Friday, December 26, 2008

Nhắn tin đồng môn ĐS 14

Trích thư ĐS14 Trần Thu Cúc

"Bệnh loãng xương khiến tay chân ngày càng cử động khó - nhất là chân bị tai nạn - giờ không đi lại được nữa mà lại mãi đau nhức không chịu nổi. Ba tháng nay C. bị bệnh nằm liệt giường - không ăn uống gì được cả, cứ cố đứng dậy là bị choáng váng chúi nhủi mà bị nhức đầu dữ dội, mắt cứ bị mờ dần , không chịu nổi bà con ở gần cho mượn chút đỉnh tiền đi khám mới biết bị viêm xoang sàn (?) phía sau đầu phải nạo mũ nhiều lần mới giảm đau nhưng khả năng đâu có, C. mượn thêm chút ít để mua thuốc uống cầm cự phần nào nhưng không có thuốc lại đau..."
**
Thư về Cúc:

TRẦN THU CÚC
57/5 E , Ấp Nam Lân
Xã Bà Điểm
- Huyện Hốc Môn
TP. Hồ Chí Minh
- Quốc Lộ 1A
(Xin trao tận tay)

PHÂN ƯU

Nhận được tin trể
Nhạc Mẫu Đồng Môn Trần Ngọc Thiệu, Đốc Sự Khóa 11 là:
Cụ Bà LÊ ĐÌNH TOẠI
Nhũ danh VŨ THỊ MỴ, Pháp Danh DIỆU TOÁN
đã từ trần ngày 12 tháng 11 năm 2008 tại Orange County, Nam California
Hưởng thọ 82 tuổi
Xin thành kính chia buồn cùng anh chị Trần Ngọc Thiệu và tang quyến.
Nguyện cầu Hương Linh Cụ Bà Diệu Toán Vũ Thị Mỵ
sớm được tiêu diêu nơi miền Cực Lạc.

LIÊN HỘI QUỐC GIA HÀNH CHÁNH NAM CALIFORNIA

Thursday, December 25, 2008

Wednesday, December 24, 2008

Nhìn lại

Phù du


Một năm nữa trôi qua. Ngày tháng trôi thật nhanh. Nhiều khi nhanh đến nỗi nguời ta không kịp kiểm lại những gì đã xẩy ra, ở xa, ở gần, ở chính trong nội bộ và trong tâm hồn mình.


Ở cái tuổi gần đất xa trời, cô đơn bàng bạc ngày tháng. Tìm cách gần lại với nhau nào đâu phải dễ. Thế mà sự giận hờn, lòng nghi kỵ, và chia rẽ luôn luôn đứng lên hô hào dành đất sống, tuyên bố chính nghĩa thuộc về mình. "Nếu như không nói được gì dễ thương, thì chẳng thà đừng nói". Câu nói của một người cha với đứa con nhỏ trong cuốn phim dành cho con trẻ - The Land Before Time - nghe ra có vẻ dễ, nhưng kỳ thực khó thực hành vô vàn.
(Tác giả bài viết xin bỏ hai câu thơ trích dẫn, dễ gây hiểu lầm
Chẳng thà người viết chịu khổ một mình còn hơn để tác giả hai câu thơ bị khổ lây!)
Bởi vậy mà cái diễn đàn này đang là một miếng đất ươm mầm vui tươi, cho nụ cười nở rộ. Trong một email viết những lời chân tình, Xuân Đỗ viết: "Có lẽ trong lãnh vực viết lách, bạn bè ngồi lại với nhau dễ dàng hơn và... vui hơn".

Trong một bức tâm thư xuất hiện cũng nơi đây, Chu Tất Tiến viết: "Những xung khắc về hình thức sinh hoạt chỉ là các bóng mây, thoáng đến rồi sẽ tan biến, nếu mỗi người trong chúng ta, dành lại năm, mười phút suy nghĩ NGƯỢC LẠI những điều mà mình vẫn tâm đắc từ trước tới nay".

Vui ít buồn nhiều. Ngay cả niềm vui cũng đã hàm chứa nỗi khổ đau khi phải chờ đợi niềm vui tới. Bài điếu của Phạm Trần Anh "Khóc Em" mình là Phạm Trần Hào, bừng sáng cái chân lý hư vô của cái tiểu ngã nơi mê hồn trận qua tháng năm:
Giữa chốn đời thường,
Bon chen vất vả
Dòng đời cuốn hút …
Nào thấy lối ra ..!

"Trong cõi trăm năm
Bể dâu định cuộc
Mây sầu ngun ngút trời cao,
Gió thẳm sóng xa biển lớn ..!"
(Phạm Trần Anh)
Vất vả ơi xin chào mi!

Nhưng rồi cái cảnh sáng vác ô đi tối vác về cũng qua đi. Khi những giọt mồ hôi bon chen ngừng rơi cũng chính là lúc đơn côi kéo tới.


Tìm lại nhau trò chuyện cười vui rõ ràng là một nhu cầu bức thiết để tránh bị xoi mòn mau chóng. Người kiếm miếng đất ươm mầm vui tươi không phải ai xa lạ. Chưa vui được bao lâu thì ôi "Mây sầu ngun ngút trời cao", Vũ Công Hùng đã vướng nan y. Giữa chốn thập tử nhất sinh, Hùng đã dùng cây sào gia đình, dùng mái chèo bằng hữu để lướt qua bão táp:
“PTAnh thân mến, Trên bờ tử sinh mấy tuần qua, hình ảnh cậu chịu đựng đau khổ, bị đánh đập và biệt giam... đã thực sự là một niềm khích lệ vô biên cho tớ để ngồi dậy. Một hình ảnh thứ hai, đập vào mắt tớ, là bức hoạ của A.C.La Vĩnh tặng mình treo trên tường (nên không có trong Gallery): giữa cảnh núi ngàn và thác nước đẹp như tiên cảnh, ở giữa lại là những tảng đá thẳng đứng, ngạo nghễ... khiến ý chí tồn sinh của mình được vực dậy, chứ không muốn đắm mình nơi cõi bồng lai... Hình ảnh thứ ba là về anh ĐGThoại, Úc châu. Anh đã kiên trì ngồi viết trong cơn bệnh nan y đến lúc cuối đời. DĐ&Web đã truy điệu anh 3 ngày đầy cảm xúc ... Đặc biệt ở Denver, CO đây, vợ chồng anh ĐXHùng K..17, đã thường xuyên thăm viếng uỷ lạo thực phẩm và sâm nhung... Tôi và gia đình (vợ, 2 con) thực vô cùng xúc động và cảm kích. Trong nghịch cảnh, người ta mới thấy tình bằng hữu đồng môn là cao quý biết nhường nào! Nguyện xin ơn Trên luôn luôn ban cho tất cả anh em đồng môn/ bằng hữu thân tâm an lạc. Thư bất tận ngôn,"
Ngày nay dù không còn vun quén mảnh đất anh khai sinh như mong ước, trái tim của Hùng Vũ vẫn còn bên cạnh đó. Bạn bè ngậm ngùi nghĩ về anh:
Bình an đời bỗng hư hao,
Bốn vuông tường trắng, nghiệp nào, sắc không.
(Lan Đàm)
Ngày Lâm Thành Hổ vĩnh viễn ra đi, Hùng trên giường bệnh còn gọi điện thoại thều thào vài tiếng: "Hổ mất rồi. Bây giờ phải làm gì?"

Cho dù gia đình và bằng hữu đã biết trước, thế nhưng giờ khắc Hổ ra đi, vẫn gây ít nhiều bàng hoàng. "Anh ra đi thật trái mùa". Sinh ra chết đi làm gì có mùa. Chắc hẳn Nhan Tử Hà muốn nói ở đây là mùa vui hãy còn nhộn nhịp như tại cái Diễn Đàn này. Cái party xả láng trước khi chia tay ra về! Có lẽ Hổ không muốn là một trong những người chót đóng cửa dạ tiệc. Lúc đó chắc buồn lắm!

Trong cái chiều dài vô cùng của thời gian, Hổ đã lóe sáng rồi vụt tắt. Đúng như thế đó Hổ. Bạn "đã đem chân tình của mình ra ứng xử với đời, với người. Với 2 người bạn đời, bạn đã trọn lòng yêu thương" (Trần Thiện Tích trong lời tiễn đưa).

Niềm hạnh phúc của Hổ, anh đã tận hưởng. Vui thú của anh chẳng phải tìm đâu xa, nó nằm ngay ở vại nước mưa, ở cái nơm cái đó bên bờ ruộng. "Thì ra quê tui có nhiều ếch. Người lớn hay bắt ếch. Con nít cũng bắt ếch" (Chụp Ếch). Thế đấy. Làm gì có nghề chụp ếch giữa nơi thành thị. Làm gì có nghề làm nail giữa chốn đồng quê chân chất. Nhận ra niềm hạnh phúc ở ngay bên cạnh, ở ngay giờ khắc hiện tại, hẳn anh đã xa được cái tâm xốc nổi đứng núi này trông núi kia.

