Saturday, January 16, 2010

Có cách nào hữu hiệu...


Dưới đây là một bài của tác giả đồng môn Phan Nghĩa đề cập đến tình trạng gia tăng tội phạm trong xã hội ngày nay. Tuy đầu đề là "Để Hạ Giảm Tội Phạm" nhưng thực sự nội dung của bài chỉ đề cập đến những cố gắng thất bại để ngăn chận đà gia tăng tội phạm, kể cả các phương cách siêu hình như tôn giáo. Xin mời quý anh chị theo dõi những phân tách về một trong những góc tối không vui của sinh hoạt con người.
Diễn Đàn

Để Hạ Giảm Tội Phạm

PHAN NGHĨA

**
Cuối cùng tôn giáo chỉ “sống còn” với kẻ cuồng tín chứ
không phải là nơi tập trung của những người thức tỉnh

**


Khi đã có xã hội thì phải có luật pháp (Ubisocietas - Ibijust). Luật pháp dùng để qui định những khuôn khổ, chiều hướng mà người dân trong cộng đồng phải tuân theo, khi vi phạm người phạm lỗi phải chịu một hình phạt do xã hội qui định. Tùy theo hình thái văn minh xã hội đã trải qua, qui tắc và hình phạt xã hội qui định để bảo vệ sự tồn sinh của cộng đồng cũng biến dạng theo.

Trước kia ở Đông phương cũng như ở Tây phương người ta còn lẫn lộn giữa hai ý niệm về “trách nhiệm dân sự” (responsabilité civile) và “trách nhiệm hình sự” (responsabilité pénale), tùy theo tình trạng nặng nhẹ của lỗi có khi áp dụng loại trách nhiệm này, có khi áp dụng loại trách nhiệm kia.

Theo lịch sử Phạm tội học, bốn giai đoạn được phân biệt về sự trừng phạt của xã hội đối với người phạm tội gồm có: - chế độ tư nhân phục cừu - chế độ thục kim - chế độ thuần túy hình sự và cuối cùng có sự phân biệt rõ ràng một bên là khoản bồi thường dân sự và một bên là hình phạt hình sự.

Qua ý niệm trên, có thể thấy rằng tùy theo chính sách hình sự của mỗi quốc gia mà hình thức trừng phạt người phạm tội khác nhau. Dù hình thức tân kỳ như cải huấn phạm nhân hiện nay hay hình thức trả thù trong xã hội cổ xưa thì ở đâu cũng đều mang màu sắc trừng phạt những cá nhân đã vi phạm quyền lợi của cộng đồng, gây phương hại đến trật tự công cộng.

Ở Đông phương, hai hình thức “Nhân Trị” của Khổng Mạnh và “Pháp Trị” của phái Pháp Gia đã lần lượt chi phối các chính sách hình sự tại đây. Tùy theo quan niệm của các triều đại, tùy theo hoàn cảnh tao loạn của quốc gia, các chính quyền quân chủ xưa đã áp dụng một chính sách trừng trị khắc nghiệt, mục đích gây sự khiếp sợ để phạm nhân không dám tái phạm và cũng nhằm răn đe người khác. Cũng có triều đại áp dụng phương châm nhân trị, lấy đạo đức lễ nghĩa để cảm hoá. Những hình phạt đáng làm khuôn mẫu cho nền cải huấn tội nhân hiện nay tương tự hình phạt “Gia Thạch” (nhìn vào tảng đá đầy vân sắc đều đặn, tội nhân sẽ tự cảm thấy tội lỗi của mình vì đã làm xáo trộn xã hội, để từ đó ăn năn hối c ải). Để thay cho tội “Trảm” (chém đầu) tội nhân phải mặc áo không có cổ áo, khi mặc như vậy, chính tội nhân và mọi người đều biết là y đã phạm tội và bị chém đầu, điều này làm cho tội nhân ngày đêm tâm niệm cải tà qui chánh.

Sự thực, danh từ “cải huấn” (Réeducation) chỉ được phương Tây dùng từ giữa thế kỷ 19 và ở Việt Nam từ thập niên 40. Vấn đề căn bản của việc cải huấn phạm nhân là làm thế nào để biến phạm nhân thành lương dân. Trọng tâm của chính sách cải huấn là bằng mọi cách giúp người phạm tội hồi tâm, để sau này mãn án họ có thể hội nhập vào xã hội, tiếp tục cuộc sống bình thường của một công dân lương thiện. Nói chung, phần nào chính sách hình sự hiện nay đã quay lại với “chủ nghĩa nhân trị” nhưng chắc chắn vấn đề không còn đơn giản.

Chính sách cải huấn phạm nhân cũng chứng minh quan niệm trừng phạt khắc nghiệt người phạm lỗi đã phần nào làm gia tăng tội phạm cho xã hội. Do đó, chính sách hình sự phải đặt căn bản ngăn ngừa tội phạm hơn là trừng phạt, vì tâm lý kẻ phạm tội trước khi hành sự là tự hỏi việc phạm pháp liệu có bị phát giác, có bị bắt hay không, chứ hình phạt không phải là điều làm phạm nhân đắn đo, cân nhắc trước khi hành động.

Như vậy, muốn có một chính sách cải huấn phạm nhân thuận lợi, thì chính sách hình sự và kế hoạch cải huấn can phạm phải phù hợp với nhau, sự tiến bộ và nhân bản trong vấn đề này là điều kiện cần và đủ để giảm bớt sự phạm pháp, giảm bớt sự tái phạm và xã hội chỉ còn biện pháp mạnh đối với các thành phần không hoán cải được.

Thiết tưởng cũng nên đề cập đến một vấn đề mà từ trước đến nay đã làm trở ngại khá nhiều cho việc cải huấn nạn nhân, đó là sự nghi kỵ, ác cảm của số đông dân chúng đối với phạm nhân mãn án. Tâm lý người dân lương thiện thường ác cảm với kẻ vừa ra khỏi tù, làm cho người mãn án cảm thấy mình bị hất hủi, ruồng bỏ, làm cho phạm nhân càng dễ hận đời, rất dễ trở lại con đường phạm pháp.

Việc ác cảm, nghi kỵ đối với phạm nhân mãn án còn có ở cấp chính quyền. Nếu ai đã từng xin việc, chắc hẳn đều biết, hồ sơ không thể thiếu giấy tư pháp lý lịch số 3 (trước 1975) và nay là sự chứng nhận không tiền án tiền sự tại tờ khai lý lịch. Nếu giấy này không được “trắng” thì chuyện xin đi làm phải xem là điều ảo mộng!

Tình trạng ấy đã tạo nên vòng lẩn quẩn: cải huấn thì muốn hoàn lương can phạm, muốn biến can nhân thành lương dân, xã hội thì xa lánh, ruồng bỏ khiến cho can nhân phải trở lại con đường bất chính. Vì vậy, một quan niệm mới về chính sách hình sự dùng làm căn bản cho công việc cải huấn là đối với các can nhân, sau khi đã thụ hình, xã hội hãy quên đi quá khứ xấu của họ - hơn nữa họ cũng đã chuộc lỗi bằng bản án tương xứng. Muốn thực hiện điều này, luật pháp cần minh thị: không được buộc một cá nhân phải xuất trình giấy chứng nhận không can án khi giao dịch hay xin việc làm. Như vậy, ngoài các trung tâm cải tạo thì mọi công dân ai cũng như ai, ai cũng được xem là lương thiện, không có sự phân biệt giữa công dân “sạch” và công dân “có vết” . Được như vậy thì may ra mới dễ hội nhập những công dân đã mãn án vào xã hội một cách bình thường. Khi đạt được điều nay, vấn đề phạm pháp hoặc tái phạm chắc chắn sẽ hạ giảm.

