn tịch thâu một số vũ khí do tỉnh uỷ Long Châu Hà chôn dấu trước khi bị xua đuôỉ khoỉ hang ổ.

Cùng thơì gian, hôì chánh viên Lâm văn Tô trở về từ mật khu Lò Gò ( lảnh thổ Campuchia ) khai báo bí thư tỉnh Long Châu Hà, nữ cán bộ Tám Thành cư trú trên một chiếc ghe bỏ neo giữa vạn đò thị xã Long Xuyên . Hôì chánh viên Lâm văn Tô hướng dẩn cuộc hành quân phôí hợp gồm nhân viên cảnh sát Bộ chỉ huy cảnh sát Châu Đốc và cán bộ VTTT Ty chiêu hôì Châu Đốc đến tận nơi bắt gọn Tám Thành và toán bảo vệ . Qua thủ tục thẫm vấn tích cực taị Bộ chỉ huy cảnh sát Châu Đốc và taị Bộ chỉ huy cảnh sát Quân khu IV ( Cần Thơ ), Tám Thành nhận là tỉnh uỷ viên Long Châu Hà và đương sự được chuyển đi giam giữ taị Côn Đảo.

Từ vụ Tám Thành đến chuyện daì Vũ ngọc Nhạ, Phạm ngọc Thảo, Phạm xuân Ẩn, Nguyễn Tá ... cho chúng ta kinh nghiệm về nơi trú ẩn an toàn cuả cán bộ cộng sản . Cuộc chiến quốc cộng bằng vũ khí đuợc chuyẻn qua những hình thức đấu tranh khác và gián điệp hay là kế hoạch nằm vùng, vẫn là vũ khí lơị haị mà cộng sản không bao giờ bỏ lỡ cơ hôị.

5/ Tin tức từ hôì chánh viên cuả Ty Chiêu Hôì Châu Đốc . Năm 1973 Ty chiêu hôì Châu Đốc đón nhận một số lượng hôì chánh viên đáng kể và cung cấp cho các cơ quan hữu trách các cấp - tỉnh, quân khu, trung ương - nhiều bản tin giá trị .

Anh Châu Dok, ngươì Việt gốc Miên, bí thư huyện Tịnh Biên đã hướng dẩn cuộc hành quân phôí hợp cán bộ VTTT và thám sát tỉnh PRU (provincial reconnaissance unit) lục soát đỉnh Tuk Chup khu vực Thất Sơn tịch thâu một số vũ khí do tỉnh uỷ Long Châu Hà chôn dấu trước khi bị xua đuôỉ khoỉ hang ổ .

Cùng thơì gian, hôì chánh viên Lâm văn Tô trở về từ mật khu Lò Gò ( lảnh thổ Campuchia ) khai báo bí thư tỉnh Long Châu Hà, nữ cán bộ Tám Thành cư trú trên một chiếc ghe bỏ neo giữa vạn đò thị xã Long Xuyên . Hôì chánh viên Lâm văn Tô hướng dẩn cuộc hành quân phôí hợp gồm nhân viên cảnh sát Bộ chỉ huy cảnh sát Châu Đốc và cán bộ VTTT Ty chiêu hôì Châu Đốc đến tận nơi bắt gọn Tám Thành và toán bảo vệ . Qua thủ tục thẫm vấn tích cực taị Bộ chỉ huy cảnh sát Châu Đốc và taị Bộ chỉ huy cảnh sát Quân khu IV ( Cần Thơ ), Tám Thành nhận là tỉnh uỷ viên Long Châu Hà và đương sự được chuyển đi giam giữ taị Côn Đảo .

Từ vụ Tám Thành đến chuyện daì Vũ ngọc Nhạ, Phạm ngọc Thảo, Phạm xuân Ẩn, Nguyễn Tá ... cho chúng ta kinh nghiệm về nơi trú ẩn an toàn cuả cán bộ cộng sản . Cuộc chiến quốc cộng bằng vũ khí đuợc chuyẻn qua những hình thức đấu tranh khác và gián điệp hay là kế hoạch nằm vùng, vẫn là vũ khí lơị haị mà cộng sản không bao giờ bỏ lở cơ hôị .

6/ Hôì chánh viên Nguyễn trường Sơn và Tiểu khu Khánh Hòa . Cũng như các tiểu khu khác, tiểu khu Khánh Hoà đặt trọng tâm vào việc bảo đãm an toàn các trục lộ giao thông huyết mạch . Vào giữa khuya một đêm tháng 10 năm 1974, một cây cầu trên quốc lộ 1 thuộc điạ phận chi khu Ninh Hòa bị nổ sập mặc dầu từ sẩm tôí đích thân trung tá Nhơn, quận trưởng kiêm chi khu trưởng Ninh Hòa tuần tra, dặn dò các đồn bót và phân chi khu đóng trên quốc lộ .

Khoảng mươì ngày sau, cán binh Nguyễn trường Sơn, thượng úy đặc công thủy ra trình diện hôì chánh . Theo lơì khai, chính anh Sơn là ngươì đánh sập cây cầu trên quốc lộ 1 thưộc quận Ninh Hoà và đang nhận chỉ thị lập kế họach phá huỷ đaì radar đặt trên đảo trước baĩ biển Nha Trang .

Anh Sơn tình nguyện hướng dẩn tiểu khu Khánh Hoà hành quân vào mật khu Đồng Bò thuộc quân Diên Khánh phá huỷ một trung tâm huấn luyện sĩ quan, tiêu diệt lực lượng trú đóng trong đó có khoảng trên mươì sĩ quan cấp bực từ thiếu úy đến đaị úy, tịch thu nhiều vũ khí vơí hàng chục K.54 . Anh Sơn cũng cho biết nhiều tin tức quan trọng khác khiến lảnh sự Mỹ taị Nha Trang vôị can thiệp, sử dụng anh vào một số công tác cần thiết và chuyển anh về Saìgòn .

Trong một buôỉ sáng thứ hai chào cờ taị tiền đình trụ sở bộ Dân vận Chiêu hôì đường Phan đình Phùng, ông Tổng trưởng Hồ văn Châm tuyên dương công trạng hôì chánh viên Nguyễn trường Sơn và trao tặng số tiền thưởng một triệu đồng .

7/ Tưởng nhớ những hôì chánh viên đặc biệt đã nằm xuống . Có dịp nhắc laị chính sách chiêu hôì và những thành quả, không thể naò quên những mẫu ngươì tiêu biểu, khả aí và khả kính .