Những giọt nước mắt khô bỗng ướt sũng buổi sáng khi nghe tin Lâm Thành Hổ không còn nữa. Những xúc động trẻ thơ đột nhiên trở về tuôn chảy trên bàn gõ:
Hãy thanh thản mà về
"Để mặc kẻ chết chôn kẻ chết"
Hãy về chốn vô cùng với đại ngã vô biên
Tiếc chi chốn tục lụy phải nương náu cửa thiền
Chốn đầy dẫy tỵ hiềm và nhung nhớ
Quay quắt từng giờ, hàng tháng và hàng năm
Thôi hãy bay đi sáng tựa trăng rằm
Thôi nhé! Hãy về đi nghe
(Điền Thảo, 5 tháng mười, 2008)
Hơn hai ngàn năm trước Chúa xuống dương gian để chuộc lại lỗi lầm của loài người. Cái lỗi lầm phổ quát nhất nơi trần thế này có lẽ là con người cứ bám chắc lấy những gì thực ra chỉ là phù du.

Điền Thảo
Noel 2008


Tuesday, December 23, 2008

File: Lời hỏi thăm chân tình


Nhận đựơc tin anh lâm trọng bệnh
Tưởng như tiếng sét nổ bên tai
Hiền nhân, số phận sao cay nghiệt ?
Quả thật, trời xanh ghen ghét tài

Xây dựng Diễn Đàn, nơi tụ họp
Tuổi già có chỗ để vui chơi
Đồng môn quý mến, tâm, khẩu phục
Thân hữu ngợi khen chẳng tiếc lời…

Một tay cáng đáng bao nhiêu việc
Hết đọc thơ, văn, lại phê bình
Tốn phí công lao không hối tiếc
Cầu vui mà chẳng dám cầu vinh

Nay vắng mặt anh, ai tiếp nối ?
Diễn Đàn rồi sẽ ra sao đây ?
Bạn bè ngơ ngác trong chìm nổi
Uống rượu tìm quên, chếnh chóang say

Anh hãy bình tâm, đừng xúc động
Bệnh tình rồi cũng sẽ qua thôi
Mỗi người số mệnh dầy hay mỏng
Thiên Chúa trên cao quyết định rồi.

Tôi chỉ biết dâng lời khấn nguyện
Cho anh mau sớm được bình an
Mẹ Hằng Cứu Giúp sẽ che chở
Ban những Hồng Ân xuống ngập tràn.

Cầu xin, bất kể trời mưa nắng
Tội lỗi trần gian sẽ sạch trong
Thánh giá nào mà không vác nặng?
Vững tin mọi việc, Chúa quan phòng…

Nguyễn Ngọc Liên
(Tháng 4, 2008)

Hoàng Hoa's home made Christmas card


Hùng và Vĩnh thân mến,
Hoàng Hoa cầu chúc hai bạn và quý quyến
Một Mùa Giáng Sinh Vui Vẻ Năm Mới Kỷ Sửu Vạn Sự Như Ý.
Hoàng Hoa


Hình xưa

Cô dâu chú rể Nguyễn Đình Phúc
đang nhận lời chúc mừng của
Đại tá tỉnh trưởng Phước Tuy, Nguyễn Văn Quan, .
12 năm sau anh Phúc, ĐS 11, trở thành phó tỉnh trưởng tại đây.
(Xin lỗi anh Phúc, D.Đ đăng hình mà chưa hỏi ý kiến vì chưa liên lạc được)
**
Lời bàn
"Trông chù rể ngây thơ quá!"
(Vũ Minh Ngọc, ĐS16)
**
Nói leo
"Cứ làm như anh Phúc bị chị Thanh vồ không bằng!"
A.C.La

Monday, December 22, 2008

Nghe nhạc nhớ bạn

Click to play
**

"Noel năm nào chúng mình có nhau!"

Mời Quý Đốc/Quý Hữu nghe lại bản nhạc Bài Thánh Ca Buồn mà Hùng Vũ đã trang trọng giới thiệu trên DĐ vào Mùa Giáng Sinh năm ngoái - nghe để nhớ Người Bạn tuyệt vời của chúng ta hiện vẫn còn đang nằm trên giường bệnh và, cầu nguyện cho Bạn Ta sớm bình phục... Lan Đàm

Thơ Hàn Thiên Lương

Click to enlarge

White Christmas

Năm nay không phải chỉ Bắc Mỹ mới bị bão tuyết "đủ xài". Hình trên đây ghi lại quang cảnh một góc Sokcho, đông bắc Nam Hàn, sau một cơn bão tuyết. Edmonton, nơi mỗ đang cư ngụ, nhiều ngày nay nhiệt độ trên dưới -30 độ C. Nghĩa là sau khi nước thành đá còn dư 30 độ nữa (xin nhắc cho mấy ngài sống tại Hoa Kỳ không còn ý niệm về độ C, vì đã lú lẫn với độ F). A.C.La

(Hình: BBC)

Những tình nhân bất hủ

Câu chuyện nầy thật ra rất dài, tôi chỉ tóm tắt, cũng như bài trước, để gợi ý cho người đọc. Vì ngoài mối tình của hai người trong cuộc, còn nhiều vấn đề có liên hệ tới hai người: gia thế của hai người, ảnh hưởng của giáo hội Công giáo đến thế quyền, sự cải tổ qui chế của các giáo sĩ, các dòng tu, qui chế của các dòng nữ, ảnh hưởng và thế lực của các dòng tu và các tu viện trưởng, giá trị và vai trò của phụ nữ trong thời kỳ đó, sự chia rẻ ở giáo triều Roma: 1130 - 1138 có hai Giáo Hoàng cùng lúc*. Cuộc tranh luận về triết học và thần học, những tòa án kết tội nghịch giáo ... Cho nên như tôi có đề cập trong bài: có rất nhiều sách viết về những vấn đề có liên quan đến hai người, theo các thư mục mà tôi có đọc lướt qua, có đến trên dưới một trăm cuốn. Lúc đầu tôi chỉ có ý đọc cho biết qua một chuyện tình khá đặc biệt, vì là chuyện tinh của một giáo sĩ, nhưng càng đi sâu, càng bị lôi cuốn bởi những vấn đề mà lâu nay mình chưa chú ý tới. Thành ra mải mê tìm đọc thêm. (trích email không.không)

***

Câu chuyện nầy xảy ra vào nửa đầu thế kỷ thứ 12, giữa thời Trung cổ, ở nước Pháp. Là chuyện tình giữa Abélard, một giáo sĩ, triết gia và nhà thần học nổi tiếng và Héloïse, một cô gái trẻ cũng nổi tiếng không kém về kiến thức, được xem là phụ nữ thông thái nhứt thời đó. Chuyện tình nầy được truyền tụng rộng rãi, dù thời đó kỹ thuật in chưa xuất hiện, các tài liệu hãy còn là những bản viết tay hiếm hoi. Cũng vì thiếu những tài liệu chắc chắn, từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19,do cảm hứng và óc tưởng tượng của nhiều người, câu chuyện đã được thêu dệt thêm nhiều tình tiết đi xa sự thực. Từ thế kỷ 19 đến nay, bằng cách đối chiếu những tài liệu về những nhân vật, sự việc, văn bản có liên quan đến giai đoạn lịch sử thời Abélard và Héloïse, nhiều công trình nghiên cứu viết bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, La tinh, Pháp, Anh, Đức, Ý, Tây ban nha, đã được thực hiện, đã loại bỏ nhiều điểm qua thời gian dài nhiều thế kỷ, do ngẩu hứng nhiều người đã nghĩ ra và thêm vào, và để truy tìm tính cách xác thực những chi tiết của câu chuyện. Tuy vây, vì thiếu tài liệu đáng tin cậy, vẫn còn một số điểm liên quan đến câu chuyện phải để trống chưa xác định được.

Pierre Abélard sinh ra trong một gia đình hiệp sĩ, quí tộc, khoảng năm 1079 ở Pallet, vùng Bretagne, miền tây nước Pháp. Từ nhỏ Abélard đã có ý muốn theo con đường chữ nghĩa, chứ không theo nghiệp võ của cha. Abélard đã từ bỏ quyền trưởng nam của mình, lìa bỏ gia đình đi tìm thầy học và đã thụ giáo với những bực thầy danh tiếng thời đó. Bước chân tầm sư trau dồi kiến thức đã đưa Abélard đến Paris, sau đó Abélard đã trở thành một giáo sư tài giỏi, có rất đông học trò, nhiều người từ các tỉnh xa và từ nước ngoài tìm tới để được nghe những bài giảng của Abélard. Thời đó chỉ có những con nhà thế gia giàu có mới có đủ điều kiện đi học. Những lớp học qui tụ xung quanh những ông thầy giỏi thường tổ chức ở những thành phố lớn, học trò sẵn sàng trả những khoản học phí cao cho những vị thầy được mọi người trọng vọng. Abélard là một ông thầy danh tiếng, kiếm được nhiều tiền.

Abélard là một triết gia lớn, chuyên về khoa Luận lý, ngày xưa gọi là la Dialectique, ngày nay thường gọi là la Logique và khoa Biện thuyết ( la Rhétorique ). Ông tham gia cuộc tranh luận về chủ đề được coi là quan trọng thời đó, chủ đề về những cái Phổ Quát ( les Universaux ).Vì phạm vi giới hạn của bài viết nầy về một chuyện tình, nên xin không đi sâu vào chi tiết quan điểm của Abélard về triết học cũng như về thần học ở đoạn dưới. Abélard cũng đã góp phần trong việc xây nền tảng cho triết học kinh viện ( la Scolastique ) bắt đầu phát triển ở Âu Châu vào thế kỷ sau, thế kỷ 13.