Tại Hoa Kỳ vấn đề tội phạm là một trong những vấn đề gay go mà giới chức cầm quyền cũng như các hội đoàn liên hệ muốn giải quyết nhưng phải nói là chưa bao giờ thành công. Tiến trình: thu thập điều tra tội phạm - bắt giữ - giam giữ cải huấn - phóng thích và theo dõi - lập hồ sơ lưu trữ đã được giới chức và cơ quan thẩm quyền xúc tiến một cách khoa học với nhiều chuyên viên và kỹ thuật tân kỳ hổ trợ. Kết quả rất thành công về phương diện quản trị nhưng về mặt hạ giảm tội phạm trong xã hội thì có thể nói chưa có gì để lạc quan.

Tội phạm tại Mỹ gia tăng từ 1.9 đến 2% mỗi năm, tổng số tù nhân cả nước (liên bang và tiểu bang) đến nay đã lên đến 2.3 triệu trên dân số là 296 triệu, như vậy cứ 138 người dân Mỹ thì có một người ở tù!

Bởi vậy Hoa Kỳ là quốc gia có nhiều tù nhân nhất kế đến là Anh -Trung Cộng - Nhật và Nigeria. Người ta bảo Hoa Kỳ là một quốc gia “LẠM PHÁT T ỘI PH ẠM” vì có quá nhiều sự quy định tội danh để xét xử người dân về mọi phương diện. Ngoài ra cũng vì sự gia tăng tội phạm mà một số chính sách cứng rắn về hình sự được ban hành trong thập niên 80 đó là
- Án tù bắt buộc với tội phạm ma túy
- Trừng phạt nặng nề đối với kẻ tái phạm
- Giới hạn chặt chẽ hơn việc phóng thích trước thời hạn.
Các biện pháp này tuy thích ứng để ngăn ngừa tội phạm nhưng không phải là cách thức hay nhất để hạ giảm tội phạm trong xã hội.

Tôn giáo ra đời cách đây vài ngàn năm người ta lầm tưởng tôn giáo sẽ là cứu cánh và phương tiện giúp cho loài người sống lương thiện hơn hòa bình hơn. Nhưng không con người ngày càng giết nhau tồi tệ, dã man, bóc lột nhau một cách đê tiện và tinh vi hơn. Rốt cuộc tôn giáo chỉ còn là một cách thức để thỏa mãn các lý luận phức tạp cao siêu của lãnh vực triết lý hữu thần, nội việc tô vẽ một chốn Thiên Đàng và một nơi Địa Ngục để câu rê hù dọa mọi người cũng đủ thấy bản chất của tôn giáo là thế nào! Cuối cùng tôn giáo chỉ “sống còn” với kẻ cuồng tín chứ không phải là nơi tập trung của những người thức tỉnh.

Sự xáo trộn của xã hội gây ra bởi các tội phạm xất phát từ hành động của con người trong hai phạm trù: muốn - có thể (làm) - mà không DÁM (làm) và muốn - không thể (làm) mà dám (làm) .

Sự mong muốn, thích thú làm một sự việc nhưng vì một vài phương diện (chức vụ, địa vị xã hội, tôn giáo) đã ngăn cản sự thực hiện từ đó sinh ra mọi ẩn ức sinh lý tinh thần tạo ra những quyết định lầm lạc mâu thuẫn có khi đưa cả một quốc gia hay cả một khu vực thế giới vào những cuộc chiến tranh phi lý về quân sự - chính trị - kinh tế gây nhiều tang tóc tổn hại cho con người, đó là đối với những người có chức vụ, quyền thế. Riêng đối với những người bình thường thì hành động của họ có thể gây tác hại cho gia đình hay giòng họ.

Còn vấn đề muốn - không thể làm mà cứ hành động thì hậu quả là tội phạm gia tăng, xã hội xáo trộn và hiển nhiên là nhà tù cứ phải xây thêm mãi. Một vấn đề cần lưu ý là các hành động kể trên phải là những việc phi nhân bản, trái với các nguyên tắc chung của cộng đồng, vô đạo đức và cố áp đặt những điều mà đa số người dân phản đối, bất mãn.

Bởi vậy xã hội sẽ bình yên hơn, ít tội phạm hơn khi con người muốn nếu có thể làm thì cứ làm còn nếu muốn không có thể thì đừng làm. Nguyên tắc này nghe ra thật đơn giản nhưng nếu áp dụng vào thực tế phải nói là không dễ dàng!

Cuộc đời sẽ là những chuỗi ngày buồn chán nếu sống mà không làm được những gì mình thích.

PHAN NGHĨA

Thơ Lãm Thúy





Click to enlarge

Friday, January 15, 2010

Lảm nhảm

Buổi Sáng Mùa Đông

Mỗ này chịu lạnh quen rồi. Gần nửa đời người sống trên cái xứ tủ lạnh này rồi còn gì! Thế nhưng năm nay mùa lạnh có vẻ bất thường. Mới đầu Đông, Edmonton đã có những ngày lạnh -40 độ C (-40 đô F), ban đêm xuống âm 55 độ (-67 độ F). Thành thử buổi sáng xe đề hết nổ nếu đêm không nối dây điện sưởi máy. Xe là cái phương tiện quan trọng của dân đi cầy, cũng như ban điều hành là phưong tiện của một cái Tổng Hội. Xe cũ câu bình rồi chay ngay, nhưng một cái ban điều hành, quản trị gì đó đã ọp ẹp thì có câu bao nhiêu bình cũng vẫn ọp ẹp, vứt béng nó đi là xong, nhưng xe cũ còn làm ra tiền thì cứ giữ lại.

Canada lạnh thiệt, nhưng xét ra mỗ tôi vẫn chưa tội nghiệp cho bằng những con tắc kẻ ở bang Florida mùa Đông này. Mấy chú tắc kè chân tay như tê dại không còn sức bám chặt vào thân cây, rớt lộp độp xuống đất**. Có bao giờ Florida lạnh trên dưới không độ C đâu (32 F). Năm nay anh Vũ Lưu Hương cho hay chỗ anh ở nhiệt độ xuống 33 độ F tức gần âm độ C.

Từ Margate, Như Thương cho hay người ta xếp hàng để vô tiệm quần áo đợi mua cho được áo len, áo lạnh. Đồ ấm, áo mũ, khăn quàng, găng tay vùn vụt bay ra khỏi tiệm. Con buôn dù nhanh trí vẫn không kịp tuồn hàng xuống cái bang ấm nhất nước Mỹ này.

Sáng nay ngủ dậy, khăn quàng mũ ni đóng vào, mỗ sang nhà bếp hầm súp. Trước khi mở gói tôm khô ra đọc mấy chữ trên hộp đựng "Thơm Ngon Chất Lượng Cao", lại bực mình.

Có gì đâu, cũng tại anh Nguyễn Đình Phúc (ĐS11) cả. Anh Phúc có cái trí nhớ vô địch, đọc thơ vanh vách, sách thánh hiền trích dẫn "y chang". Ngoài ra nho nhê cả một chùm. Có lần năm ba anh em ngồi tán gẫu, anh bình loạn: "Chất là chất. Lương là lượng. Có phải lúc nào "chất lượng" cũng đi với nhau được đâu".