Anh Lê xuân Chuyên : anh Chuyên nguyên là trung tá chính qui Bắc Việt làm việc taị trung ương cục miền Nam . Anh có dáng ngươì tròn triạ, ít noí, hôì chánh năm 1967 taị xã Suôí Kiết tỉnh Bình Tuy . Anh giúp Bộ Chiêu hôì khai sinh các đaị đôị Võ trang tuyên truyền từ trung ương đến điạ phương . Anh được Bộ chiêu hôì cử nhiệm chức vụ tham nghị đặc biệt - hàng Tổng giám đốc - kiêm nhiệm Chỉ huy trưởng Võ trang tuyên truyền trung ương .
Vào những ngày căng thẳng cuôí tháng 4/ 1975, anh vẫn điềm nhiên làm việc taị Bộ Dân vận chiêu hôì đường Hiền Vương . Trong cuộc đàm luận thân mật anh chậm raĩ noí rằng, nếu cộng sản chiếm được miền Nam thì những công chức, quân nhân cuả Việt Nam Cộng Hòa sẽ bị tù nhiều năm, từ mươì đến hai mươi năm, còn những ngươì hôì chánh -như các anh- sẽ ra trước pháp trường; tuy nhiên, dù tù tôị hay bị giết chết là điều chấp nhận cuả kẻ thua cuộc, nhưng đáng buồn cho đất nước Việt Nam rôì đây sẽ trở thành caí sọt rác cuả Trung Quốc !

Anh Chuyên bị vây bắt trong ngày đầu tháng 5/ 1975, bi biệt giam và bị tử hình taị miền Bắc . Không biết hiện nay chị Lê xuân Chuyên và các cháu đang sinh sống taị nơi nào, trên một đất nước tự do hay vẫn còn lầm than trong điạ ngục trần gian cộng sản .

Anh Huỳnh Cự : Anh Huỳnh Cự hôì chánh taị Quảng Ngaỉ vơí cấp bậc trung tá. Anh Huỳnh Cự cũng được Bộ chiêu hôì cử nhiệm chức vụ tham nghị đặc biệt kiêm nhiệm trưởng đoàn thuyết trình trung ương . Anh Huỳnh Cự tính tình bộc trực, cơỉ mở thường hướng dẫn các đoàn hôì chánh trình bày bộ mặt thật, gian xảo, tàn bạo, vô luân cuả chủ nghiã cộng sàn và đảng cộng sản từ các cơ quan taị Saìgòn đến các tỉnh, thị .. . Anh được thả năm 1990 và được cấp giấy xuất cảnh theo diện H.O.

Một buôỉ sáng đầu năm 1991, anh Huỳnh Cự và anh Mai đình Tạo cựu trưởng ty chiêu hôì Bình Dương gập nhau taị một quán cà phê đường Hàng Xanh . Trong câu chuyện anh Tạo dặn dò anh Cự không nên noí nhiều, đơị đến Mỹ sẽ tính . Hai anh rơì quán và vừa đặt chân xuống lòng đường, một chiếc xe jeep màu xanh lao vào và cán qua ngươì anh Huỳnh Cự . Hai ngươì trên xe ngoaí cổ nhìn laị, luì xe cho lăn bánh qua thi thể đang co giât thêm một lần nửa trước khi rồ maý đi thẳng .

Buôỉ sáng hôm đó, anh Tạo và dân chúng xung quanh chứng kiến cảnh cộng sản thủ tiêu anh Huỳnh Cự một cách ngang nhiên giữa thanh thiên bạch nhật .

Thuợng tá Tám Hà . Thượng tá Tám Hà, chính ủy sư đoàn 5 cộng sản ra hôì chánh taị Bình Dương năm 1970 . Những ngày đầu tiên taị Bộ chiêu hôì, anh Tám Hà giữ một thaí độ lạnh lùng, kín đáo đôí vơí các nhân viên phỏng vấn Việt Mỹ . Một hôm, một cố vấn Mỹ nhờ anh Trần trường Khanh, chủ sự taị Nha công tác Bộ chiêu hôì trao tận tay anh Tám Hà một phong bì . Đây là một taì liệu gồm khoảng mươì tấm hình chụp những hoạt động riêng tư và công vụ cuả anh Tám Hà, trong đó có những cảnh thượng tá Tám Hà đang thảo luận vơí các sĩ quan cộng sản trước sa bàn . Sau khi xem tập ảnh, anh Tám Hà noí vơí Trần trường Khanh : ' Các anh đã biết đến thế nầy, tôi không còn điều gì để dấu giếm nữa '. Kể từ đấy anh Tám Hà hợp tác hoàn tòan vơí các nhân viên hữu trách Việt Mỹ . Anh Tám Hà làm việc taị Tổng cục chiến tranh chính trị Quân lực VNCH và tòa Đaị sứ Mỹ . Nguoì Mỹ đưa Tám Hà ra khoỉ Việt Nam cuôí tháng 4/ 75 và anh qua đơì taị Mỹ sau đó .

Trưởng Chi Dân vận chiêu hôì Nguyễn long Khẩn . Anh Nguyễn long Khẩn nguyên là sĩ quan quân báo cộng sản đã đem tất cả hiểu biết và kinh nghiệm góp sức vơí các cơ quan an ninh khu vực Cần Thơ - Chương Thiện truy lùng mạng lươí cộng sản . Cuôí năm 1973 anh được cử nhiệm chức vụ Trưởng chi Dân vận chiêu hôì quận châu thành tỉnh Phong Dinh, cũng là lúc bị cộng sản tung lựu đạn vào nhà ban đêm nhưng cả gia đình may mắn thoát nạn . Cuôí cùng, tháng 12 năm 1974, anh Khẩn bị một toán đặc công cộng sản phục kich bắn chết trên đường công tác !

Các hôì chánh viên và cán bộ võ trang tuyên truyền cũng là những chiến sĩ chống cộng. Mặc dù không có một qui chế chính thức và không được liệt kê vào danh sách quân lực Việt Nam Cộng Hoà tuy nhiên các anh đã thật sự chiến đấu, chiến đâú tận tình và gan dạ ngăn chận cộng sản xâm lăng . Cộng sản xem các anh là kẻ thù nguy hiễm nhất và vì biết rõ bộ mặt thật ghê tởm cuả cộng sản nên trong cuộc chiến các anh không có chỗ luì . Các anh chỉ biết tiến tơí và tiến tơí để chiến thắng hoặc chết ! Những hôì chánh viên hữu công và những cán bộ võ trang tuyên truyền là những chiến sĩ thật sự, những ngươì con thân yêu cuả Mẹ Việt Nam ./

Đỗ hữu Long, ĐS13

Sunday, March 22, 2009

Tranh mới


Sống Sót
Oil on canvas
22" x 28"
by A.C.La

(Click to enlarge)

Có người bạn hỏi cảm hứng nào đã giúp tôi vẽ bức tranh vượt biển này. Xin thưa ngay đó chính là ngày 30 tháng tư. Ngày mà "nếu chiếc cột đèn có chân cũng sẽ ra đi". 30 tháng tư, như lời phát biểu rất đúng đã thở thành quen thuộc trong dân gian "Ngày bỏ phiếu bằng chân" vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

Trong bài viết "Tỉnh Thức Trên Mặt Trận Tri Thức" của tác giả Trần Thị Hồng Sương, mới trích đăng trên Diễn Đàn này, có một đoạn ghi lại một sự thực mà người Việt Nam và đặc biệt những thuyền nhân Việt Nam sẽ nhớ mãi, đó là đoạn nói về những kẻ lầm lạc tin vào sự thành tâm của những người tạo ra phong trào cộng sản

"Ngày 20 tháng Sáu năm 1979, Sartre và Aron cùng hiện diện ở khách sạn Lutétia để kêu gọi ủng hộ sáng kiến cứu hộ “thuyền nhân” Việt Nam, tổ chức “con tàu cho Việt Nam” để tìm kiếm cứu vớt những người vượt biển tìm tự do đang lênh đênh đối mặt với sống chết trên biển Đông. Hai kẻ đối đầu tri thức suốt ba mươi năm đã hoà giải trước một sự thật cả hai đều phải công nhận và cùng nhau tranh đấu cho quyền của con người. Chừng nào trí thức trong và ngoài đảng CSVN mới có cuộc hội ngộ tư tưởng đẹp như biểu tượng thời đại giữa Aron và Jean Paul Sartre?"