Abélard còn là một nhà thần học được nhắc nhở tới nhiều, với một quan niệm mới về môn học nầy, là dùng lý trí qua khoa luận lý để phối hợp với đức tin và tăng cường hiệu lực cho đức tin được hướng dẫn bởi mặc khải qua Kinh Thánh. Quan niệm của ông được diễn tả qua câu nói : « Ta chỉ tin điều gì ta đã hiểu ». Điều nầy ngược lại với quan điểm của Saint Anselme ( 1033-1109 ), ở một thế hệ trước Abélard : « Nếu anh không tin, anh không hiểu được ». Với một quan niệm mới về thần học đi trước thời đại, cộng thêm tính khí cao ngạo và tự phụ, Abélard bị không ít người ghét, công kích và đưa ra tòa án giáo quyền để kết tội nghịch giáo ( hérétique ) hai lần.
Abélard còn là một nhà thơ có cảm hứng dồi dào, một nhạc sĩ sáng tác nhiều bản tình ca và thánh ca. Nhưng hầu hết thơ và nhạc của ông nay đã thất lạc.

Héloïse sinh ra khoảng giữa năm 1090 và 1095, nhỏ hơn Abélard trên dưới 15 tuổi . Những công trình nghiên cứu gần đây cho biết Héloise thuộc một dòng họ có thế lực cạnh vương triều nước Pháp lúc bấy giờ. Như đã nói ở trên, Héloise được xem là một phụ nữ thông thái nhứt thời đó. Cô đã được học về triết học, văn thơ cổ điển và Kinh thánh. Qua nnhững bức thư được coi là của Héloise gởi cho Abélard, cô đã trích dẫn một cách thành thạo các tác giả La tinh cổ điển như Cicéron, Ovide, Sénèque, Lucain.

Héloise có một quan niệm đặc biệt về tình yêu, cô chỉ muốn làm một tình nhân của Abélard, không chấp nhận hôn nhân. Héloise đã học triết học, đã biết hoàn cảnh đáng buồn của nhà hiền triết Socrate với bà vợ của ông. Héloise cũng theo quan niệm cho rằng triết gia phải theo gương những nhà hiền triết như Platon, Pythagore, phải là những người không bị ràng buộc bởi chuyện hôn nhân và vợ con, để dành trọn tâm hồn cho thế giới tư tưởng . Nhứt là trong tình trạng đặc biệt của Abélard, là một giáo sĩ với qui luật phải sống độc thân, Héloise cho rằng hôn nhân giữa nàng và Abélard sẽ làm mất danh giá và uy tín một triết gia, một vị thầy của Abélard, do đó cũng làm hại danh dự của nàng.

Nếu đối với Abélard, theo lời thú nhận trong thư trả lời cho Héloise về sau khi hai người đã phải sống xa nhau, tình của Abélard đối với Héloise chỉ để thoả mãn những ham muốn xác thịt, thì ngược lại, tình yêu của Héloise đối với Abélard, ngoài những rung động và đam mê trong cảm giác, là một tình yêu nồng nàn, hiến dâng trọn vẹn, hy sinh tất cả cho Abélard, chấp nhận những đòi hỏi và quyết định của Abélard đối với cuộc đời của mình.

Khi Héloise và Abélard gặp nhau ở Paris khoảng năm 1117, Abélard đã gần tuổi 40, Héloise ngoài 20. Abélard đã dạy học gần 20 năm, đang ở trên đỉnh danh vọng. Héloise đang theo học và ở với người cậu, Fulbert, là anh hay em ruột của mẹ Héloise. Fulbert và Abélard đều là giáo sĩ Chanoine trong giáo sĩ đoàn phục vụ cho nhà thờ Đức Bà Paris. Fulbert là một chức sắc trong giáo sĩ đoàn, có bổng lộc hậu, Abélard chỉ là một giáo sĩ cấp thấp (un clerc), mới gia nhập giáo sĩ đoàn, nhưng là một ông thầy được mọi người kể cả nữ giới ngưỡng mộ. Biết tiếng về kiến thức uyên bác và tư cách đứng đắn của Abélard, Fulbert mời Abélard về ở chung nhà trong khu dành riêng cho giáo sĩ đoàn cạnh nhà thờ Đức Bà Paris, để dạy thêm cho Héloise. Nhưng rồi một bên trai tài, một bên gái sắc, lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Những buổi học trở thành chỗ hẹn hò của đôi tình nhân. Trang sách mở ra để đó, như lời tự thuật của Abélard về sau, nhưng họ còn mải quấn quít, ôm ấp nhau, không có giờ để mắt đến.

Chuyện tình của hai người rồi cũng đến tai Fulbert. Sau lần bắt gặp tại trận, Fulbert mời Abélard đi nơi khác và cấm cửa từ đó không được tiếp xúc với cô cháu Héloise nữa.

Tuy không được gặp nhau nữa, nhưng Abélard và Héloise vẫn tìm cách trao đổi thư từ với nhau. Trong một thư, Héloise báo tin cho Abélard là mình đã có thai. Trước hoàn cảnh không có lối thoát, Abélard đã lợi dụng một hôm Fulbert vắng nhà, bắt cóc Héloise, cho nàng cải trang thành một nữ tu, đưa nàng về quê, ở nhà người em gái của Abélard. Ở đó Héloise sinh đứa con trai, đặt tên là Astrolabe. Đợi một thời gian cho tình hình lắng dịu, dù Héloise không đồng ý việc hai người trở thành vợ chồng, Abélard một mình trở về Paris gặp Fulbert để xin lỗi và đề nghị xin cưới Héloise, nhưng yêu cầu làm đám cưới thật kín đáo để bảo vệ uy tín cho mình. Fulbert chấp thuận. Abélard đưa Héloise trở về Paris, gởi đứa con trai lại cho em gái Abélard nuôi tới khôn lớn, không bao giờ sống với Héloise và Abélard.

Đám cưới diễn ra kín đáo như hai bên đã thỏa thuận, chỉ có một vài người bạn được mời dự và làm chứng . Nhưng sau đó Fulbert cho dư luận biết đám cưới của Héloise và Abélard. Héloise lên tiếng phủ nhận và cải chính không có cuộc hôn nhân, làm cho Fulbert rất tức giận. Đám cưới xong, Abélard tiếp tục dạy học, nhưng hai người không được sống chung, chỉ có thể kín đáo gặp nhau. Trước tình cảnh đó, Abélard một lần nữa bắt cóc Héloise đưa đến gởi ở tu viện Argenteuil, một làng ở ngoại ô Paris, nhưng không cho Héloise làm nữ tu, thỉnh thoảng đến tu viện thăm Héloise. Gia đình của Héloise cho hành động của Abélard đem vợ bỏ vào tu viện có nghĩa là Abélard muốn bỏ vợ, từ chối cuộc hôn nhân của hai người. Cho đến lúc đó, khoảng năm 1118, mối tình của Héloise và Abélard chỉ mới kéo dài được hơn một năm. Gia đình của Héloise quyết tâm trả thù để rửa nhục. Fulbert dùng hai tên thủ hạ, mua chuộc tên đầy tớ của Abélard, chờ đến đêm, lúc Abélard đang ngủ, mở cửa cho chúng vào cắt bộ phận sinh dục của Abélard. Đau đớn thể xác thì ít, nhưng nổi nhục nhã của Abélard thì tận cùng, vì đầu hôm sớm mai, cả Paris đều biết tin. Dù sao công lý cũng còn được thi hành : hai tên ám hại Abélard bị xử phạt cắt bộ phận sinh dục, theo luật mắt đền mắt răng đền răng, cộng thêm hình phạt bị chọc mù hai mắt. Giáo sĩ Fulbert bị khai trừ khỏi giáo sĩ đoàn và bị tước bổng lộc, nhưng độ một hay hai năm sau thì được phục chức và được hưởng lại bổng lộc.

Chán nản tột cùng, Abélard xin vào dòng tu ở Saint Denis, ngoại ô Paris, yêu cầu Héloise xin khấn làm nữ tu, chính mình cũng phát nguyện làm tu sĩ. Trở thành nữ tu ở Argenteuil, Héloise lần lần được cử làm phụ tá tu viện trưởng coi sóc những nữ tu khác. Về phần Abélard, được tu viện trưởng Saint Denis kính trọng tài học, các tu sĩ cũng xin Abélard truyền kiến thức uyên bác về triết học của ông cho họ. Abélard đã thực hiện điều họ muốn . Trong thời gian nầy, Abélard được sử dụng thư viện của nhà dòng, bắt đầu nghiên cứu và viết về thần học. Nhưng quan điểm thần học của Abélard bị coi là đi ngược đường lối chính thống của Giáo hội Công giáo Roma, bị công đồng địa phương họp ở Soissons năm 1121, dưới quyền chủ tọa của đại diện Giáo Hoàng, kết tội nghịch giáo, buộc phải tự đốt sách đã viết ra, bị giam giữ trong một tu viện trong một thời gian ngắn rồi được trở về nhà dòng ở Saint Denis. Tại đây Abélard lên tiếng đính chánh về tên gọi Saint Denis, thánh quan thầy của tu viện, và chỉ trích mạnh mẽ lối sống buông thả không theo luật dòng của các tu sĩ. Bị thù ghét, Abélard đành phải trốn đi . Nhưng nhờ một nhân vật có thế lực trong giáo hội và trong triều đình đỡ đầu và can thiệp, Abélard được chấp thuận cho đi đến một nơi tĩnh mịch vùng Champagne, phía đông Paris, được vị lãnh chúa trong vùng hiến cho một khu đất để Abélard lập một nhà nguyện, tiếp tục đời tu sĩ. Học trò lại tìm đến, Abélard lại mở lớp dạy học.