Đúng thật, "chất" nói đến cái tinh túy, quý hiếm. Còn "lượng" nói đến cái khối, cái trong lượng. Người xưa nói: "Quân cốt tinh nhuệ, không cốt đông", hay tổng lược hơn "Quý hồ tinh, bất quý hồ đa" là như thế. Còn ở đây, mỗ chỉ cần ít con tôm khô thơm ngon và bổ, chứ đâu có cần một đống bở rệu ăn vô thêm đau gan!.

Chữ xưa kia rất hay, rất chính xác: "Phẩm Chất Cao" sao không xài, lại đổi thành "Chất Lượng Cao" để rồi lại lòi cái dốt, cái ngu thêm một tý, hỡi mấy chú tự xưng là cách mạng?

Điền Thảo
---
** Hình ảnh trên TV

Thursday, January 14, 2010

La Dernière Valse

Không tình yêu, tâm hồn tôi đâu còn nữa!

La Dernière Valse
(Bản Luân Vũ Cuối Cùng) một ca khúc tuyệt vời do nghệ sỹ lừng danh của Pháp Mireille Mathieu sáng tác và trình diễn vào nửa cuối thập niên 60 đã làm say mê không ít tuổi trẻ trên thế giới. Xin mời quý anh chị thưởng thức lại qua chính tiếng hát Mireille Mathieu, và sau đó qua nghệ thuật trình tấu của một dàn nhạc cũng lừng danh mà nhạc trưởng, ông Paul Mauriat, là người đã từng dìu dắt cô đi lên đỉnh cao nghề nghiệp của mình. Xin cám ơn thi sỹ Lan Đàm đã gợi ý.
(Xin nhớ đeo headphones để khỏi làm phiền bà xã đang bận coi phim Đại Hàn. Xin cám ơn)





Le bal allait bientôt se terminer
Devais-je m'en aller ou bien rester ?
L'orchestre allait jouer le tout dernier morceau
Quand je t'ai vu passer près de moi...

C'était la dernière valse
Mon cœur n'était plus sans amour
Ensemble cette valse,
Nous l'avons dansée pour toujours.

On s'est aimé longtemps toujours plus fort
Nos joies nos peines avaient le même accord
Et puis un jour j'ai vu changer tes yeux
Tu as brisé mon cœur en disant "adieu".

C'était la dernière valse
Mon cœur restait seul sans amour

Wednesday, January 13, 2010

Thư Paris

TỪ MỘT LỜI KÊU GỌI

Ngày 26.12.2009 tôi có đọc cái mail của Bạn LBT, chuyển lời kêu gọi ký tên tham gia chiến dịch Hủy Bỏ Tượng Đài Hồ Chí Minh Tại Montreuil Gần Thủ Đô Paris, của Câu Lạc Bộ Phối Hợp Công Tác Paris.

Đọc lời kêu gọi tôi thấy lạ vì, thứ nhứt, không có người đại diện của CLB Phối Hợp Công Tác ký tên, Nguyễn Quốc Nam chỉ là tên người chuyển lời kêu gọi, được gởi đi từ một người có tên là Truong Nhan ở bên Đức ; thứ hai, lời kêu gọi ký tên rồi gởi qua địa chỉ e.mail kèm theo, nhưng khi bấm vào link thì không có hộp thư đó ; thứ ba, lời kêu gọi ký tên mà không thấy có Thư Thỉnh Nguyện kèm theo để biết trong thư đó nói gì. Nhờ cái link ở cuối lời kêu gọi, tôi vào cái site www.vietland.net đọc được Thư Thỉnh Nguyện gởi Bà Thị Trưởng Montreuil viết bằng tiếng Việt, đề ngày 26.12, trong khi lời kêu gọi thì đề ngày 24.12.

Đọc cái Thư Thỉnh Nguyện, tôi lại thêm một lần ngạc nhiên. Về hình thức, trước hết vì là thư gởi cho một Thị Trưởng người Pháp, đáng lẽ theo phép lịch sự phải viết bằng tiếng Pháp, phần tiếng Việt chỉ là để thông báo cho người Việt khắp nơi, vì Bà Thị Trưởng người Pháp không rảnh để tìm người dịch thư ra tiếng Pháp ; thứ hai thư không có người ký tên, mà chỉ có một hàng chữ tắt ở cuối thư, kèm theo ở đầu thư một huy hiệu có hình cờ VNCH mà không thấy đề danh tánh của người hay đoàn thể gởi thư. Về nội dung, lời lẽ cũng mơ hồ khi viết « Nhận thấy trong khuôn viên của lâu đài Montreuil có bức tượng bán thân của ông Hồ Chí Minh ». Điều đó cho thấy người viết Thư Thỉnh Nguyện chưa đến tận nơi để biết rõ khung cảnh của sự việc mà mình đại diện cho nhóm ( nếu có ) đưa thỉnh nguỵện. Mặt khác, phần lớn bức thư không tập trung vạch trần tư cách không xứng đáng của ông Hồ Chí Minh để được đặt tượng cho người đời ngưỡng mộ, mà nói nhiều về hành động của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam hiện nay, làm loãng đi chủ đề về ông HCM. Cho nên người đọc thư có cảm tưởng lá thư là tờ tuyên truyền buộc tội nhà cầm quyền Cộng Sản VN hiện nay. Tuy có thể nói những điều đó là do ảnh hưởng của đường lối chính trị của ông Hồ để lại, nhưng cũng là đi xa đề.

Tôi có tìm hiểu về thành phố Montreuil, bà Thị Trưởng Dominique Voynet và đến nơi có tượng của ông HCM để làm một bản tường trình tóm tắt cho các Bạn sau đây.

Tên đầy đủ của thành phố Montreuil là Montreuil- Sous- Bois với mã số Bưu điện là 93100.

Montreuil có diện tích 892 ha với dân số hiện nay là hơn 102 000 người, một dân số rất lớn so với những thành phố khác xung quanh Paris, chẳng hạn hai thành phố kế cận, Bagnolet chỉ có hơn 34 000 dân, Vincennes chỉ có hơn 47 000 dân. Trên bản đồ kèm theo, các bạn thấy Montreuil nằm ở phía đông Paris, con đường màu cam có chữ Boulevard Périphérique bên trái bản đồ là ranh giới giữa Paris và các thành phố giáp ranh với Paris. Tận cùng bên phải, giữa bản đồ các Bạn thấy có chữ Parc Montreau-Daniel Renoult là công viên nơi có tượng bán thân của ông HCM tôi sẽ nói đến sau.

Thành phố Montreuil có truyền thống Cộng sản từ lâu. Theo tài liệu tôi đọc trên Wikipedia thì từ năm 1935 tới nay – trừ khoảng thời gian 1939-1944, Wikipedia cho biết Montreuil không có Thị Trưởng – các Thị Trưởng Montreuil đều là Cộng Sản hoặc có khuynh hướng Cộng sản. Bà D. Voynet là Thượng Nghị Sĩ, đương kim Thị Trưởng Montreuil từ tháng 3 năm 2008. Bà đã từng là Thư Ký Toàn Quốc của Đảng Xanh ( les Verts ), chức vụ nầy tương đương với chức Chủ Tịch, vì Đảng Xanh không có chức Chủ Tịch. Đảng Xanh là một chính đảng về Môi trường, thuộc cánh tả. Trong thời kỳ đảng nầy liên hiệp với đảng Xã Hội, cánh tả, Bà là Bộ Trưởng từ năm 1997-2001 trong Chính Phủ của Thủ Tướng Lionel Jospin thuộc đảng Xã Hội. Nói hơi dài dòng một chút để sau nầy các Bạn hiểu tại sao tượng bán thân của HCM được đặt ở Montreuil.