Bộ máy kềm kẹp tư tưởng của Đảng Cộng Sản VN rêu rao rằng thuyền nhân chỉ là những người hốt hoảng bỏ chạy theo đế quốc Mỹ. Nhưng sự kiện đoàn người tiếp tục trốn bỏ chế độ cộng sản những năm sau ngày 30 tháng tư 1975 thì bộ máy tuyên truyền cộng sản không giải thích được mà phải để mặc cho thế giới thấy rằng chế độ CS không bao giờ thuận lòng dân.

Không còn cách nào khác để ngụy biện Đảng CSVN đã làm những việc vừa khôi hài vừa phản tác dụng như việc dùng ngoại giao ép buộc chính quyền các nước láng giềng phá bỏ các vết tích thuyền nhân đã để lại trên nước họ. Khi nhìn lại bức hình chụp một tượng đài kỷ niệm bị đục bỏ, tôi bỗng có ý làm một cái gì đó để góp phần thay thế tượng đài đã bị phá sập. Đó là lý do chính khiến bức tranh "Sống Sót" có mặt hôm nay trên Diễn Đàn này.

A.C.La
Gần ngày 30/4, 2009

Trán bóng


Cuộc chiến ngắn ngủi năm 1979 trên biên giới Tàu-Việt diễn ra giữa quân đội Hồ Chí Minh và quân đội Mao Trach Đông đã làm thiệt mạng gần một trăm ngàn binh lính hai bên và chưa kể thường dân Việt Nam bị khốn khổ vì pháo kích từ bên kia biên giới sau đó nhiều năm.

Sự giả dối của con người cộng sản có tên gọi nào diễn tả được?

Tỉnh và mơ

Tỉnh thức trên mặt trận tri thức
Tác giả: Trần Thị Hồng Sương

"Người CSVN và nhà văn phản kháng Dương Thu Hương cũng đang trong tầm suy nghĩ kiểu Sartre khi còn muốn giữ gìn thần tượng Nguyễn Tất Thành, cần phải suy nghiệm điều này .... Xin đừng tự nguyện làm trạng sư cho phía sai của lịch sử!"
Gửi hoạ sĩ Brian Đoàn

Tri thức đa dạng như Vị thần Janus hai mặt là thần của tháng thứ nhất trong năm: Januar/January/Janvier (Tháng Giêng). Theo thần thoại với nhiều dị bản, thần Janus có hai khuôn mặt nhìn về hai hướng đối nghịch. Mặt nhìn lui về quá khứ, mặt nhìn tới về hiện tại và tương lai, hai mặt còn là tượng trưng sự khởi đầu và hồi kết thúc. Thần Janus gắn trên cửa mặt quay ra ngoài mặt hướng vào trong nên còn được xem là thần giữ cửa.

Cũng có người muốn ví thần Janus biểu tượng hai nhận thức khác nhau về cùng một hiện thực xã hội, như trường hợp Nguyễn Nễ theo Tây Sơn, Nguyễn Quýnh phò Lê chống Tây Sơn, dù là anh em một nhà. Cặp Descartes và Pascal là cặp đối lập của tình - lý, Corneille và Racine là cặp đối lập của hai quan niệm bi quan-lạc quan, như Tố Hữu và nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm...

Có ba triết gia phương tây cùng có một dạo rất ngưỡng mộ chủ nghĩa cộng sản, đó là Bertrand Russell, Jean Paul Sartre và Aron. Chỉ có Aron được coi là người tỉnh thức trong mặt trận tri thức, Bertrand Russell chết sớm (1970) nên không thấy ngày tàn của chủ nghĩa Cộng Sản, còn Jean Paul Sartre thất vọng và nhận ra sự lầm lạc của mình! Nhiều người còn ngụy biện khi trích dẫn những tư tưởng lầm lạc của Bertrand Roussel mà không nói đến sự phản tỉnh của người bạn cùng chung tư tưởng với Bertrand Russell là Jean Paul Sartre.

Bertrand Russell (18 May 1872 – 2 February 1970) một thời được công nhận là một bậc trí thức với hai lần đoạt giải Nobel Bertrand Russell phản chiến nhất, thân Cộng nhất, đòi thiết lập một Toà Án Quốc Tế để xét xử Mỹ trong cuộc “chiến tranh nhơ bẩn” ở Việt Nam, kêu giải trừ vũ khí hạt nhân. Năm 1950, Bertrand Russel được tặng Giải Nobel Văn học, "tác phẩm ý nghĩa đề cao lòng nhân đạo và tự do tư tưởng". Nhưng Bertrand Russell không sống đủ lâu để có thể có mặt thứ hai nhìn về kết thúc của chủ nghĩa Cộng Sản mà ông ủng hộ để nếm trải sai lầm như Jean Paul Sartre. Giải Nobel của ông cho vấn đề nhân đạo và tự do nhưng cá nhân ông rất sai lầm trong tinh thần chống Mỹ điên cuồng và thiên Cộng sản. Có gì rất giống như giải Nobel hoà bình vì hoàn tất Hiệp định Paris của con người không có đạo đức cá nhân bị dân VN căm giận nhất vì quá độc ác với cán bộ với dân và với cả người thân trong gia đình là ông Lê Đức Thọ!

Jean-Paul Sartre (21 tháng 6 năm 1905 – 15 tháng 4 năm 1980) đã sống lâu hơn để thấy ra sai lầm của Cộng Sản. Ông là nhà văn, nhà triết học hiện sinh Pháp được trao giải Nobel Văn học năm 1964. Jean-Paul Sartre nhiệt tình ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Algérie, Trung Quốc, Cuba, cùng với Bertrand Russell thành lập Ủy ban chống tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Ông được giải Nobel nhưng không nhận.

Raymond-Claude-Ferdinand Aron (14 March 1905 — 17 October 1983) là học giả đồng thời với Sartre. Sau chiến tranh ông chống lại Sartre và người khuynh tả. Do từng chứng kiến Phát xít đốt sách ở Berlin nên Aron kiên định chống chủ nghĩa độc tài toàn trị.

Raymond Aron mất vào năm 1983, trở thành một biểu tượng duy nhất còn lại trong đời sống công cộng của Pháp. Hầu như ông được mọi người thán phục và kính trọng ý kiến được xem là khuôn thước bao hàm nhiều lãnh vực của công luận, hàn lâm và trí thức.