Được vài năm, tình hình chính trị thay đổi, Abélard không còn được vị bá tước cai quản vùng bảo trợ nữa. Cũng vừa lúc đó, một tu viện ở vùng Bretagne, gần quê hương của Abélard, thiếu tu viện trưởng, Abélard được mời làm tu viện trưởng thay thế. Được một thời gian, nhận ra cách sống phóng túng không tuân giữ luật dòng của các tu sĩ dưới quyền, Abélard lên tiếng chấn chỉnh, thì bị các tu sĩ tìm cách đầu độc bằng thức ăn, nhưng nhờ đề phòng, Abélard đã thoát chết.

Sau hơn mười năm làm phụ tá tu viện trưởng, năm 1129, Héloise và các nữ tu dưới quyền bị tu viện trưởng Suger của nhà dòng Saint Denis, nơi trước kia Abélard là tu sĩ, trưng bằng chứng tu viện Argenteuil thuộc quyền sở hữu của tu viện Saint Denis, xin lệnh nhà vua và giáo quyền trục xuất ra khỏi tu viện Argenteuil, viện lý do là các nữ tu dưới quyền Héloise có nếp sống đồi bại. Được tin đó, Abélard liên lạc và đề nghị Héloise đưa số nữ tu còn theo Héloise đến tiếp tục đời sống nữ tu ở khu đất có nhà nguyện ở vùng Champagne, nơi trước kia Abélard đã cùng học trò xây dựng và đặt tên là Paraclet. Theo ý muốn của Abélard, trên nguyên tắc Héloise được coi là phụ tá tu viện trưởng cho Abélard. Sau đó nhờ khéo léo vận động, Héloise đã được Giáo Hoàng chấp thuận qui chế tu viện cho nhà dòng Paraclet, và Héloise trở thành tu viện trưởng Paraclet năm 1131.

Abélard vẫn tiếp tục làm tu viện trưởng ở Bretagne, đã nhờ đến uy quyền của đặc sứ của Giáo Hoàng đến tận nhà dòng, tìm cách sửa đổi đời sống của các tu sĩ cũng không thành công.

Trong thời gian nầy, Abélard viết một bản tự truyện : « Histoire de mes malheurs » (Câu chuyện về những nỗi bất hạnh của tôi ), dưới hình thức một bức thư gởi cho một người bạn, không nêu tên, nói lên những thăng trầm của đời mình để an ủi người bạn đó. Bản tự truyện nầy lần hồi được truyền đến tay Héloise. Đọc được bản tự truyện của Abélard, Héloise viết một bức thư dài cho Abélard, trách Abélard biết an ủi một người bạn, trong khi nàng vẫn là vợ của chàng qua phép hôn phối không thể hủy bỏ của đạo Công giáo, thì chàng lại không cho biết tin tức, không nghĩ tới để chăm sóc, an ủi. Tiếp theo là một loạt mấy bức thư dài trao đổi giữa Héloise và Abélard, đã trở thành một tài liệu thư tín rất hiếm, có thể nói là duy nhứt thời đó, và có một giá trị văn chương rất lớn, vì được viết bởi hai nhân vật có trình độ kiến thức cao. Trong những bức thư đó, Héloise trách Abélard đã quên lãng nàng ; nhắc lại những kỷ niệm ái ân ngày xưa của hai người ; Héloise oán trách Thiên Chúa đã phạt chỉ một mình Abélard, trong khi nếu mối tình của hai người bị coi là tội lỗi, thì cả nàng cũng phạm tội, đáng bị phạt như Abélard ; Héloise cho biết nàng chấp nhận làm nữ tu chỉ là chiều theo ý muốn của Abélard, vì cả thể xác và tâm hồn của nàng trọn vẹn thuộc về Abélard. Ngược lại Abélard lập luận rất dài để khuyên Héloise hãy quên đi chuyện vợ chồng của hai người và hãy sống cuộc đời nữ tu, dâng hiến trọn vẹn cho Đức Ki Tô, nhận ngài là vị hôn phu của mình.

Các tu sĩ ở Bretagne vẫn tìm cách giết tu viện trưởng Abélard. Không thể sống mãi trong tình trạng đó, Abélard bỏ tu viện, trở về Paris dạy học. Abélard sửa chữa những điều đã bị công đồng lên án, viết lại và khai triển thêm về Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhưng lần nầy, do ảnh hưởng rất lớn của Saint Bernard trong giáo hội, và là người chống đối kịch liệt quan điểm thần học của Abélard, ông mỉa mai sửa tên sách Théologie (Thần học) của Abélard lại là Sottologie (môn học của người ngốc), Abélard lại bị công đồng địa phương họp ở Sens năm 1140 kết tội nghịch giáo một lần nữa. Do bức thư riêng của Saint Bernard tường trình cho Giáo Hoàng Innocente II ở Roma về vụ án, Giáo Hoàng ra sắc chỉ kết án Abélard nghịch giáo và đích thân đốt sách thần học của Abélard. Nhưng Abélard chống án lên Tòa Thánh Roma, hy vọng nhờ thế lực của một số học trò cũ và một số chức sắc có thiện cảm với mình đang giữ những chức vụ then chốt ở giáo triều Roma, sẽ làm cho Giáo Hoàng đổi ý và xóa án.

Trên đường đi Roma, Abélard giờ đây đã già yếu bệnh hoạn, phải dừng chân ở tu viện Cluny, vùng Bourgogne, được tu viện trưởng Pierre le Vénérable, người rất có thế lực trong Giáo hội thời đó và rất kính trọng tài của Abélard, mời Abélard lưu lại ở tu viện Cluny và gởi thư cho Giáo Hoàng, biện hộ cho Abélard và xin Giáo Hoàng xóa án nghịch giáo cho Abélard.

Trong khi đó, Héloise từ thái độ trước kia miễn cưỡng chấp nhận đời nữ tu chỉ vì chiều theo ý muốn của chồng, nay đã trở thành một tu viện trưởng gương mẫu, có óc tổ chức làm cho tu viện Paraclet có một nề nếp rất mẫu mực, được giáo quyền và mọi người kính trọng. Nhờ đó, cho đến ngày Héloise lìa đời, tu viện Paraclet đã phát triển thêm được sáu chi nhánh dòng nữa.

Abélard sống cuộc đời một tu sĩ rất khiêm tốn, được mọi người quý trọng, nhưng càng ngày càng suy yếu, mất ngày 21.04.1142 tại một chi nhánh của nhà dòng Cluny. Khoảng hơn một năm sau, tu viện trưởng Pierre le Vénérable mới báo tin được cho Héloise và sau đó mang hài cốt của Abélard đến tu viện Paraclet. Héloise đã mai táng Abélard cạnh bàn thờ trong nhà nguyện của tu viện do Héloise cai quản, theo đúng điều mong ước Abélard đã viết trong một thư trước kia cho Héloise. Do lời yêu cầu của Héloise, tu viện trưởng Pierre le Vénérable đã gởi một bản sao sắc chỉ của Giáo Hoàng xóa án nghịch giáo cho Abélard, được Héloise đặt bên cạnh nơi an nghỉ của Abélard ở nhà dòng Paraclet. Héloise cũng xin tu viện trưởng Pierre le Vénérable nhờ uy tín của ông can thiệp cho Astrolabe con trai của bà và Abélard có một chức vụ giáo sĩ và có bổng lộc. Héloise còn sống thêm 22 năm nữa và mất ngày 17.05.1164, được chôn cất trong nhà nguyện dòng bên cạnh Abélard.

Tu viện Paraclet bị đóng cửa dưới thời cách mạng Pháp 1789. Năm 1792, hài cốt của Abélard và Héloise được chuyển về Paris và được cải táng năm 1817 ở nghĩa trang Père la Chaise trong nội thành Paris cho đến nay.

Trên bảng hướng dẫn du khách thăm viếng những ngôi mộ của những nhân vật danh tiếng được chôn cất ở nghĩa trang Père la Chaise như La Fontaine, Corneille, Oscar Wilde, Jean Paul Sartre ..., ngôi nhà mồ nơi Abélard và Héloise an nghỉ được đánh số 27 với lời ghi chú : Les Amants Légendaires ( Những Tình Nhân Bất Hủ ).

không.không

*
Hai Giáo Hoàng lúc đó là :
Innocent II ( ở ngôi GH 1130 - 1143 ),
Anaclet II ( Ở ngôi GH 1130 - 1138 ),
Các Hồng y lúc đó chia ra hai phe, mỗi phe bầu một Giáo Hoàng.
Phe GH Anaclet mạnh hơn, nên Anaclet ở Roma, còn Innocent phải lưu vong sang Pháp. Ở Pháp Innocent II đã được Saint Bernard tích cực ủng hộ. Năm 1138, khi Anaclet II chết, nhờ uy tín và sự vận động của Saint Bernard, người kế nhiệm là Victor IV được Saint Bernard thuyết phục đã từ chức để Innocent II trở về Roma và chấm dứt thời kỳ chia rẻ nầy. Chính Giáo Hoàng Innocent II đã ra sắc chỉ lên án nghịch giáo cho Abélard mà tôi đã ghi trong bài.