Trong thư thỉnh nguyện có nói đến tượng bán thân của ông HCM đặt trong khuôn viên lâu đài Montreuil. Điều nầy không đúng. Tôi có tìm tài liệu về thành phố Montreuil và đến tại chỗ quan sát và tìm hiểu. Trong công viên Montreau-Daniel Renoult hiện nay, gọi tắt là công viên Montreau, rộng 15 ha, ở về phía đông thành phố Montreuil không có lâu đài nào. Trước kia có một lâu đài được xây vào thế kỷ XVII, nhưng trong cuộc chiến tranh với Phổ (La Prusse), lâu đài nầy đã bị phá đi năm 1870. Ông Théophile Sueur, một kỹ nghệ gia, Thị trưởng Montreuil, chủ nhân của khu đất thời đó, năm 1874 đã cho xây ngôi nhà mà các Bạn thấy trong hình kèm theo. Để ghi nhớ công của ông, thành phố Montreuil dùng tên của ông đặt cho con đường chạy ngang trước cổng công viên nầy. Ngôi nhà nầy có hai tầng, hiện nay được dùng làm Bảo tàng viện, có tên tiếng Pháp là Musée de l’Histoire Vivante (Bảo Tàng Viện Lịch Sử Sống Động). Bảo tàng viện nầy được thành lập năm 1937 và được khánh thành ngày 25 tháng 3 năm 1939, năm kỷ niệm lần thứ150 cuộc Cách mạng Pháp 1789. Nhưng chỉ một thời gian sau, thế chiến thứ hai bùng nổ, BTV đã đóng cửa từ năm 1939 đến năm 1946, các tài liệu trưng bày trong BTV được đem cất giấu ở nơi khác. Sau đó trong một khoảng thời gian dài 1981-1988, vì số lượng khách đến thăm quá ít, BTV đã bị đóng cửa. Ngôi nhà hai tầng hiện nay chỉ được sử dụng có tầng trệt và tầng một để trưng bày tài liệu và hình ảnh về đảng Cộng Sản Pháp và mối liên hệ với đảng Cộng Sản Liên Sô, về tờ báo L’Humanité, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Pháp. Đặc biệt có một căn phòng nhỏ khoảng 2,5m x 4m ở cánh trái của tầng trệt được dùng trưng bày một số tài liệu và hình ảnh thời kỳ ông Hồ chí Minh sống ở Pháp 1917 – 1923, trong đó có thẻ đảng viên Cộng Sản Pháp nói là của ông HCM đề năm 1922, nhưng tên của hội viên đọc không được. Có một hành lang nhỏ và ngắn dẫn tới căn phòng nói trên, trên tường có treo một số tài liệu cũ, trong đó có một thư viết tay của HCM gởi cho một nhân vật lãnh đạo đảng Cộng Sản Pháp đề năm 1957. Đầu hành lang có hai tấm bảng, một bằng tiếng Pháp, một bằng tiếng Việt để giới thiệu căn phòng HCM nầy.

Bên ngoài ngôi nhà, cách khoảng 15m về phía phải, khuất trong một bụi cây nhỏ, trong hình chụp từ xa của ngôi nhà kèm theo, các Bạn thấy có bụi cây thấp, có một pho tượng bán thân của HCM có kích thước chiều ngang khoảng 30cm, chiều cao khoảng 45cm, được đặt trên một cột nhỏ cao khoảng 1,2m, 1,3m, không thấy đề năm và cơ quan dựng tượng. Trên đầu cột, ngay dưới tượng, có một tấm bảng mạ đồng, chữ đã bị cạo xóa nhưng đứng sát còn có thể đọc được, bằng tiếng Pháp như sau :
Président Ho Chi Minh
1890 – 1969
Héros De La Libération Nationale
Et Eminent Homme De Culture Du Vietnam
(Résolution de L’UNESCO 1987)
Xin tạm dịch :
Chủ Tịch Hồ Chí Minh
Người Anh Hùng Của Cuộc Giải Phóng Dân Tộc
Và Nhà Văn Hóa Xuất Chúng của Việt Nam
(Quyết của UNESCO năm 1987)
Một bức tượng nhỏ đặt khuất trong một góc, không có bảng chỉ dẫn để khách viếng BTV biết có nó ( tôi có hỏi, người ở bàn tiếp khách chỉ rõ tôi mới nhận ra nơi đặt tượng ), có lẽ không cần dùng chữ tượng đài để gọi nó. Vã lại pho tượng nhỏ, dù năm ngoài ngôi nhà, và dù do ai đặt ở đó, nó vẫn gắn liền với BTV và với căn phòng HCM bên trong BTV.

Cho nên nếu muốn làm đến nơi đến chốn thì nên thỉnh nguyện bỏ luôn cả căn phòng HCM bên trong BTV. Điều nầy chắc khó đạt được, bởi vì dù Bà Thị Trưởng D. Voynet và ê kíp của Bà trong Thị Xã ( La Mairie ) có muốn chấp thuận – điều nầy không có gì chắc chắn – Bà còn phải để ý tới tiếng nói phản đối của một số nghị viên Cộng Sản trong Hội Đồng thành phố Montreuil, đến truyền thống Cộng Sản của thành phố Montreuil với BTV chuyên đề Cộng sản đã là di sản của thành phố.

Nhân tiện tôi xin nói qua về Nghị Quyết năm 1987 của UNESCO nêu trong tấm bảng ghi chú bên dưới tượng bán thân của HCM. Năm 1987,do một bản thỉnh nguyện của Võ Đông Giang, một giới chức Cộng Sản VN, Hội Đồng của tổ chức UNESCO, trụ sở đặt tại Paris đã ra nghị quyết cho phép vinh danh ông HCM là anh hùng của cuộc giả phóng dân tộc, và là nhà văn hóa xuất chúng của VN tại trụ sở của UNESCO, nhân kỷ niệm lần sinh nhật thứ 100 của ông Hồ vào ngày 19.5.1990 . Nhưng năm 1989, một số nhà trí thức VN yêu nước, chống cộng ở Paris đã thành lập Ủy Ban Tố Cáo Tội Ác HCM, đã nêu rõ những bằng chứng cho thấy HCM không phải là nhà văn hóa, cũng chẳng phải là nhà chính trị giải phóng dân tộc của VN. Căn cứ trên những bằng chứng của UB Tố Cáo Tội Ác HCM, ông Tổng Thư Ký UNESCO đã không cho thi hành nghị quyết năm 1987 và không cho tổ chức trọng thể buổi lễ vinh danh HCM tại trụ sở UNESCO Paris. Đó là một thắng lợi lớn của những người VN yêu nước, chống Cộng Sản. Tôi có tìm được trên Youtube băng ghi âm tài liệu vế sự việc nầy, và một bài trên site www.vantuyen.net. Tôi cũng tìm được trên Youtube một tài liệu khác về HCM có tên là « Sự Thật Về Hồ Chí Minh » gồm 12 tập. Xin chuyển để các Bạn nghe và xem.

Kết luận : qua những điều tôi vừa trình bày với các Bạn, tôi nghĩ rằng, một tượng bán thân nhỏ của ông Hồ Chí Minh đặt trong hóc kẹt, xa chỗ có đông người qua lại, và cũng không có bao nhiêu người biết đến, không phải là chuyên đáng bận tâm thái quá và cũng không đáng phải làm ồn ào.

NQMINH PARIS
03.01.2010

PS. Sau khi viết bài nầy, ngày 04.01 tôi có trở lại site vietland.net để xem diễn tiến của chiến dịch vận động, thì thấy cả lời kêu gọi lẫn lá thư thỉnh nguyện bằng tiếng Việt đều đã bị xóa đi, nên không rõ chiến dịch vận động và thỉnh nguyện bỏ tượng HCM ở thành phố Montreuil có còn được tiếp tục không.