Ông là người duy nhất kiên định chống lại mọi âm mưu toàn trị của thời đại từ Phát Xít đến Cộng Sản. Thế mà mãi tận 1968, Aron còn bị coi là hiện thân ma quỷ của giới trí giả quan cách đầy dẫy sai lầm của nước Pháp, nhưng từ 1983 những người đã vỡ mộng về những ảo tưởng Cộng Sản hay tả khuynh của chính họ thì tư duy của Aron là nền tảng cho việc phục hoạt tư tưởng dân chủ tự do.

Sartre được Jacques Audiberti khen là “một người tỉnh thức trên mặt trận tri thức”vê các hoạt động sau 1945. Ở miền Nam trước năm 1975, do tầm hiểu biết thấp khó thể có chọn lựa khó khăn mang tính độc lập, ngược lại phong trào khuynh tả của Pháp, nơi mà người VN chịu nhiều ảnh hưởng về văn hoá cho nên tư tưởng chống độc tài toàn trị của Cộng Sản của Aron còn xa lạ . Tác phẩm Thuốc phiện của người trí thức (L'Opium des intellectuals) mang tinh thần “chống cộng”. Giai đoạn 1954-1963 miền Nam chọn lựa tiếp nhận “chủ nghĩa nhân vị” làm hệ tư tưởng chính thống, lấy tư tưởng “nhân vị” của Mounier làm chủ thuyết “Cần Lao Nhân Vị” của Ngô Đình Nhu, truyền bá công khai để chống lại hệ tư tưởng Mác-xít. Sartre nói: “Dứt khoát từ đây tôi không còn tin tưởng là lịch sử tuân thủ những mệnh lệnh của lý trí và những khao khát của những người thiện chí nữa” (Chủ nghĩa hiện sinh).

Trước đó Sartre từng xác định đồng hành với đảng CS Pháp và nói: “Quan điểm của tôi đã biến chuyển... Tôi khẳng định người nào chống cộng là đồ chó má”

Năm 1956, bản báo cáo mật của Khrouchtchev đọc trong Đại hội Đảng CS Liên Xô lần thứ XX lên án “tệ sùng bái cá nhân” cùng với những sai lầm nghiêm trọng của Stalin đã làm sững sờ những người “khuynh tả không cộng sản” còn mơ hồ về những thực tế ở bên kia “bức màn sắt” khiến Sartre bàng hoàng, nhưng Sartre đã làm chuyện sai lầm là muốn che giấu với ngụy biện là sợ những người liên quan chưa đủ tinh thần để tiếp nhận thất bại vỡ mộng đổi đời, trong khi Liên Xô đã công bố cho quốc dân tức là những người dân Liên Xô vốn chịu ảnh hưởng nặng nề hơn bất kỳ ai! Ông Sartre nói: “Phải biết điều gì người ta muốn đến chỗ nào người ta muốn đi, muốn thực hiện những cải cách, không nên công bố rộng, mà phải thực hiện một cách tuần tự”.

Theo Sartre, Khrouchtchev đang làm việc sai lầm là phát hiện chân lý cho đám đông chưa sẵn sàng tiếp nhận. Trình bày cặn kẽ tội ác của một nhân vật thần thánh đã là biểu tượng khá lâu cho chế độ là một điều điên rồ nếu một việc trung thực như vậy không được quần chúng tiếp nhận hiểu rõ. Theo Sartre sự việc đã làm rung động những người trí thức và công nhân cộng sản, thì người Hung chẳng hạn còn thiếu sửa soạn biết chừng nào để hiểu câu chuyện kinh khủng về những tội ác và sai lầm này.

Từ quan điểm này Sartre bị chê trách là không công bố sai lầm kịp thời để ngăn cản thảm hoạ đổ lên đầu bao nhiêu người tại các trại tù cưỡng bách lao động Gulag của Liên Xô.

Bertrand Russell chỉ kịp chứng kiến sai lầm của Cộng Sản là đánh Hungary. Aron, Bertrand Russell ký tên vào thỉnh nguyện thư yêu cầu Liên Hiệp Quốc có những biện pháp bảo vệ đất nước dân tộc Hungary trước sự đàn áp tàn bạo và khủng bố của quân đội Liên Xô. Cuộc cách mạng Hungary 1956 và mở cửa biên giới với Áo năm 1989 là mở đường cho sự sụp đổ khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu.

Sartre và bạn bè cũng ký một thỉnh nguyện thư khác “chống sự can thiệp của Liên Xô”, lên án “việc sử dụng đại bác và xe tăng để phá sự nổi dậy của dân tộc Hung và ý chí độc lập của họ”.

Sartre chết năm 1980 và không chứng kiến Liên Xô tan rã ngày 25 tháng 12 năm 1991 để suy nghiệm thêm rằng tội ác sai lầm dù có giấu giếm bao lâu cũng không thể biến thành chân lý để tồn tại bền vững trong dòng chảy văn minh. Một sai lầm tội ác cần mau chóng định hình để tránh gây tai hoạ càng sớm chừng nào tốt chừng nấy!

Người CSVN và nhà văn phản kháng Dương Thu Hương cũng đang trong tầm suy nghĩ kiểu Sartre khi còn muốn giữ gìn thần tượng Nguyễn Tất Thành, cần phải suy nghiệm điều này.

Aron trái lại không ngạc nhiên về nội dung của báo cáo, ông chỉ nhận xét: “Chân lý thường không đạt đến đúng mức, còn những chuyện ghê gớm của những chế độ chuyên chính lại vô độ quá mức”.

Từ sau thỉnh nguyện thư, Sartre công khai đoạn tuyệt với đảng cộng sản Pháp vì “mỗi lời nói, mỗi cử chỉ của những người lãnh đạo đảng vào lúc này là kết quả của ba mươi năm dối trá và khép kín” mặc dầu không lâu trước đó ông ca ngợi “sự thông minh khách quan ngoại hạng” của đảng CS Pháp cùng với kết luận là “hiếm khi nào đảng CS sai lầm”. Từ biến cố lịch sử này, Sartre đi đến kết luận là “điều mà dân tộc Hung dạy cho chúng ta với xương máu của họ, chính là sự phá sản toàn bộ của chủ nghĩa xã hội như một món hàng nhập khẩu từ Liên Xô”.

Hoạt động trong nửa sau thế kỷ cùng với những tác phẩm nổi tiếng của ông, khiến Jacques Audiberti cho ông là “ một người tỉnh thức trên mọi mặt trận của tri thức”.

Những năm cuối đời vào 1979-1980 Sartre đã đứng về phía thuyền nhân (boat people). Thuyền nhân là chứng tích tương phản rõ nét với tuyên bố của CS là chiến đấu “vì mọi người” chống Mỹ để thống nhất đất nước, giải phóng miền Nam!

Aron đáng khâm phục vì có nhận định đúng ngay từ đầu từ năm 1973 đến Hồi ký sau này ông đều nói là: “Vào năm 1965 hay 1968, hiện diện một chế độ Cộng hoà ở miền Nam Việt nam đối vói tôi vẫn đáng ưa hơn là chế độ chuyên chính ở miền Bắc”.