Trước và sau giai đoạn nầy, trong Giáo hội Roma vẫn có những lúc có hai Giào Hoàng. Thậm chí có lúc, vào thời kỳ gọi là Đại Phân Ly (le Grand Schisme d'Occident 1378 - 1447) có tới 3 Giáo Hoàng một lúc: Grégoire XII ( 1406 - 1415 ), Benoit XIII (1394 - 1417) và Alexandre V (1409 - 1410).

không.không

Cười tí tỉnh

Cùng chung ý nghĩ

Sau khi về hưu, cặp vợ chồng già suốt ngày quấn quýt bên nhau, hàn huyên tâm sự đủ thứ chuyện. Một hôm, người chồng hỏi, nếu ông chết trước thì người vợ sẽ làm gì. Bà vợ đáp:
- Thì em sẽ tìm thuê chung một ngôi nhà với vài quả phụ hoặc phụ nữ độc thân khác ít tuổi hơn em cho khuây khoả nỗi buồn. Vì em khá trẻ so với tuổi, nên những phụ nữ đó phải ít tuổi hơn em thì mới hợp.
Rồi bà hỏi lại:
- Nhỡ em chết trước anh thì sao?
- Anh cũng sẽ làm như thế!
***

Hạnh phúc

Sau một thời gian chung sống, hai vợ chồng bắt đầu nảy sinh bất hòa. Người vợ than thở:
- Ngày xưa yêu tôi, anh nói rằng mỗi ngày chỉ cần nhìn thấy tôi một vài phút thôi là anh cảm thấy hạnh phúc lắm rồi. Vậy mà bây giờ...
- Bây giờ vẫn thế, em ạ! - Người chồng đỡ lời.

Sunday, December 21, 2008

Noel


Tùy bút


1.

Người thiếu phụ ấy trông nét mặt và dáng dấp như một người đàn bà bôn ba, tất bật, nhưng vẫn ẩn dấu nét đẹp thời con gái. Đặc biệt là búi tóc sau gáy - được vén cao giữa những sợi lông măng và những sợi tóc loà xoà sau ót. Cái búi tóc ấy làm khuôn mặt người đàn bà bỗng dưng già hẳn đi trước tuổi, như là một sự phản nghịch với đôi mắt hãy còn tinh anh, trẻ trung. Chẳng ai biết được ẩn tình trong búi tóc không chải chuốt ấy là một câu chuyện tình lãng mạn dang dở gần 20 năm trường.

2.

Có lẽ quá khứ đã bỏ quên họ, nhưng trong lòng người con gái ấy - đã là một người vợ, một người mẹ và bây giờ là một người đàn bà đã ly dị - sống lặng lẽ với kỷ niệm xưa đầy ắp. Thế còn người yêu của nàng năm xưa thì sao? Hạnh phúc với một mái ấm gia đình hay đôi khi vẫn ray rứt, canh cánh, đau lòng đến xé ruột gan về người mình thương yêu thuở trước ? Hình như mọi người đều an phận với những lo toan và bổn phận hàng ngày, để rồi bất chợt trong đêm trường - họ đã nhớ nhau trong tâm tưởng vô cùng. Nhớ nhau lắm mà họ chẳng thể nào nghe được tiếng nói của nhau hay thi thoảng cũng chẳng được nhìn thấy nhau một lần, để rồi trong giấc ngủ những giấc mơ trở về với trọn vẹn người xưa.

3.

Trong trái tim của họ có một ngăn tim riêng rẽ - để giữ lại trọn vẹn những ân tình nồng nàn cũ. Mỗi người đều dấu kín tấm hình của người thương trong trí nhớ. Họ vẫn mường tượng nét chữ vụng về của lời đề tặng ngây ngô sau tấm hình - tấm ảnh thật đã phai màu, nhưng trong lòng họ nó mãi mãi còn nguyên vẹn sắc màu xưa. Mấy ai biết được những khúc sông, ngõ rẽ của cuộc đời đã làm nàng quay cuồng điên đảo, nhưng cái hạnh phúc được mơ tưởng đến người mình thương, đã giúp người đàn bà bất hạnh ấy ngăn bớt dòng lệ đêm trường, để rồi lại tiếp tục sống nuôi con một cách bình thản.

4.

Chắc gì trong đêm khuya thao thức, người đàn bà ấy không cảm thấy cô đơn, cô độc và chỉ biết tự an ủi mình bằng cách ôm những đứa con núm ruột của mình vào lòng để tự dặn lòng mình rằng: Hạnh phúc của riêng mình là đây. Hãy quên đi một góc hạnh phúc tình yêu nào đó trong quá khứ để yêu con bằng tình yêu của trái tim người mẹ - Mẹ phải yêu con hơn yêu chính bản thân mẹ trong những ước mơ thầm kín, những ước vọng thể xác bình thường của một con người trần gian. Rồi mọi chuyện cũng sẽ trôi qua đi thôi, bởi vì có dòng sông nào ngừng chảy đâu.

5.

Em vẫn để tóc dài như xưa – Sau những năm tháng không gặp nhau, anh chỉ biết về em được chừng ấy qua một lời thuật lại của một người bạn. Nhưng thật ra, mãi cho đến giờ anh vẫn chưa gặp lại em. Chỉ biết rằng em hiện giờ tay nách 3 con thơ, kiếm tiền sinh nhai bằng tất cả những gì mà người ta mướn em làm. Và anh cũng nhớ ngày xưa em yếu đuối vô cùng, như một cành liễu tựa vai anh, thế mà bỗng chốc bây giờ em lại gồng gánh vai trò của bố và mẹ cùng một lúc như thế. Thương em quá … Có lẽ em đã gian nan vất vả lắm và không có thì giờ nhận ra rằng em đã cực khổ như vậy nữa. Lắm lúc anh đã tưởng tượng ra hình ảnh em búi tóc vội vàng trước khi bước chân ra khỏi nhà, để đưa con đi học, đi chơi và ngay cả cho em lúc đến sở làm. Chẳng còn hình ảnh em ngồi chải tóc thật dịu dàng và mơ những sợi tóc mềm sẽ mượt mà thêm cho riêng anh ngắm …

6.

Người chồng của em có lẽ đã quên rằng - xưa kia khi gặp em, em rất đẹp, chứ không cằn cỗi, luộm thuộm như hôm nay. Và người đàn ông ấy đã không chấp nhận sự thay đổi của em từ nét đẹp nõn nà thời con gái sang nét đẹp của một người đàn bà đã có chồng ! Người đàn ông ấy đã để lại dấu ấn cuối cùng trước khi bước ra khỏi cuộc đời em - em sẽ một mình nuôi con dại. Anh chợt nhớ ngày xưa khi anh đến, em mắc cỡ và thường hay vuốt tóc em nhè nhẹ, mắt cúi xuống mà chẳng dám nhìn anh – chỉ có anh … chẳng lúng túng và ngồi nhìn em trong nét thuỳ mị của con gái như thế … Đó là dấu ấn của em đã để lại trong tim anh …

7.

Anh xót xa cho em quá đỗi, nhưng chẳng làm gì được cho em hết cả. Tại sao cuộc đời của em lại trôi nổi đến thế, hỡi em yêu dấu? Anh quay quắt trong nỗi oán hận chính mình. Tại sao anh đã không ở bên cạnh em, để chăm sóc, bảo vệ và chiều em như ngày xưa anh yêu em? Dẫu nhật nguyệt xoay vòng, dẫu trăng tròn trăng khuyết, dẫu em thế nào đi chăng nữa, anh vẫn phải ở bên cạnh em để săn sóc em chứ.

8.

Suốt bao tháng năm, anh đã tiếc và tự hỏi thầm chính mình một điều: Tại sao em lại không thuộc về anh ? Tại sao và tại sao ? Dòng đời khắc nghiệt nào, định mệnh run rủi nào, cơn lốc nào của nhân gian đã đưa đẩy chúng ta cách xa nhau như vậy? Có lẽ đến khi anh nhắm mắt, anh vẫn không trả lời được, em ạ

9.

Dòng tóc của em bây giờ đã có những ngọn tóc chẻ hai, những mảng cháy vàng vì nắng thời gian và đã bắt đầu nhuốm bạc. Bóng nắng thuở nào anh và em ngồi tựa vai nhau là bóng nắng thật êm đềm, chứ không phải là những bóng nắng gay gắt làm cháy bỏng da em giữa vườn nho hay giữa chợ đời muôn ngã rẽ. Cuộc đời em đã rẽ đến một khúc quanh quan trọng nhất mà không có anh bên cạnh – em đi lấy chồng - và em đã bước vào ngõ cụt. Nghiệt ngã cho em biết bao nhiêu … Dòng đời đã cuốn hút anh và em về hai hướng khác nhau và chúng ta mất biệt nhau.

10.

Mỗi năm, chỉ vào đêm Giáng Sinh - búi tóc của em hoá thành Dòng Tóc mượt mà như xưa. Vẫn ngần ấy yêu thương trong hương nồng tóc tơ mà em đã trao cho anh. Anh nghe người bạn của anh kể lại trong những Đêm Thánh Vô Cùng ấy, em là người con gái duy nhất trong những người đến nhà thờ có mái tóc dài tuyệt vời như vậy. Trong lòng anh bỗng dưng nổi lên cơn ghen rất tầm thường của một người đàn ông - bao nhiêu năm rồi trong những đêm Giáng Sinh không có anh đi bên cạnh em, bao nhiêu người đàn ông đã nhìn trộm mái tóc riêng của anh. Quả thật anh đã vụng về để xa em.

11.