Tuesday, January 12, 2010

Haiti bị động đất

Một cuộc động đất dữ dội mới xẩy ra đã làm sụp đổ nhà cửa , cao ốc, gây hỏa hoạn và chôn vùi nhiều nạn nhân dưới đống gạch vụn tại nước Haiti nhỏ bé thuộc vùng biển Ba-ri-bê. Cuộc động đất mạnh 7.3 này đã khiến hàng trăm người thiệt mạng.

Tin mới nhất cho hay số người bị tử vong lên đến hàng ngàn.
(Theo BBC)





Monday, January 11, 2010

Lần đầu tiên trên Diễn Đàn

Xin giới thiêu một bản Country Music với quý lão huynh và lão tỷ:
Thấy hay thì nhớ cảnh, đừng nhớ người.


Bàn về tranh


Trở lại bức tranh Bạn gởi để hỏi ý kiến về cái tên " Chiều Đông" hôm lễ Giáng Sinh, tôi phân vân khá lâu, không biết phải cho ý kiến thế nào. Tôi không hiểu ở Canada, xứ gấn Bắc Cực, buổi chiều dù là mùa đông ánh sáng mặt trời có còn chiếu rất mạnh không - tôi liên tưởng tới hiện tượng l'aurore boréal mà tôi đọc trên sách vở - do đó trong bức tranh của Bạn, tôi thấy ánh sáng phản chiếu trên vũng nước, rõ ràng là nắng chiều, nhưng ánh sáng mặt trời ở bối cảnh thì vàng tươi đẹp quá - không giống ánh sáng vàng vọt những buổi chiều mùa đông có tuyết mà tôi thấy ở đây, bên Pháp - không phải là nằng chiều, mà tôi cho là ánh sáng bình minh. Tôi cho rằng bức tranh của Bạn toát lên vẻ yên tĩnh và đẹp vì cái màu ánh sáng tươi vui đó. Cho nên theo tôi , tôi đặt tên cho bức tranh đó là " Vươn Vai".
Xin góp một ý của người xem tranh.
Thân
Nqm

Minh thân,
Có người đề nghị đặt tên là "Ráng Chiều" để nhấn mạnh đến cái ánh sáng rực rỡ trong bức tranh, như bạn đã chú ý tới. Qua kinh nghiệm sống nhiều năm ở đây, xin được đồng ý với bạn buổi chiều đông ít khi gặp ánh sánh mạnh như thế. Đại đa số buổi chiều ánh sáng rất yếu, hoặc trời lù mù trong mùa đông. Chỉ rất hoạ huần mới gặp được ánh sáng như thế này. Ánh sáng này chỉ xuất hiện khi: 1- Trời rất trong, không mây và 2- Ngay trước mặt có mưa tuyết thật nhẹ như kiểu mưa bụi ở VN ta, và chỉ mưa ở chỗ đó thôi. Ngoài ra người cầm cọ nào cũng có đôi chút cường điệu, để bức họa trờ thành một giấc mơ, vì thực tế thường là chán ngán.
Quý mến
A.C.La

Sunday, January 10, 2010

Canh Dần: Tuyết Nhung gửi Lãm Thúy

TẠ NGƯỜI TRI ÂM
Không dao kéo, không gây mê
Chỉ ngòi bút lượn đủ tê điếng rồi
Dõi theo giòng chữ, Trời ơi!
Rùng rùng máu cuộn dập dồi trái tim
Vỗ về dĩ vãng ngủ yên
Đừng chao động nữa, muộn phiền thêm thôi
Con Nô Lệ mím môi cười
Khép hai mắt lại, tạ người tri âm
Lãm Thúy quý mến,

Dù trúng hay trât, mình cũng cứ tặng thêm một danh hiệu mới “Bác Sĩ Tâm Lý” cho Lãm Thúy, đa tài đa năng.
Con Nô Lệ được (bị) lôi lên bàn mổ, tuy vết thương lòng đã chai từ lâu, chừ thì Lãm Thúy sẽ không còn phải bận tâm, bận trí nữa là cái chắc. Con Nô Lệ hết quậy rồi !
Cố nuốt liều thuốc, mày chau
Lòng như cảm thấy niềm đau ngọt ngào.
Gởi đến Lãm Thúy bài thơ vui ni, để chứng minh là bây chừ Lão Bà đã an phận.


QUÂY TÔI VÀO VÒNG
Đời tôi bốn Cọp vây quanh
Giáp Dần cọp Mẹ, Mậu Dần Phu Quân
Con gái Út, cũng Giáp Dần
Thêm thằng Cháu Nội Mậu Dần Đích Tôn
Bốn mươi năm trước ru con
Bây giờ sáu mốt hãy còn à ơi!
Cọp Mẹ nay đã về trời
Vẫn còn ba cọp quây tôi vào vòng


Thiệt là tội nghiệp cho lão bà qúa chừng, Lãm Thúy hỉ?..Hì, hì…

Mong có ngày gặp mặt
Dương Thị Tuyết Nhung

Saturday, January 09, 2010

Tin ngắn đáng chú ý

Tình hình thất nghiệp tại Hoa kỳ:

Văn phòng Thống kê Lao động hôm thứ Sáu cho hay số người thất nghiệp từ 27 tuần hoặc lâu hơn đạt tới 6.1 triệu người, tức 40% tổng số 15. 3 triệu người thất nghiệp. Đây là con số cao nhất kể từ năm 1948. Hiện nay trung bình thất nghiệp 20.5 tuần mới kiếm lại được việc làm, lâu gấp đôi thời kỳ suy thoái 1982 - 83. Nhiều người thất nghiệp lâu dài là những người lớn tuổi, tuy cũng có một số rất trẻ bị sa thải lần đầu. Môt con số đáng kể không tốt nghiệp trường chuyên môn. tuy một số nhỏ cùng có bằng chuyên môn. Nhiều người chán nản không hy vọng kiếm được việc lại.

Mã Lai: tên gọi Thượng Đế cũng bị tranh dành.

Ba ngôi giáo đường bi nổ bom xăng sáng sớm Thứ Sáu giữa tình hình căng thẳng tôn giáo. nhân một phán quyết của tòa án cho phép một tờ báo Công giáo dùng chữ Allah để chỉ Chúa Trời, từ này theo người Công giáo họ đã thường dùng lâu nay.

Hồng Kông: Con trời chơi trò quái ác

30 người trong đó chín du khách và một em bé đã bị thương vì bị tạt át-xít trên một đường phố đông đúc ở Hồng Kông. Từ tháng 12 năm 2008 đến nay đã có khoảng 100 người bi thương vì những chai át-xít thẩy từ những cao ốc xuống chỗ đông người. Cảnh sát treo giá 190.000 Mỹ kim thưởng những tin tức hữu ích về những vụ tấn công này.

(Trích dịch từ Financial Times , và BBC)

Friday, January 08, 2010

Sài Gòn

Khung cảnh cuối Vương cung Thánh đường Sài Gòn
11.09, A.C.La

Thơ Ý Nga


AI ĐÓI, AI NO?

Bao triệu triệu dân

Không no, chỉ đói
Đảng viên… dư phần
Tha hồ mà… nói:

“Hạnh phúc, ấm no,
Thanh bình, độc lập,

Dân chủ, tự do…!”
Càng nói càng… mập!

Đầu năm hay cuối
Cũng vậy vậy thôi
Người bệnh trăn trối,
Người đói khua nồi.