Ngày 20 tháng Sáu năm 1979, Sartre và Aron cùng hiện diện ở khách sạn Lutétia để kêu gọi ủng hộ sáng kiến cứu hộ “thuyền nhân” Việt Nam, tổ chức “con tàu cho Việt Nam” để tìm kiếm cứu vớt những người vượt biển tìm tự do đang lênh đênh đối mặt với sống chết trên biển Đông. Hai kẻ đối đầu tri thức suốt ba mươi năm đã hoà giải trước một sự thật cả hai đều phải công nhận và cùng nhau tranh đấu cho quyền của con người. Chừng nào trí thức trong và ngoài đảng CSVN mới có cuộc hội ngộ tư tưởng đẹp như biểu tượng thời đại giữa Aron và Jean Paul Sartre?

Một điều sai lầm của tất cả triết gia Pháp nữa là tất cả đều thống nhất mục tiêu chung cùng de Gaule bảo vệ chủ nghĩa đô hộ và chống Mỹ một cách cao ngạo đến kỳ quặc, như cho rằng tiếng Mỹ là tiếng Pháp đọc sai! Họ tưởng là vì Pháp lâu đời tất có văn hoá cao có tính dân tộc cao thật ra là vì chủ nghĩa thực dân đô hộ mà Mỹ chống lại. Nước Pháp có lịch sử lâu đời hơn Mỹ, nhưng óc cao ngạo khiến sai lầm hơn nước Mỹ rất nhiều. Chiến tranh và lầm lạc chánh trị khiến Pháp thành nước Châu Âu nghèo và lạc hậu kỷ thuật so với Anh nước Đức...

Xin những ai hay trích dẫn Bertrand Russell (như ông Trần Chung Ngọc chẳng hạn) hãy hiểu cho đúng lầm lạc của trí thức tả phái nước Pháp và phương tây một thời. Xin đừng tự nguyện làm trạng sư cho phía sai của lịch sử!

Trần Thị Hồng Sương
(12.2.2009)
____
Bài trên đây trích từ Diễn Đàn Dân Chủ.
Xin mời quý anh chị click vô link trên để thăm một Web Site với những bài viết có giá trị.(Diễn Đàn)

Saturday, March 21, 2009

Một chút tưởng nhớ

Truyện ngắn

(Viết theo tâm sự của một Bà Mẹ Việt Nam)

Con số đo đỏ trên chiếc đồng hô để bàn chỉ hai giờ sáng. Cụ bà lại trở mình. Cụ nằm ngửa, khép mắt, hai tay buông xuôi theo một tư thế thư dãn. Cụ hít vào, thở ra nhiều lần, giấc ngủ vẫn không chịu đến. Đã bao đêm dài như vậy đến với tuổi già của cụ, năm này qua năm khác. Trên chiếc giường nhỏ bên cạnh, cụ ông chìm sâu trong giấc ngủ hồn nhiên như trẻ con, khuôn mặt hồng hào tươi tắn đầy mãn nguyện vào cái tuổi tám mươi như một “lão ngoan đồng”.

Cụ đã đưa được cụ ông đến nước Úc này, với nửa số con trên núi. Nhưng cụ cũng còn bỏ lại dưới kia nửa số con xuống biển. Giống như tổ tiên của giòng Lạc Việt ngày lập quốc bốn nghìn năm về trước. Nửa số con trên núi đều có danh phận, nửa số con xuống biển vẫn còn sống đời sống nghèo nàn chạy ăn từng bữa. Và đó cũng là một trong những nguyên nhân gây ra chứng mất ngủ của cụ. Ai cũng khen cụ đẹp lão, tốt phước, con cháu đầy đàn. Ai cũng trầm trồ về những dinh cơ con cháu cụ tạo dựng được ở nơi này, nơi khác. Ai cũng tấm tắc khi ngắm nhìn tấm ảnh hai cụ chụp chung bên cạnh bầy con cháu vừa xinh đẹp, vừa thông minh, giàu có trong ngày ăn mừng thượng thọ cụ ông. Những điều đó dễ dàng làm cụ ông sung sướng, hả hê. Nhưng với cụ bà, vẫn là chưa đủ. Còn có một cái gì đó chưa ổn. Còn có một cái gì đó khiến cụ vẫn cảm thấy nặng lòng, vẫn cảm thấy cô đơn. Còn một cái gì đó làm cụ vẫn cảm thấy buồn phiền mênh mang.

Con cháu đông, nhưng suốt ngày hai cụ thui thủi với nhau. Con cháu đông, nhưng nếp sống không còn là nếp sống đại gia đình ngày xưa nữa. Cảm nghĩ của các con, thói quen của các cháu đã khác xa so với thời chúng còn sống trong sự bao bọc của hai cụ ở quê nhà bên kia bờ đại dương.
Cái nhà cụ đang ở, máy móc cụ đang dùng, những tiện nghi vật chất cung phụng cho cụ cuộc sống thoải mái, đều không phải là của cụ, không phải do tay cụ làm ra, không phải là sản nghiệp ông cha để lại. Nó tùy thuộc vào sự trợ cấp của con cháu giống như một cuộc sống nhờ. Đôi khi cụ cảm thấy cụ đến đây làm phiền cho con, cho cháu.

Ở Việt Nam, căn nhà của cụ tuy đã cũ, mái ngói đã dột, tường đã nứt, vôi đã bong, cột đã mục nhưng vẫn là nhà của cụ, vẫn là tổ ấm cho các con bay về đoàn tụ như là một cái tổ chim. Và ở đó, cụ có được cái cảm-tưởng-đầy-đủ-trọn-vẹn: mình là chim-bố-chim-mẹ đang che chở cho một-bầy-chim-non.

Ở đây, chim đã ra ràng, đã tạo lập được những tổ riêng cho mình. Có cụ đến, chỉ thêm vướng vít bận lòng. Có cụ đến chỉ khiến các con cụ thêm bối rối vì có những dâu, những rể chưa quen với nếp sống và nếp suy nghĩ của một đại gia đình Việt Nam. Cụ sẽ ở với ai? Đó là điều không phải chỉ mình cụ bận tâm trước khi ra đi mà còn là của cả các con các cháu nữa.

Các con cụ đều đã trưởng thành và đều giống cụ ở chỗ biết chí thú làm ăn. Trai thì lo cho vợ cho con, gái thì lo cho chồng. Rút cục chỉ còn lại hai cụ lo cho nhau khi trái gió trở trời, giữa đêm hôm khuya khoắt.