Em không búi tóc vào đêm Thánh Lễ Misa. Và thế là cuộc đời em được thả xuôi theo dòng tóc dài ấy - dài như 20 năm qua đăng đẳng – kể từ ngày em xa người tình yêu dấu, em đã không cắt một lọn tóc nào … dẫu qua đi những năm tháng tóc rụng của người mẹ khi mang thai, những khi thức giấc nửa đêm với chồng, khuya sớm với con đã làm dòng tóc mượt mà của em ngày xưa thưa dần, thưa dần … Rồi những sợi tóc ấy lại được em chăm chút, dài ra như nối thêm đường tình dang dở dấu kín trong em … Dường như mối tình xưa trở lại trong em thật đằm thắm, bình lặng bên cạnh cuộc sống của một người vợ lẽ sóng gió!

12.

Đêm nay Chúa Chào Đời, anh biết, dẫu em có bận rộn đi chăng nữa, em cũng đến nhà Chúa như anh. Anh và Em – mỗi người chúng ta một mình đi trong đơn lẻ, nhưng dòng tóc của em đã trở về trong trí nhớ của anh. Người đời trầm trồ khen ngợi suối tóc của em, nhưng không ai biết rằng em chẳng màng đến những lời khen ấy, mà em chỉ đợi nơi anh một câu nói đơn giản: Anh thích em tóc dài như vậy …. Câu nói ấy có lẽ đã làm em ray rứt suốt cuộc đời, vì em biết rằng anh vẫn còn yêu em và em vẫn còn yêu anh - thật tội nghiệp cho em …

13.


Thuở hai chúng ta gặp nhau, tóc em dậy thì ngang vai, thế mà thắm thoát chúng ta đã gần nửa đời người rồi em nhỉ ? Những sợi tóc ấy đã từng là nhân chứng cho tình yêu của hai ta từ ngày đầu tiên bàn tay anh chạm khẽ tóc em và sau đó đôi môi chúng ta trao lời yêu …. Có một lần khi em đi cắt tóc, người thợ cắt tóc đã vô tình cắt ngắn đi nhiều quá, thế là em đã giận người thợ cắt tóc ấy. Anh đến bên em, thấy em ngồi khóc một mình – dỗ mãi em vẫn chẳng nín khóc và dấu nắm tóc ngắn trong tay em không cho anh thấy nữa. Anh ngẩn ngơ hỏi … thì em trả lời rằng bây giờ tóc em ngắn rồi không cho anh thấy nữa … anh bỗng thấy yêu em hơn. Chỉ vì một ý thích của anh về mái tóc dài của em bị khác đi một chút mà đã làm em đau lòng đến chừng ấy rồi ! Kể từ đó về sau, em đã để chỉ một mình anh cắt tóc em dẫu anh rất vụng.

14.

Vẫn là sự bắt nguồn từ dòng tóc, để rồi kể từ ngày em không gặp anh, em đã không bao giờ cắt tóc nữa …Em đã để dòng tóc yêu dấu của anh chảy xuôi theo con sông ngày tháng, không bị ngắt quãng - dẫu cuộc đời em có thăng trầm, đứt đoạn. Nhưng em đã dấu nó dưới ánh mắt của người đời. Không có người đàn ông nào có thể nhìn thấy dòng tóc của em khi em ra phố ngoại trừ anh - người em yêu.

15.

Sẽ có một lần trong cuối cuộc đời của anh và em, chúng ta sẽ gặp lại nhau em ạ. Dẫu cách trở khôn cùng, nhưng trong tận cùng trái tim của anh, ước vọng vẫn là : Anh được gặp lại em, chỉ để nhìn em như ngày xưa mà thôi – có lẽ đến lúc ấy chúng ta đã già lắm rồi em nhỉ , nhưng chúng ta sẽ nhìn nhau trong hình ảnh thuở nào tràn đầy mật ngọt tình yêu như mấy mươi năm về trước trong quá khứ. Và anh biết chắc một điều rằng tóc em vẫn dài như xưa, dẫu đến lúc ấy chắc chỉ còn dăm ba sợi bạc phơ. Tóc em đã phai, đã rụng dần, nhưng Trái Tim em vẫn không phai như cuộc tình của chúng mình và mắt em vẫn tình, phải không em ?

16.

Em dấu yêu, chúng ta đã đợi nhau bao nhiêu năm trường rồi hỡi em, thế mà vẫn chưa gặp nhau được ….. Anh không dám nhắc đến chữ Không Gặp Nhau, mà chỉ là Chưa Gặp Nhau - vì chúng ta sẽ phải gặp lại nhau lần nữa … Thánh đường nhà Chúa khi anh đưa em đi lễ, có lẽ vẫn còn như xưa – lặng yên và thánh thiện – như em vậy …Trong trái tim Nhân Hậu của Đấng Thiêng Liêng, anh biết Người đã yêu thương chúng ta khi anh trao nhẫn đính hôn cho em vì "Điều gì Thiên Chúa kết hợp, thì loài người không thể phân ly". Trong em và trong anh, chúng ta chẳng bao giờ phân ly cả.

17.

Đêm Thánh Vô Cùng lại đến với mọi người và chúng ta, anh quỳ xuống tâm thành và cầu nguyện cho em: Lời cầu xin Bình An và Bảo Bọc em giữa gian truân cuộc đời trong Ân Điển Thiên Chúa. Anh Hôn Em và Ôm em thật tròn - tròn hết vòng tay anh - anh biết em vẫn nhỏ bé như thuở nào - Đêm nay anh nghe trong hồn mình thoảng mùi tóc thơm ngày xưa của em ……

Như Thương

Saturday, December 20, 2008

Phân ưu

Cách dạy trẻ Việt tại hải ngoại

Hướng dẫn đời sống tâm linh từ khi còn bé thơ, đứa bé lớn trong niềm tin tôn giáo bao giờ cũng đạo đức hiền lương hơn một cháu bé vô thần. Hãy nhìn thống kê của các quốc gia có tự do tôn giáo với những nước Cộng Sản sẽ rõ, đứa bé có khuynh hướng bạo lực, bất lương, lường gạt, dối trá ở các quốc gia theo chủ nghĩa vô thần khá phổ biến nếu so với các quốc gia có nền dân chủ và tự do tôn giáo. Hướng dẫn ý niệm lương tâm là một thước đo vô hình ngăn cản con cái không dám hành động sai quấy dù không ai biết, ngược với kiểu “đạo đức cách mạng” là hành động sai quấy dễ phát sinh nếu dấu diếm được với những người có trách nhiệm. Do đó mà trong các nuớc xã hội chủ nghĩa, các em bé lớn lên có khuynh hướng ăn cắp vặt dẫn đến tham nhũng, hối lộ thành quốc nạn mà Việt Nam đang trải qua một thế hệ cay đắng như một điển hình cụ thể. Tuy nhiên, các bậc phụ huynh cũng nên thực tập sự chánh tín là tin tưởng đúng đắn vào một sự kiện, một hành động hay một niềm tin mà điều đó có lợi cho mình, cho bé và cho mọi người. Ví dụ phụ huynh hướng dẫn con cái tin vào nhân quả cho thâm thúy sẽ giúp chúng vươn tới những mục tiêu cao rộng ...

Xin click vô đây để đọc tiếp

Một cách dùng gạo lứt


Trước đây Diễn Đàn đã có dịp giới thiệu một bài viết về nước gạo lứt rang làm cho hồng cầu khỏe mạnh và tròn trịa. Nhận thấy tuổi già rất cần những tài liệu bổ ích như thế nên nay xin giới thiệu thêm một bài viết về cách dùng gạo lứt: Xôi Gạo Lứt, dễ ăn và không khó nấu. DĐ.

***
Xôi Diệu Thiện

Kính gởi :
- Bác sĩ Nguyễn Ý Đức, MD
- Quý đồng hương, Phật tử Việt Nam.

Rất cãm kích công việc làm của bác sĩ đã truyền đạt các tài liệu về y khoa cũng như kiến thức về các khoa liệu trị bệnh được phổ biến đến các nơi qua báo chí và các diễn đàn điện tử. Hơn nữa cũng đã được trao đổi với bác sĩ và phu nhân khi đến thăm viếng Tổ Đình Việt Nam và Tượng Đài Đức Thánh Trần Hưng Đạo vào tháng 8 năm 2008 khi bác sĩ có dịp đến vùng Seattle tiểu bang Washington.

Nay vài hàng đến thăm sức khoẻ và xin được chia sẽ với bác sĩ và đồng hương kinh nghiệm bản thân về phương thuốc trị bá bệnh “ gạo lức, muối mè “ của tiên sinh Oshawa đã được phổ biến trên toàn thế giới và hiện được đồng hương Việt Nam hưởng ứng thực hành.
Là cư sĩ tuổi đời 61 đã về hưu và tình nguyện là ông thủ từ của Tổ Đình Việt Nam ngày ngày hương khói Quốc Tổ Hùng Vương, Đức Thánh Trần và quý liệt vị Anh Hùng Dân Tộc vị quốc vong thân.
Hằng năm đi khám sức khoẻ tổng quát, tim mạch (ECG) tốt, bản thử máu cho biết tất cả đều tốt chỉ có Triglycerides là tăng cao đến 175 (phải dưới 150 mới tốt), vào các trang nhà về y tế thì được biết nếu triglycerides quá cao sẽ biến chứng thành bệnh tiểu đường, nhưng bản thử máu về tiểu đường vẫn không có nên tôi cũng không quan tâm cho lắm.