Cuối năm hay đầu
Cũng cùm, cũng xích!
Việt Nam về đâu,
Không người truyền HỊCH?

Ý Nga.

Wednesday, January 06, 2010

Bò trắng răng

Mona Lisa bị high cholesterol!

Nhiều thế kỷ nay cái cười bí hiểm của Mona Lisa khiến các sử gia nghệ thuật lúng túng, thế nhưng có một bác sỹ cho rằng lượng cô-lét-tê-rôn cao của nàng mới là chuyện đáng ngại hơn. Theo Bs. Vito Franco, Palermo University, thì có dấu hiệu cho thấy acít béo tích lũy dưới làn da vi lượng cô-lét-tê-rôn quá cao. Bác sỹ (ế khách) này còn khám phá ra ở mắt phải của Mona Lisa có bướu mỡ. (D.Đ)

Tối khẩn: ĐS 14 chú ý!!!



Alô! Alô!!
Đốc Sự 14 họp mặt


Nay đã đến lúc các bạn già chúng ta rục rịch chuẩn bị họp mặt. Vừa rồi vợ chồng Huỳnh văn Quế có nhã ý mời các anh chị ĐS14 đến họp mặt tại nhà họ vào trưa ngày 27 tháng 2 dương lịch, lúc 2:00 PM, một ngày trước đại hội QGHC Nam California.

Anh Trương an Ninh lo gởi thư mời đến tất cả các anh chị, nhưng vì computer của Ninh, vì chạy nhanh quá nóng máy đã bị hỏng. Do đó tớ được lịnh phải email cho bạn già, nhờ bạn thông báo tin họp mặt này trên Diễn Đàn ĐS.

Bạn và cháu gái có khoẻ không? Năm nay có 3 events trong cùng một ngày 14/2/2010: Olympic, Tết và Valentine phải không? Chúc Vĩnh và gia đình một năm mới sức khoẻ và vạn sự may mắn.

Mong sẽ có dịp gặp lại các bạn già.
Tín
**
*

Cháu gái nào? Tớ có hai đứa lận (và một thằng con trai). Mới nhận được thư Phạm Thành Châu cho biết hắn và bà xã sẽ qua Cali chơi vào tháng Ba. Tín thử liên lạc với hắn xem sao. Vĩnh

Truyện ngắn

Sau khi chiếm được nam Việt Nam, năm 1975, Cộng Sản miền Bắc lùa số lớn công chức, quân nhân, đảng viên các đảng phái quốc gia, các nhà tu hành của các tôn giáo miền Nam, ra Bắc "khổ sai biệt xứ". Liên Xô có Xi-bê-ri thì Việt Nam có vùng núi non Tây Bắc khắc nghiệt, tuy không lạnh bằng Xi-bê-ri nhưng cũng đủ cho tù chết dần. Chết vì lạnh, vì đói, vì lao động kiệt sức và vì bịnh mà không có thuốc chữa.