Suốt bao nhiêu năm làm vợ, cụ chỉ biết an phận làm theo ý chồng. Về già, cụ chiều theo ý các con và muốn các con mình hạnh phúc. Nếu cụ đã có được rể ngoan, cụ coi như con trai thì cũng mong có dâu hiền cụ coi như con gái. Nhưng điều quan trọng vẫn là trong thâm tâm, con dâu con rể của cụ có coi cụ như cha mẹ ruột của mình hay không ? Ngón tay có ngón dài ngón ngắn, con người có tốt có xấu khác nhau, nên không có gì là tuyệt đối. Vì vậy cụ sẵn sang tha thứ nhưng tất nhiên không thể không cảm thấy buồn và cô đơn. Cụ không thể tâm sự với ai, vì không muốn làm bận lòng cụ ông đang tận hưởng niềm vui trong hả hê, thoải mái, không muốn làm các con phải có những giờ phút suy nghĩ này nọ. Cuộc đời làm dâu của cụ trước kia thật khổ. Cụ đã ngậm đắng nuốt cay với bao nhiêu nước mắt. Nên ngày nay cụ nhìn dâu con với con mắt bao dung hơn. Chỉ tiếc là với bản chất đôn hậu, ngay thẳng, bộc trực đến đôi khi thiếu tế nhị, cụ đã không được, xứng ý, toại lòng trong giao tiếp với người khác.

Từ ngày nộp đơn bảo lãnh cho tới ngày đăng ký chuyến bay là cả một thời gian dài đắn đo suy nghĩ. Cụ không muốn xa rời quê hương một tí nào. Nhưng còn tương lai của những đứa con còn ở lại, cụ phải là đầu tầu kéo nốt con cháu đi theo. Nhưng sau cùng, những đứa con đã lập gia đình bị từ chối. Số phận đã sắp đặt cả rồi, cụ cưỡng lại có được đâu.

Bước chân lên máy bay, lòng cụ ngổn ngang trăm mối. Ra đi thế này là vĩnh viễn xa quê hương, xa phần mộ tổ tiên, xa chị em, xa bà con lối xóm, xa bầy con cháu còn kẹt lại. Ra đi, cụ còn nuối tiếc những thắng cảnh của quê hương cụ chưa được đặt chân tới : Huế, Nha Trang, Đà Lạt, Hà Tiên…Ra đi, cụ còn nuối tiếc chưa được trở về thăm Hà Nội cổ kính với đền Ngọc Sơn, hồ Bẩy Mẫu, đường Cổ Ngư…, nơi đầy ắp kỷ niệm thời thơ ấu của cụ. Ra đi, cụ sẽ rất nhớ bầy cháu nhỏ suốt ngày ca hát véo von và những đứa cháu lớn thường xuyên trêu trọc cụ ông cười khanh khách. Và những điều cụ cảm nhận thấy sau cùng là cụ sẽ đánh mất luôn uy quyền gia trưởng trong những ngày giỗ, ngày Tết đông đủ họ hàng, con cháu nội ngoại.

Đến nơi này, cụ không còn là cụ nữa. Cụ bị lệ thuộc quá nhiều vào con cháu. Đi chợ cũng phải đợi con cháu đưa đi. Muốn đi thăm ai cũng phải chờ các con hùn nhau mua vé máy bay, vé xe bus hay phân công đưa đón. Hàng xóm láng giềng không cùng ngôn ngữ. Con cháu suốt ngày bận bịu ở văn phòng hay ở trường học. Họa may cuối tuần kéo về thăm cụ đôi ba phút hoặc nửa giờ rồi lại đi ngay. Bù lại, tất cả đồ ăn đều có sẵn trong tủ lạnh, quả ngon vật lạ chả thiếu gì. Có điều cụ ăn không thấy ngon. Suốt ngày quanh quẩn trong nhà bụng không thấy đói. Tuổi già đông phương là tuổi già cần con, cần cháu, cần con cháu quay quần ríu rít chung quanh, cần con cháu nâng giấc, lo lắng miếng ăn, giấc ngủ. Để cảm thấy mình không quá thừa thãi, không quá vô dụng, không phải là cục nợ con cháu phải cưu mang. Hai cụ thui thủi bên nhau suốt ngày, có khác chi ở trong viện dưỡng lão mấy đâu. Viện dưỡng lão còn có y tá săn sóc, ở nhà chỉ có cụ bà săn sóc cụ ông thôi. Riết rồi cụ có thói quen tự lo lấy cho mình, cho chồng như những ngày còn trẻ cụ cung cúc phục vụ chồng con vậy. Cụ ông thì vô cùng hài lòng với những hư cấu được dựng lên chung quanh sự nghiệp của ông con cả của cụ. Cụ ông đâu còn phân biệt được giả chân, đâu còn phân biệt được hư thực nên cứ việc bịa ra để kể ra cho cụ ông vui.

Điều cụ bận tâm nhất vẫn là cuộc sống lam lũ của bầy con cháu còn kẹt ở quê nhà. Cụ tiện tặn từng đồng chính phủ và các con trợ cấp, dành dụm gửi về cho các con cháu có thêm thức ăn ngon, bổ dưỡng trong bữa ăn đạm bạc thường ngày. Cụ gom góp lại từ cái quần, cái áo, hộp sữa, gói kẹo, viên thuốc để gửi về Việt Nam. Cụ nhắc đứa con, đứa cháu này gọi điện thoại cho đứa con, đứa cháu kia để những đứa con, đứa cháu đang sống trong nhung lụa nghĩ tới những đứa đang chạy ăn từng bữa ở quê nhà.

Ở đây, cụ thấy vật giá quả là đắt đỏ nếu so với giá cả ở Việt Nam qua đồng tiền chuyển đổi hối xuất tự do. Nhưng tiền ăn, tiền chợ, tiền chi phí điện nước chỉ chiếm khoảng một phần năm thu nhập. Phần còn lại là để nộp thuế, trả nợ tiền vay mua nhà, mua xe, mua bảo hiểm và vẫn có thể còn dư để phòng khi bất trắc. Ở Việt Nam, lương giáo viên chưa đủ mua 50 ký gạo nên con gái cụ phải thức suốt đêm bán cà phê vỉa hè. Ở Việt Nam, trợ cấp cho sinh viên đạt tiêu chuẩn giỏi chưa bằng năm dollar nên các cháu cụ không đủ tiền ăn ngày hai bữa cơm rất thường trong nhà ăn của trường đại học.

Nhìn những món đồ chơi, mà cụ cho là đắt tiền dù chỉ năm, bẩy dollar, quăng khắp nhà của các cháu ở đây, cụ thầm tiếc rẻ. Người lớn thì đổi mốt quần áo, giầy dép, đồng hồ, xe cộ và thậm chí cả nhà cửa, như trẻ con thay đổi đồ chơi. Quà bánh, thực phẩm thì thừa mứa, để quá thời hạn phải bỏ vào thùng rác. Con cháu cụ lớn lên hoặc sinh đẻ ở đất nước Úc này sao mà sung sướng. Cha mẹ thật chiều con, muốn gì được nấy. Cha mẹ bận bịu đi làm chiều về nhà vẫn phải tự lo lấy cơm nước, con cái không phải đụng tới móng tay. Phương tiện học hành lại quá đầy đủ, ngay cả đối với những người lớn tuổi trở lại trường. Chỉ cần tốt nghiệp trung học điểm cao là mấy đứa cháu nội ngoại của cụ đã có thể chọn ngành mình thích ở cấp đại học. Thành ra cụ càng thấy thương đám con cháu còn kẹt lại ở Việt Nam, đang phải lận đận trong trường đời, trong trường học để có được miếng ăn hàng ngày, để có được một chút hy vọng về một tương lai dù mờ mịt nào đó. Thương đến mức cụ ra vào ngẩn ngơ, rưng rưng nước mắt.