Năm sau đi thử máu kết quả tất cả vẫn tốt đẹp chỉ riêng Triglycerides tăng lên 201, kết quả về tiểu đường vẫn không có nhưng bác sĩ gia đình Dr. Donal Watson cho uống thuốc. Diệu Thiện, nhà tôi khuyên ăn cơm gạo lức muối mè nhưng cơm quá khô khan, khó nuốt nên tôi cũng chịu thua và đành uống thuốc . Tháng sau trở lại tái khám, triglycerides lại tăng lên 230, bác sĩ tôi lại tăng gấp đôi số lượng thuốc. Tin tưởng vào gạo lức ,muối mè nhà tôi cô Diệu Thiện lại tìm phương thức khác, chế biến thành xôi nếp than gạo lức muối mè mà phần chủ lực chính là gạo lức.
Vì thích ăn xôi , hơn nữa xôi lại mềm dể ăn hơn cơm lần trước, mỗi sáng tôi ăn 1 chén xôi muối mè, trưa ăn 1 chén xôi muối mè, đến cơm chiều thì vẫn ăn cơm trắng thịt cá như hằng ngày. Khi ăn xôi này rất nhuận trường.

Sau hai tháng, đi tái khám, kết quả máu tất cả vẫn tốt và Triglycerides từ đã từ 230 hạ xuống 77. Cholesterol từ 185 hạ xuống 177, bác sĩ tôi ngạc nhiên vì theo ông, thuốc chỉ làm cho Triglycerides đừng tăng cao sẽ biến chứng tiểu đường . Ông bác sĩ Watson có hỏi tôi ăn uống thay đổi làm sao mà có sự khác biệt tốt như thế, tôi chỉ nói với ông rằng có thể nhờ xôi gạo lức muối mè và từ đó đến nay tôi vẫn ăn sáng, ăn trưa với xôi nếp than gạo lức muối mè và ngưng uống thuốc. Thay đổi cách ăn uống, thức ăn cũng làm cho cơ thể tránh được nhiều thứ bệnh.
Mục đích chia sẽ kinh nghiệm bản thân đến quý đồng hương thêm về gạo lức muối mè cô Diệu Thiện đã nghiên cứu phương cách nấu xôi nếp than gạo lức muối mè như sau :

Cách thức nấu Xôi Diệu Thiện hay là Xôi nếp than gạo lức
A- Vật liệu:
1- 5 cups gạo lức hiệu Homai
2- 1 cup rưởi (½ ) nếp than
3- 8 cups nước ấm nóng
4- Nồi cơm điện loại 10cups

B- Cách nấu:
1- Nhặt sạch gạo lức và nếp than.
2- Vo gạo và nếp chung với nhau
3- Nhấn nút nấu cơm
4- Khi cơm chín (nồi cơm báo hiệu từ cook qua warm )
mở nắp, lấy đủa xới xôi lên cho đều.
5- Để warm chừng 1 đến 2 giờ thì ăn được xôi mềm, ngon.
6- Muối mè thì ít muối nhiều mè, rang chín xay nhiễn

C- Cách để dành :
Xôi ( vì nấu nhiều) chia ra từng gói nhỏ 1 chén vừa đủ ăn, cất vào tủ lạnh. Rất tiện lợi cho người còn đi làm, chỉ dùng microware cho 1 phút là có xôi nóng ăn liền.
Kính chúc bác sĩ Nguyễn Ý Đức và đồng hương Việt Nam nhiều sức khoẻ tâm thân thường an lạc.

Nay kính

Tâm Nghĩa Bùi Đức Ly
Thủ Từ
Tổ Đình Việt Nam
2236 SW Orchard St.
Seattle, WA 98106 USA

Nhắn Nguyễn Ngọc Đ. (Viet Nam)

Thiện tai ! Thiện tai!
Truyện cười của bạn như thế mà đăng lên, thiên hạ sẽ la toáng lên cho mà coi.
Chúc bạn mùa Giáng Sinh vui vẻ và năm mới an khang thịnh vượng.
A.C.La

Friday, December 19, 2008

Tranh A.C.La


Đêm Linh Thiêng
Oil on canvas, 16" x 20"
by A.C.La

Click to enlarge

Hồi tưởng

"Lạ thay, khi tôi ngủ li bì thì không thấy họ khiêng ông ấy lại đợi đến khi tôi chạy ra, chắc là ông nhắc tôi chạy ra để nhìn thân xác ông một lần chót, chắc hẳn là như vậy".

Chỉ còn vài ngày nữa là đến lễ Giáng Sinh, còn mươi hôm nữa là Tết Tây, người người nô nức đi mua sắm tại các cửa hàng cửa hiệu, tưng bừng rộn rã, tống cựu nghinh tân, năm cũ đi, năm mới lại, giòng đời vẫn lặng lẽ trôi nhanh. Mấy năm trước đây, tôi dọn về ở khu phố này đúng vào mùa Giáng Sinh, một khu nhà ở trung bình, bên phải tôi là một ông trắng, bên trái là một ông đen, ông nào cũng vui vẻ cả. Tôi và ông trắng hay đậu xe phía sau nhà nên thỉnh thoảng có gặp nhau.

Dọn nhà được mươi ngày tôi gặp ông lần đầu, hôm ấy tôi ghé vào sau nhà ông hỏi thăm xã giao cho có tình hàng xóm, đó là một ông già gần bảy mươi to, cao, vạm vỡ, hôm ấy ông nói đã về hưu mấy năm rồi, hồi xưa trong binh đoàn Thủy Quân Lục Chiến, ông ở một mình, vợ nay ở bang khác, không có con, ông thân sinh còn sống, ở cách đây gần hai chục dặm, nhà này ông mua lâu rồi .
Tôi nghe người ta nói ông này ở dơ lắm.

Khoảng nửa năm sau, bỗng dưng không thấy ông đâu cả, vắng nhà mấy tháng ông lại trở về, gặp tôi ông đều chào hỏi: - How are you today? Anh mạnh giỏi chứ? Được biết ông đi nằm bệnh viện giải phẫu đầu, não gì đấy, ông bị tâm thần. Lúc này mới biết ông bị bệnh, tôi đoán chắc là một chứng nan y. Ông có thái độ bất cần đời, nghĩ rằng mình chẳng còn sống bao lâu, cỏ mọc trước sân cao đến đầu gối, ông cũng mặc kệ, tòa tỉnh cảnh cáo mấy lần ông mới chịu kêu người cắt, tôi có cắt dùm ông một lần. Không bao giờ ông tưới cỏ, nắng Texas như đổ lửa, nứt cả đất, cháy cả cỏ ông cũng thây kệ, muốn đến đâu thì đến.

Qua năm sau, tôi thấy ông suy yếu rõ rệt, trông ông cũng có vẻ khá giả vì thấy ông đi xe mới , người to cao nên mỗi lần chui vào xe khó khăn lắm, xe bị đụng mấy lần, sửa đi sửa lại. Sau ông mua chiếc xe Cadillac to lớn, trông bề thế, loại xe đắt tiền, ít lâu sau lại bị đụng xe, phải kéo đi tiệm sửa. Ông gõ cửa nhà tôi mượn điện thoại, điện thoại nhà ông bị hư. Ối giời ơi, lúc này tôi mới để ý, ông lão hôi quá xá, hôi như tổ cú vậy, quần áo ông nhàu nát cũ kỹ, cả tháng không giặt, ông ấy ra khỏi nhà tôi cả buổi rồi mà mùi hôi vẫn còn trong phòng khách. Ông cho biết gọi điện thoại cho bố nhờ giúp đỡ. Mấy hôm sau tôi thấy cụ thân sinh ông ở đằng sau nhà, một ông cụ trạc chín mươi nhưng trông tỉnh táo hơn, người thấp thấp. Tôi thở dài nghĩ bụng: “Ối giời đất ơi! Ông bố đã chín mươi cái xuân còn phải đi lo cho ông con bảy mươi, thật là báo đời báo kiếp! Báo đến già vẫn chưa hết ”.

Lúc này thấy ông ngày càng bệ rạc hơn trước, quần áo hôi hám, sộc sệch. Có lần ông châm thêm nhớt xe ở sau nhà, tự nhiên quần tụt xuống, ông cũng thây kệ, tôi nói cho ông biết nhưng ông chỉ cười xoà. Tóc tai ông lão rũ rượi, râu ria lởm chởm, nước da ông vàng bủng như một người sốt rét ngã nước, đôi mắt ông nhìn xuống đượm mầu chán chường tuyệt vọng, thoáng một vẻ đau đớn về tinh thần và thể xác, có lẽ biết mình chẳng còn sống bao lâu nữa nên ông chẳng còn thiết gì đời, ăn mặc dơ dáy lắm. Ông cất bước đi vào nhà một cách nặng nề, đôi chân lê trên mặt đất thật chậm chạp vì phải mang một tấm thân to lớn. Hôm nay ông cũng không quên chào tôi “How are you today?”.