Thông thường, tù phải tự đốn cây, cắt tranh làm lán cho mình ở, phải phá rừng, làm rẫy trồng trọt khoai củ nuôi thân. Nhà nước Cộng Sản không phải tốn phí nuôi tù cải tạo. Ban ngày tù vào rừng lao động, chiều về, vào lán, cán bộ coi tù khóa cửa lại, sáng hôm sau, mở cửa cho tù đi lao động tiếp.
Mấy năm đầu, tù chết quá nhiều nên chính quyền Cộng Sản Việt Nam cho thân nhân tù được gửi thuốc, áo quần (giới hạn) bằng đường bưu điện, về sau được thăm nuôi, nghĩa là được gặp mặt tù và tiếp tế lương thực, mùng mền, thuốc men...giúp tù chịu đựng, tiếp tục khai phá núi rừng và chết chậm hơn.
Trong chuyện nầy, tôi không kể về những sinh hoạt trong nhà tù mà kể về một anh bạn tù nằm cạnh tôi.
Anh Hùng, (nằm cạnh tôi) là người ít nói nhưng thường quan tâm đến người khác. Buổi tối, vào lán, thấy ai có vẻ trầm tư, suy nghĩ, là anh sà đến, nói huyên thiên những chuyện trên trời dưới đất, chuyện nào cũng khiến người nghe bật cười. Thế là người bạn đó bớt buồn. Khi quay về, anh bảo tôi
- Khá rồi! Lo buồn làm mình suy sụp nhanh nhất. Nhanh hơn cả bịnh hoạn. Chỉ cần mất ngủ vài ba đêm là không đủ sức gượng dậy.
Ai cũng biết điều đó, nhưng rất khó vượt qua, nhất là những người không được thăm nuôi, thậm chí không nhận được thư của thân nhân gửi vào. Họ được gọi là "con bà xơ" (nữ tu), ý nói là con hoang trong trại mồ côi do các bà xơ (soeurs) nuôi dưỡng. Các tù nhân con bà xơ nầy, mỗi khi thấy người nào ra thăm thân nhân, đem đồ tiếp tế vào là họ tránh chỗ khác, tìm những người cùng hoàn cảnh (không có thăm nuôi) mà chuyện trò, ăn mấy củ khoai, củ sắn với nhau. Được tặng thức ăn (thăm nuôi) họ có thể nhận một lần, lần sau thì từ chối.
- Xin cám ơn anh, tôi nhận thì không có gì tặng lại. Anh thông cảm cho tôi. Xin giữ lấy.
Trong tù, chỉ nghĩ đến miếng thịt, cây kẹo cũng đủ chảy nước miếng, vì cơ thể quá cần, nhưng nhận chút thực phẩm của bạn cho, lấy gì trả lại?
Tôi với anh Hùng, may mắn, được vợ thăm nuôi, dù cả năm chỉ được một lần và chỉ được một xách nhỏ. Một gói đường tán đen, gói cá khô, ít đậu và gạo, ít thuốc men, chỉ vậy thôi, vì tiền xe cộ đi hàng nghìn cây số (từ miền Nam ra núi rừng tây bắc), ăn uống dọc đường...hết cả! Chúng tôi nghèo quá, nhưng vợ chồng gặp mặt nhau là may rồi. Tôi mừng, nhưng anh Hùng lại mừng hơn. Lần thăm nuôi nào anh cũng bảo.
- Đây là lần chót!
Thế nên, mỗi khi được gọi tên ra gặp thân nhân thì anh ngạc nhiên.
- Ai thăm tôi? Bà cụ thì quá yếu, không đi nổi!
Tôi cười bảo.
- Không phải vợ thì ai vào đây?
Theo vợ tôi kể, trong một lá thư gửi cho tôi, chỉ một lần vợ tôi cùng đi thăm nuôi với vợ anh Hùng mà hai người thành bạn thân. Cả hai đều ở trong một con hẻm vùng Đa Kao lại có chồng là bạn nằm cạnh nhau trong tù, cùng hoàn cảnh nên hai người đàn bà thương nhau, thường giúp đỡ nhau trong việc buôn bán mưu sinh.
Vì thấy anh vui hơi quá đáng mỗi khi được thăm nuôi nên tôi tò mò, cố tìm hiểu vì sao? Đúng ra, trong tù không nên biết chuyện gia đình người khác, nếu người đó không tự ý kể ra. Tôi không nhớ mình đã gợi ý cách nào khiến cho anh Hùng kể chuyện vợ con của anh.
Anh kể như sau.
- Tôi là con trai độc nhất của bà cụ tôi. Đúng hơn, tôi là độc đinh của cả giòng họ nhà tôi. Nếu mẹ tôi không sinh ra tôi thì coi như họ Hoàng Đắc của tôi tuyệt tự. Mẹ tôi săn sóc, chăm lo cho tôi, vì tình thương mà cũng vì trách nhiệm bên nhà chồng giao phó, là phải có người thừa tự, lo nhang khói, cúng giỗ để vong linh ông bà, tổ tiên khỏi bơ vơ, thành ma đói, ma khát, vất vưỡng trong cõi u minh. Thế nên, khi tôi vừa xong tú tài là mẹ tôi lo tìm vợ cho tôi, vì bà sợ tôi vào quân đội, không biết chết lúc nào, sẽ không kịp có con trai để nối dõi tông đường. Tôi thì không để ý đến chuyện đó. Ngay trong thời đi học, bạn bè yêu cô nầy, cô kia, tôi chỉ biết bài vở và các môn thể thao như đá banh, học võ...Đến khi thi xong tú tài một, tôi tình nguyện đi sĩ quan Thủ Đức. Mẹ tôi, thời trẻ là đảng viên một đảng phái Quốc Gia, thông hiểu tình hình đất nước, bà cụ bảo tôi "Khi tổ quốc lâm nguy, làm con dân phải có bổn phận cùng với mọi người bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào. Những tên trốn lính, sống chui, sống nhủi chỉ thêm nhục. Nhưng con phải lấy vợ, sinh con trai để sau nầy lo nhang khói cho ông bà, tổ tiên". Mẹ tôi hỏi tôi có để ý cô nào chưa? Tôi thưa rằng "Mẹ xem cô nào vừa ý mẹ thì cưới cho con chứ con không có người yêu". Mẹ tôi đến nhà các bà bạn, ngắm nghía cô nầy, dọ hỏi cô kia, cuối cùng bà chọn được một cô. Mẹ tôi nhờ người mai mối, gia đình cô ta đồng ý ngay. Để tôi được gặp cô gái, mẹ tôi mua một ít trái cây, sai tôi đem đến biếu gia đình cô ta. Hình như cô gái không biết có sự xếp đặt giữa hai gia đình nên cô ta tiếp tôi rất hồn nhiên, vô tư như với bạn bè. Tôi thấy cô cũng xinh, hiền lành, vui vẻ nên về thưa với mẹ tôi rằng "Mẹ thấy vừa ý thì con xin vâng lời". Quả thật, cô gái hoàn toàn không biết gì về việc cô sẽ là vợ tôi. Trước ngày tôi vào quân trường, hai gia đình muốn tổ chức lễ hỏi, cưới luôn một lần. Lúc đó, cô gái mới được thông báo. Cô ta phản đối quyết liệt. Hóa ra cô đã có người yêu.
Sau nầy tôi mới biết, người cô yêu là một nhà thơ. Anh chàng có dị tật ở chân nên anh ta khỏi phải đi lính. Nhờ thế anh ta yên tâm vui chơi và ăn bám gia đình. Hết làm thơ đăng báo tán tỉnh cô nầy, cô kia thì la cà các quán cà phê, quán nhậu. Con gái mới lớn, cô nào cũng mơ mộng. Anh chàng thi sĩ nầy làm thơ ca tụng, tỏ tình với cô vợ tương lai của tôi thì chẳng khác gì bỏ bùa cô ta. Cô ta yêu mê mệt chàng thi sĩ, quyết cùng chàng "Một túp lều tranh hai quả tim vàng". Bất ngờ cô bị ép phải lấy tôi làm chồng. Cô tuyên bố thẳng thừng với cha mẹ rằng cô ta sẽ trốn đi với chàng thi sĩ, nếu không trốn được mà bị ép duyên, cô ta sẽ uống thuốc rầy tự tử. Gia đình cô ta hình như có xích mích gì đó với gia đình "nhà thơ" nên không muốn làm sui gia với họ. Thế nên bà mẹ mới bảo với con gái rằng "Mầy muốn trốn theo trai thì cứ trốn đi, nhưng không được theo thằng chó chết của nhà đó. Nếu mầy theo nó, thì nhớ ba ngày sau quay về dự đám ma tao. Còn mầy muốn tự tử thì tao mua cho mầy chai thuốc rầy, nhưng uống nửa chai thôi, để một nửa cho tao. Nuôi mầy khôn lớn để mầy làm nhục cha mẹ..." Lời tuyên bố đó khiến cô gái không còn lựa chọn nào khác. Thế nên, trước ngày cưới, cô ta hẹn tôi ra một quán nước.