Cụ chỉ mong ngày nào đó, con cháu cụ ở Việt Nam cũng được sống trong cuộc sống đầy đủ như ở đây. Để cụ có thể bay đi, bay về, thăm thú nơi này, nơi nọ. Cụ sẽ về sửa chữa lại căn nhà cũ làm nơi đại gia đình xum họp vào những ngày giỗ, ngày tết, đám cưới, đám tiệc…Khi đó, cụ sẽ chạy ra chạy vào, chỉ huy đôn đốc như những

ngày nào còn trẻ. Chỉ nghĩ đến thế thôi, trái tim già của cụ cũng đập nhanh hơn, dồn dập hơn.
Ánh nắng hừng đông chiếu những tia mong manh qua khung cửa kính, cụ tung chăn ngồi dậy. Cụ nhìn đồng hồ. Thế mà đã chin giờ sáng mùa đông ở đây rồi đấy. Cụ quay sang phía cụ ông, an lòng vì cụ ông vẫn còn yên giấc ngủ trẻ thơ như thường lệ. Cụ đánh răng rửa mặt và nhẹ nhàng bước ra phòng khách. Cụ kéo cao chiếc màn cửa, ánh sáng ùa vào căn phòng, nhỏ nhưng lịch sự, trang nhã và tĩnh mịch.

Cụ thắp ba cây nhang, thỉnh một hồi chuông và quỳ xuống trước bàn thờ Phật. Đôi mắt cụ đăm đăm hướng về Tam Bảo. Chợt cụ phát giác những vết rạn mong manh trên lớp men bao phủ pho tuợng Phật Quán Thế Âm gia bảo. Cụ thấy đau nhói trong tim. Có phải những vết rạn này giống như những nỗi buồn phiền đã từng giờ, từng ngày, từng tháng chợt đến, chợt đi trong lòng cụ?
Cụ cúi đầu, khép hờ mi mắt, tập trung tinh thần chú nguyện Thập Chú Cầu An.

TRẦN THÚY LAN
1991

Friday, March 20, 2009

Hiệu quả kinh tế

Khai thác quạng Bâu-xít tại Cao Nguyên Trung Phần

Mặc Lâm:
Những người ủng hộ việc khai thác bauxit cho rằng trong tình hình khó khăn hiện nay, quặng bauxit trong thiên nhiên sẽ giúp Việt Nam tăng thêm nguồn thu nhập rất lớn. Liệu sự đánh giá này có làm giảm bớt sự lo ngại về môi trường hay không, thưa ông?


TS Mai Thanh Truyết: Câu hỏi này, về phương diện hiệu quả kinh tế và về phương diện điều kiện hiện có ở Việt Nam, chúng tôi thấy hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế. Lý do là hiện nay khu Nhân Cơ và Đắc-Nông là hai khu trồng tiêu và cà phê, đây là hai nguồn lợi rất lớn. Tính ra một hecta tiêu hay một hecta cà phê có thể đem lại nguồn lợi cho người dân hiệu quả kinh tế từ 2 đến 3 ngàn đô la, trong lúc đó khai thác một diện tích bauxit 4 hecta chỉ cho ra 2 tấn alumina. Một tấn alumina có giá trị khoảng 3-4 trăm đô la mà thôi. Nhưng cả vùng đất đó sẽ bị hoang hóa trong tương lai. Vậy xét về hiệu quả kinh tế thì hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế, nhưng thảm nạn về môi trường, về dân sự, chính trị, văn hóa sẽ ảnh hưởng về lâu về dài.

Trích từ bài phỏng vấn có link sau đây:
http://nguoivietboston.com/?p=7281

Nhìn lại ngày 30/4

“Theo tài liệu của Việt Quốc bên Germany, thì Sở Công An Sài Gòn (mà họ thay cái tên Hồ Chí Minh vào đó), đến cuối tháng 7 năm 1975, Công An đã đẩy 154.772 quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ vào các trại tập trung. Đến cuối tháng 10 cùng năm (1975), Công An bắt thêm 68.037 người nữa. Cộng chung tính đến 30 tháng 10 năm 1975, tổng số cựu quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ, bị họ giam giữ trong khoảng 200 trại tập trung trên toàn cõi Việt Nam là 222.809 người. Đến tháng 4/1992, người cuối cùng mới ra khỏi trại tập trung. Trong 17 năm đó, ước lượng từ 8.000 đến 10.000 tù chính trị bị chết do chính sách thù hận thâm độc của nhóm lãnh đạo CSVN..”

Trên đây là đoạn trích từ một email chuyển tới một bài khá dài nói về chính sách trả thù tàn bạo của Đảng CS Việt Nam sau khi cộng quân chiếm được cả nước năm 1975. Xin click vô
LINK NÀY
để đọc một bài khá dài của tác giả Phạm Bá Hoa

Thursday, March 19, 2009

Hoa hậu VN ở San Jose xin lỗi

về những tấm hình khỏa thân của cô


Một phụ nữ Việt chiếm vương miện Hoa Hậu VN vùng Bắc California có thể mất danh xưng này vì đã chụp hình khỏa thân đăng trên một Web site người lớn.

Hoàng Kim Tòng, 21 tuổi, San Jose, tháng vừa qua đã chiếm được vương miện thể hiện giá trị truyền thống Việt Nam về nét đẹp, dân tộc và khiêm tốn. Cuộc thi hoa hâu Việt hãnh diện vì không chú trọng đến việc thi mặc áo tắm.

Thế nhưng nhân viên tổ chức mới đây đã nhận được những email vô danh và khám phá ra những điều làm sửng sốt cộng đồng Việt ở đây. Thứ sáu tuần qua trong cuộc họp báo có mặt cha mẹ và ban giám khảo, cô đã khóc xin lỗi. Cô nói: "Thật ngốc nghếch. Tôi xin lỗi đã làm phiền lòng cha mẹ, ban giám khảo và cộng đồng Việt Nam".

Giới quan sát cho rằng chuyện xì-cang-dan này đã khơi rộng hố ngăn cách giữa các thế hệ trong công đồng Việt Nam. Giáo sư chuyên viên về sắc tộc Hồ Lệ Mai cũng là người đồng sáng lập cuộc thi hoa hậu đã phát biểu: "Cộng đồng đang ở vào thời kỳ chuyển tiếp sâu rộng, và đây là một ngã ba đường lớn phải chọn lựa những gì của truyền thống cần giữ lại và con đường bao xa cần hướng tới".

Trong một vụ gây tranh cãi khác, diễn viên ca sĩ Vanessa Williams bắt buộc phải từ chức hoa hậu Mỹ năm 1984 khi hình khỏa thân của cô chụp trước đó một năm xuất hiện trên tạp chí Penthouse. Năm ngoái, ca sĩ Frenchie Davis bị loại khỏi "American Idol" TV sô vì đã có lần có hình đăng trên Web người lớn.