Mỗi lần nhìn ông tôi lại thấy nổi lên trong lòng một nỗi u hoài khó tả vì phải chứng kiến một cảnh đời bi thảm, một cảnh bi thảm tại một xứ văn minh sung túc, tôi biết chắc ông ấy cũng sắp về Nước Chúa đến nơi rồi. Cuộc đời là bể khổ, Đông với Tây chỗ nào cũng thế.
Một hôm đi làm về, tôi đậu xe đằng trước. Thấy tôi, ông vội chạy ra nhờ chở đi chợ Kroger mua đồ ăn, xe ông lại bị đụng phải đem đi sửa. Bất đắc dĩ phải chở ông đi chợ. Giời đất ơi, tôi muốn chết ngạt vì cái mùi hôi bốc ra từ quần áo của ông. Bước vào xe ngồi, xe tôi như nghiêng hẳn đi vì ông nặng quá. Lúc về tôi bực lắm, quyết từ nay không bao giờ giúp ông ấy nữa. mùi hôi cứ ở lỳ trong xe tôi mãi mới hết. Có người bạn tình cờ vào nhà ông ấy nói nó hôi thối y như cái chợ cá Trần Quốc Toản Sàigòn, thùng rác ngay đầu giường, chuột, gián . . . . tùm lum. Mà thật vậy, mỗi lần ông mở cửa sau, cái mùi chợ cá xông ra tận bên nhà tôi, thật không ngờ một ông Mỹ trắng lại ở dơ đến thế.

Từ đấy tôi nhất quyết không cho mượn điện thoại, dứt khoát như vậy. Một hôm đang chăm sóc mấy cây hoa hồng đằng trước, tôi bỗng thấy mùi hôi, rồi ông ta hiện ra . . hỏi mượn điện thoại, tôi từ chối nói sắp phải đi ngay, I have to go right now . Ông buồn rầu bước sang nhà khác, nhìn vẻ mặt thất vọng của ông tôi cũng ái ngại lắm, tôi lại tự trách mình sao ác quá, ông ấy hỏi mượn cái điện thoại mà cũng từ chối, nhưng dù ái ngại tôi cũng cương quyết không cho ông ấy vào nhà, giúp ông rồi ông sẽ nhờ mãi, phiền lắm. Tôi bèn viết thư cho tòa tỉnh city . Thưa quí Tòa Ông hàng xóm tôi, cựu chiến binh già lão lắm, không bà con bạn bè, không xe cộ, điện thoại, rất cần giúp đỡ... Ông ấy khổ lắm . .xe hư , điện thoại cũng hư. Ông mượn điện thoại hàng xóm người ta không cho mượn vì ông ấy hôi như tổ cú ấy!. . . nhà ông ấy hôi thối như cái chợ cá , một tổ vi trùng! Tôi có giúp ông ấy vài lần, nay không thể giúp được nữa. Xin quý tòa giúp cho ông để cải thiện cuộc sống cho ông ấy đỡ khổ. Xin đa tạ quí Tòa.

Mấy hôm sau có một ông nhân viên gọi điện thoại trả lời tôi, ông cho biết đã chuyển thư sang ban xã hội, hội từ thiện gì đấy. Lúc này ông không hỏi mượn điện thoại nữa, mặc dù bị tôi từ chối nhưng mỗi khi gặp nhau ông vẫn chào hỏi vui vẻ How are you today? Mạnh giỏi chứ? Tự nhiên tôi lại cảm phục tấm lòng bao dung, độ lượng của ông, của những người Mỹ không bao giờ biết giận là gì, tôi cư xử với ông ấy hơi tệ thế mà ông vẫn vui vẻ như thường thật đáng kính phục thay. Tôi cũng cảm thấy một chút hỗ thẹn ở lương tâm về cách xử sự của mình với ông . Độ này không thấy ông nhờ tôi, bốn năm tháng sau mới thấy ông mượn cái kìm, cái búa, hay xin đồ ăn vì xe hư không đi mua được. Rồi thỉnh thoảng lại thấy ông đi mượn điện thoại các nhà hàng xóm, tức quá tôi lại viết thư lên tòa tỉnh, kể lể dài hơn. Thưa quí tòa Ông hàng xóm của tôi khổ quá , xe hư lại không điện thoại . . . . . . . . . . .. Xin quý tòa giúp ông ấy! Mấy hôm sau, một bà nhân viên gọi điện thoại cho tôi, bà phụ trách về vấn đề hàng xóm, bà hỏi tôi một số chi tiết về ông già và cho biết bà sẽ cố liên lạc với ông ấy. Mấy tháng sau, người ta mở cửa trước, cửa sau nhà ông để tổng vệ sinh, mùi hôi hám ghê sợ tỏa ra khắp nơi, họ thay thảm cho ông, thu dọn rác rưởi trong nhà, nào chổi cùn, dế rách, ấm sứt vòi, ghế ba chân . . . cho vào bao, rồi vất cả đống ra đằng trước vườn. Nhà ông được quét dọn sạch sẽ, tôi mừng cho ông mà cũng mừng cho tôi nữa.

Tuần trước thấy xe ông bị đụng bể cả cửa kính. Độ này thỉnh thoảng mới gặp ông ở chỗ đậu xe sau nhà, thấy ông suy nhược lắm, nét mặt đau khổ đáng thương, tôi có cảm tưởng như ông phải miễn cưỡng kéo lê cái tấm thân tàn này cho đến chết và có lẽ ông cũng mong Tử Thần đến đem đi cho rảnh cái nợ đời, mỗi lần nhìn ông tôi lại chợt nghĩ đến ý nghĩa của nhân sinh: Đời là bể khổ? Phải chăng Chết là giải thoát?...

Chỉ còn vài ngày nữa là đến lễ Giáng Sinh . Tối qua thức khuya đi mua sắm đồ đạc, sáng nay tôi ngủ dậy trễ. Lúc chín giờ rưỡi sáng tôi nghe thấy tiếng nhiều người nói chuyện trước nhà, ngủ thiếp đi một lúc cả giờ đồng hồ vẫn thấy họ nói chuyện, cười cợt. Tôi lấy làm lạ sao họ nói chuyện gì mà lâu thế nên bèn hé mành nhìn ra thấy ba xe cảnh sát, một xe truck đậu trước nhà tôi và nhà ông, mấy người cảnh sát đứng nói chuyện um sùm. Biết là có chuyện chẳng lành, tôi vội khoác áo lạnh chạy ra vườn, tôi thấy hai người khiêng xác ông ấy từ trong nhà đi ra đút vào trong lòng một chiếc xe cứu thương đậu ở bên kia đường. Lạ thay, khi tôi ngủ li bì thì không thấy họ khiêng ông ấy lại đợi đến khi tôi chạy ra, chắc là ông nhắc tôi chạy ra để nhìn thân xác ông một lần chót, chắc hẳn là như vậy. Mọi người vẫn nói cười vui vẻ. Người Mỹ lúc nào cũng thản nhiên như không, dẫu cho gió bão chết cò, đổ đình đổ chùa hay cháy nhà hàng xóm họ vẫn bình chân như vại. Tôi chạy lại hỏi một chị cảnh sát da đen đang đứng trước vườn nhà tôi:
- Ông ấy làm sao thế?
- Ông ấy chết rồi, tối hôm qua.
- Thế à!

Nhìn vẻ mặt xúc động của tôi, chị cảnh sát hỏi:
- Anh thấy ông ấy lần chót hôm nào?
- Mấy tuần trước, tuần rồi thấy xe ông ấy bị đụng bể cửa kính.
- Đụng hôm thứ sáu, ông lái về nhà được. Sáu hôm sau mới chết. Ông ấy biết trước là chết nên đã gọi ông cụ thân sinh, ông cụ kia kìa!

Vừa nói chị vừa chỉ tay về chiếc xe truck đậu ngay trước cửa nhà tôi. Tôi chạy lại xe hỏi thăm ông cụ bố nay cũng độ ngoài chín mươi, cụ vui vẻ hỏi tôi:
- Anh ở bên cạnh hả?

Rồi cụ thẫn thờ suy tư như nhớ lại bảy mươi năm trước đây cụ đã bế trên tay một đứa trẻ sơ sinh mở mắt chào đời, nâng niu ôm ấp một cái mầm sống thân yêu, nó là nguồn hạnh phúc của đời cụ. Thời gian trôi qua, đứa trẻ lớn lên, sống những ngày tươi đẹp của tuổi hoa niên rồi già lão, bệnh hoạn và bây giờ nhắm mắt lìa đời, bảy mươi năm trôi qua đánh vù một cái, nó tuy ngắn ngủi nhưng cũng quá đủ để chấm dứt một kiếp người.

Thế rồi mọi người vội vã lên xe, đóng cửa rầm rầm để đưa ông ấy đi, không kèn, không trống, không một tiếng khóc than, không một giọt lệ sầu mà chỉ thấy toàn là những tiếng cười. Tôi không biết họ đưa ông ấy đi đâu, lên nhà thương? nhà quàn? hay ra nghĩa địa? Ở cái xứ sở giàu có sung túc nhất thế gian này con người vẫn chưa thoát khỏi những nỗi khổ ải, trầm luân. Trong lòng tôi cũng thầm mừng cho ông nay đã rũ sạch nợ trần. Họ vẫy chào tôi rồi vội vã lái xe chạy vùn vụt về cuối phố.

Mặt trời đã lên cao tỏa ánh nắng vàng rực rỡ trên các mái nhà, cành cây, ngọn cỏ. Đường phố lúc này vắng tanh vắng ngắt, không một bóng người. Thiên hạ nô nức đua nhau đi mua quà chúc mừng ngày lễ đã gần kề, chỉ còn lại một mình tôi … đang đứng ngẩn ngơ nhìn về cuối phố, trong lòng xót xa vô hạn, một nỗi buồn mênh mang, thấm thía và một niềm ân hận bàng bạc ở đâu kéo đến xâm chiếm lấy tâm hồn tôi giữa một mùa Giáng Sinh tưng bừng rộn rã.


Trọng Đạt