Tòng nói là hai năm trước đây, trưuớc khi vào học tại De Anza College, cô đã quyết định để một Web site người lớc chụp ảnh để lấy $400 vì cô cần tiền.

(Dịch từ Associated Press, bản tin Tháng Hai)

Tháng Sáu (nóng bức) Yêu Em

Sức khỏe và ...một chút nhiệt tình!

TOA THUỐC TUYỆT VỜI

Một toa thuốc rất hay, cả về tinh thần lẫn thể xác Xin mời các bạn chúng ta cùng nhau trị liệu.


I. SỨC KHỎE

Tổ chức Y Tế Thế Giới ( WHO ) định nghĩa:
“Sức khỏe là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất và hoàn cảnh, chứ không phải là một tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật”.

II. BÍ QUYẾT TRƯỜNG THỌ

1. Chấp nhận với những gì mình đang có.
2. Thích nghi với hoàn cảnh của mình.
3. Điều chỉnh để đạt được điều mong muốn.

III. PHÒNG NGỪA BỆNH TẬT

1. Không vui quá = hại tim
2. Không buồn quá = hại phổi
3. Không tức quá = hại gan
4. Không sợ quá = hại thần kinh
5. Không suy nghĩ quá = hại tỳ


Xua tan hoài niệm cay đắng bằng tha thứ và lãng quên.

Với người cao tuổi, tránh tranh luận hơn thua.

VI. THỨC ĂN UỐNG HÀNG NGÀY:

Một củ hành: chống ung thư
Một quả cà chua: chống tăng huyết áp
Một lát gừng: chống viêm nhiễm
Một củ khoai tây: chống sơ vữa động mạch
Một quả chuối: làm phấn chấn thần kinh, bớt lo
âu, chống táo bón, giảm được béo
Một quả trứng hay ít thịt nạc: chống suy dinh dưỡng
Uống một đến hai lít nước mỗi ngày: giải độc cơ thể

VII. TRIẾT LÝ CỦA NGƯỜI TRUNG HOA HIỆN ĐẠI:

1. Trung Tâm là sức khỏe
2. Hai Tí: Một tí thoải mái – Một tí nhiệt tình
3. Ba Quên: Quên tuổi tác – Quên bệnh tật – Quên hận thù
4. Bốn Có: Có nhà ở – Có bạn đời – Có bạn tri âm – Có lòng vị tha.
5. Năm Phải: Phải vận động – Phải biết cười – Phải lịch sự hòa nhã– Phải biết nói chuyện và Phải coi mình là người bình thường.


Sưu tầm từ Internet
Nguyễn Vĩnh Thượng

Vụ án hi hữu tại Áo kết thúc

Josef Fritzl đã bị tòa kêu án chung thân thọ hình tại một viện tâm thần có biện pháp an toàn.
Josef 73 tuổi có bảy đứa con với người con gái mình là người bị ông ta giam giữ
suốt 24 năm trong phòng bị khóa cửa.

(Nguồn: BBC)

Wednesday, March 18, 2009

Xe bay - Skycar

Năng: 480kg (1000lb)
Máy: 4 xi-lanh, 1000 phân khối.
Tầm bay xa: 3000km (1850miles)
Cao độ bay: 600m - 900m (2000 - 3000ft)
Vận tốc tối đa, Bay: 110km/giờ (70 mph) Chạy: 180km/giờ (110mph)
Parajet chế tạo cánh quạt.
Máy móc chịu được nhiẹt độ từ -30C đến 50C.
Cần 200m để cất lên khỏi mặt đất

Bay từ London xuống Timbuktu (thành phố 30000 dân, thuộc nước Mali, năm cạnh sông Nigergần sa mac Sahara.


Một chiếc quạt mạnh đẩy xe bay đi và tạo đủ sức gió để nhấc bổng chiếc xe ở tốc độ 70km/giờ (45mph). Khi bay những sợi dây dù nối vô bàn đạp sẽ giúp tài xế lái chiếc xe bay. Trường hợp trục trặc, một chiếc dù phòng hờ sẽ bung ra để xe bay có thể hạ xuống mặt đất an toàn.

(Phỏng theo BBC)

Thắt lưng buộc bụng

Hình bên cạnh ghi lại cảnh phát free bánh tại một giáo đường ở Cleverland, Hoa Kỳ

Tháng Giêng ghi nhận 598,000 jobs đã mất tại Mỹ. Kể từ cuộc suy thoái bắt đầu tháng Chạp năm 2007, kinh tế Mỹ đã mất lối 3.6 triệu jobs mà phân nửa mất vào ba tháng chót vừa qua.

Tình trạng kinh tế có vẻ đang tuông rơi, nạn thất nghiệp gia tốc đạt con số 7.6, nặng nề hơn những nhà phân tách kinh tế dự đoán nhiều. Con số này cao nhất kể từ năm 1992

Người ta "không mấy ngạc nhiên. Thế nhưng những con số như thế quả là đáng sợ".

Nhiều người, trong đó có các giám đốc điều hành các công ty chẩn đoán kinh tế, cho rằng nạn thất nghiệp còn lan tràn nhiều tháng nữa.

Cách đây không lâu nhiều người hy vọng rằng kinh tế Mỹ rồi ra sẽ phục hồi sớm và hậu quả suy thoái tại Mỹ sẽ không lan rộng vì sức cầu trên thế giới c2n mạnh nhờ có những nền kinh tế mới phát sinh và đang tăng triển (đặc biệt ám chỉ Nước Tàu và Ấn độ). Trong số những người tin như thế có cả Alan Greenspan, một gu-ru kinh tế tài chánh đã từng nhiều năm là chủ tịch Cơ Quan Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ.

Nhưng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa, Nước Tàu cũng không được miễn nhiễn. Nó đã bắt đầu lên cơn nóng sốt.

The minister of Labour, Li Boyong, said redundancies in the state sector this year were likely to add about 3.5 million to the country's jobless total.

[ image: Labour minister Li Boyong wants reform despite redundancies]
Labour minister Li Boyong wants reform despite redundancies
Mr Li said the predicted job losses were due to changes in the employment structure as China felt the effects of enterprise reforms and technological progress.

Official estimates of Chinese jobless run as high as 15 million in the cities and 130 million in the countryside.

Unemployment is one of the key issues on the agenda at this year's 15-day sitting of the National People's Congress.

The announcement of state sector redundancies comes after 11.5 million workers were laid-off last year.

Now the Labour minister wants to turn around the state sector by pushing a variety of reforms, from installing more professional managers to creating a social security system for the casualties.

China is also considering forming conglomerates of existing enterprises to help Chinese industry weather foreign competition.

It was exactly such large companies that brought ruin to South Korea's economy.

But vice-minister of state economics, Chen Quigtai, said Chinese regulators would make sure large-scale enterprises kept liabilities down.

"If we can in earnest draw lessons from the Republic of Korea's case, then our effort to establish big enterprises and enterprise groups will be a smooth one," said Mr Chen.