Sáng đó, chúng tôi gặp nhau. Tôi ngồi đối diện. Quán vắng người nên cô ta chẳng cần giữ lời, tấn công tôi ngay "Tôi và anh không hề quen biết nhau, không thù oán nhau, tại sao anh cố tình phá vỡ tình yêu của chúng tôi? Anh có biết, vợ chồng không có tình yêu mà sống với nhau là sống trong địa ngục không?" Tôi trả lời "Đây là chuyện hai gia đình với nhau. Cô không bằng lòng lấy tôi thì cứ nói thẳng với ba mẹ cô hoặc nói với mẹ tôi. Tôi không có ý kiến. Tôi không cần vợ, nhưng mẹ tôi cần có cháu nội trai để nối dõi tông đường. Tôi sẽ vào quân đội. Chiến tranh rất ác liệt. Đời lính chiến, hành quân liên miên, cưới cô về, được bao nhiêu lần chúng ta gặp nhau? Để có con, còn khó hơn. Và có thể một ngày, một tuần, một tháng sau đó, tôi tử trận. Cô sẽ thành quả phụ. Nhanh lắm. Tôi nói sự thật để cô đủ lý do từ chối việc cầu hôn của tôi" Cô yên lặng lắng nghe. Tôi cũng suy nghĩ, lựa lời một lúc mới nói tiếp "Nếu bị ép duyên, và nếu không còn con đường nào khác để làm vui lòng cha mẹ cô, cô nên lấy tôi. Vì sau khi ra trường sĩ quan, tôi sẽ chọn binh chủng tác chiến, tôi sẽ leo lên bàn thờ nhanh lắm. Khi tôi chết rồi, gia đình cô không còn quyền cấm cô về sống với người cô yêu. Mà dù tôi chưa tử trận, khó khăn của tôi vẫn là phải có con trai cho mẹ tôi an tâm. Tôi đề nghị thế nầy. Sau khi là vợ tôi, dĩ nhiên là tôi đi hành quân, đâu có về nhà thường xuyên được... Cô cứ hẹn hò với người yêu, miễn sao đừng cho thiên hạ biết, khi nào có bầu, cô ra đơn vị tìm tôi rồi quay về nhà. Mục đích để hợp thức hóa đứa bé trong bụng cô. Tôi sẽ không ghen tương gì mà mẹ tôi lại mừng vì đã làm tròn bổn phận đối với gia tộc tôi..." Chưa nghe hết câu, cô chồm qua bàn, thẳng tay tát tôi một tát tai, nảy đom đóm mắt "Tôi cấm anh không được nhục mạ tôi theo lối nói vô học đó. Anh xem tôi là hạng người gì?.." Rồi cô ôm mặt, gục xuống bàn khóc nức nở. Cô khóc to, như rống lên rồi lấy khăn bịt miệng mình lại để tự kềm chế. Tôi kinh hoàng, vội qua ngồi cạnh cô, lắp bắp "Tôi xin lỗi! Tôi xin lỗi! Cô tha thứ cho tôi" Tôi định choàng tay qua vai cô để vỗ về thì cô xô mạnh tôi ra, khiến tôi suýt ngã ngữa. Cô cứ cúi đầu thút thít mãi. Tôi chán nản, nghĩ rằng, tốt nhất về thưa với mẹ tôi rút lui vụ cưới hỏi nầy để khỏi rắc rối, có khi gây oán thù với cô ta và cả người tình của cô nữa. Tôi đứng lên, đến quày trả tiền. Cô chủ quán hỏi tôi "Có chuyện gì vậy?" Tôi lắc đầu, quay lại bàn nước, ngồi cạnh cô để tránh tia mắt cô đang nhìn đăm đăm phía trước như người xuất hồn. Tôi nói "Tôi đã hiểu cô, đã biết mối tình của cô. Xin cô yên tâm. Tôi sẽ báo cho mẹ tôi hủy bỏ vụ nầy. Cô được tự do". Tôi định đứng lên thì cô ra dấu tôi ngồi xuống. Cô nói mà không nhìn tôi "Anh chẳng có lỗi gì trong chuyện nầy. Gia đình tôi nhất quyết gả tôi cho người khác. Ai cũng được, ngoại trừ người tôi yêu" Rồi cô quay nhìn tôi, mắt long lên, môi mím lại "Tôi đồng ý lấy anh. Nhưng tôi cho anh biết. Anh chiếm đoạt được trinh tiết của tôi, chiếm đoạt được thân xác tôi nhưng không thể chiếm đoạt được trái tim tôi. Đừng hi vọng tôi sẽ thương yêu anh. Tôi không thù anh, nhưng tôi không thể yêu thương ai ngoài người tôi yêu. Tôi cũng cho anh biết trước rằng, về làm vợ anh, dù đến mãn đời, tôi thề sẽ không bao giờ nói tiếng yêu thương với anh, không bao giờ hôn anh. Mong anh cũng làm như thế" Tôi giận sôi gan, nhưng cố bình tĩnh "Tôi sẽ giữ lời. Tôi thề sẽ không nói thương yêu với cô, không hôn cô, vì tôi biết chúng ta chẳng hề yêu thương nhau. Tôi cũng yêu cầu cô nhớ lời thề đó. Sau nầy, nếu tôi tử trận, xin cô đừng giả vờ khóc, vì tôi biết đó là ngày vui của cô, ngày cô được giải thoát để về với người cô yêu. Không cưới cô thì mẹ tôi cũng tìm một cô khác cho tôi. Từ hôm nay cho đến tuần sau, cô có thể báo cho mẹ tôi biết quyết định của cô. Mà dù đã là vợ tôi, cô vẫn tự do. Cô có thể gặp người yêu của cô bất cứ lúc nào, chỉ mong cô cố gắng cho mẹ tôi một đứa cháu trai. Xin cô giúp tôi" Kể đến đấy anh ta hỏi tôi "Nếu vào trường hợp tôi, anh sẽ nghĩ sao? Chúng tôi có ba mặt con với nhau, nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng cô ta còn lưu lại trong gia đình tôi cho đến ngày tôi vô tù như hôm nay" Anh quay ra sau, lục trong xách nhỏ, lấy ra mấy tấm hình, trao cho tôi "Anh nhìn xem, mấy đứa nhỏ nầy giống ai?" Tôi nhìn và nói ngay "Giống anh chứ giống ai? Con anh phải không? Hai thằng nhỏ nầy là anh em sinh đôi?" Anh trầm tư "Để tôi dài dòng một chút. Trước khi vào quân trường, tôi cưới vợ. Khi còn đang thụ huấn trong Thủ Đức, được tin vợ sinh, tôi về phép, vào nhà bảo sanh. Vợ tôi sinh con gái. Tôi ôm đứa bé vào lòng. Lúc đó, tôi không thắc mắc, ai là tác giả của sinh vật bé bỏng đó, nhưng không hiểu sao, tôi thương nó quá. Tôi ngắm nghía nó, hôn nó, thì thầm với nó mà quên cả chung quanh. Lúc đặt con xuống bên cạnh vợ, cô ta nắm lấy bàn tay tôi, nhìn tôi, nước mắt ứa ra. Cô ta khóc. Tôi hiểu ý nên nói "Xin lỗi! Nhưng tôi thương nó. Lần sau, cố giúp tôi một thằng con trai..." Tôi ngắt lời anh "Bộ hai người xưng tôi chứ không anh em gì cả sao?" "Cô thì xưng em với tôi, còn tôi, khi chán nản hoặc chỉ có hai người, tôi xưng "tôi" và nói trống không. Khi có người thứ ba thì tôi "anh, em" như vợ chồng bình thường... Sau đó, cô sinh đôi, hai thằng con trai. Khi tôi đi tù thì hai thằng con được gần hai tuổi.
- Hai anh chị thề thốt với nhau rằng sẽ không hôn, không nói tiếng yêu thương với nhau, rồi có giữ lời không?
- Tôi có vợ mà tâm lý không giống những ông khác. Tôi chỉ làm bổn phận. Tôi đâu cần tình yêu mới làm chuyện vợ chồng được. Khi cô ta vừa sinh hai thằng con trai, tôi dự định, hễ hai đứa nhỏ cứng cáp thì tôi sẽ nói với cô rằng muốn li dị thì tôi ký tên ngay để cô được tự do, nhưng tôi chưa kịp nói thì đi tù. Thế nên, mỗi khi tôi được gọi ra thăm nuôi, anh thường nghe tôi tự hỏi "Ai thăm nuôi mình?" vì tôi cứ đinh ninh là cô ta đã bỏ tôi để về với người tình, để khỏi nuôi mấy đứa nhỏ, khỏi nuôi mẹ tôi, khỏi thăm nuôi tôi.
- Anh có thể nói thật tình cảm của anh đối với vợ anh cho tôi nghe được không? Anh có thương vợ không?
Anh trầm ngâm.
- Chỉ sau nầy, khi tôi vào tù, cô ta không bỏ chúng tôi, lại phải vất vả, bương chải để nuôi sống bao nhiêu người trong gia đình tôi, tôi mới nghĩ rằng cô là vợ tôi. Nếu chúng tôi có yêu nhau trước đó thì sự hi sinh của cô ta còn có chút ý nghĩa. Đằng nầy...Không ai có thể bắt cô phải cưu mang chúng tôi. Đó là sự bất công. Trước kia, tôi không màng đến ý nghĩ, tình cảm của vợ tôi. Chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Đúng ra là không có dịp. Tôi hành quân liên miên, vài ba tháng về phép một lần. Hai mươi bốn giờ phép mà gần tối mới về đến nhà, sáng sớm lại phải ra đơn vị. Vả lại, tôi thương các con tôi lắm. Vừa bước vô nhà, chào mẹ tôi xong là tôi quấn quít với con, hôn hít đứa nầy, bồng ẵm đứa kia, đưa chúng ra đường mua quà, kẹo bánh. Lần nào về phép tôi cũng ôm con mà cứ nghĩ rằng, đây là lần cuối mình được gần các con. Ra trận, đạn như vãi trấu, bạn bè, đồng đội tôi ngã xuống ngay bên cạnh. Trước sau gì cũng đến lượt mình. Còn vợ tôi, tôi cảm tưởng như giữa hai đứa có một bức tường vô hình ngăn cách, và cô ta, sinh con xong, bồng nó, đưa qua bức tường vô hình đó, trao cho tôi. Chúng là con tôi. Vì ám ảnh đó mà mọi sự săn sóc, lo lắng của cô dành cho tôi, tôi tưởng như của một cô bạn gái cùng lớp giúp bạn trong một buổi đi chơi chung ngoài trời, vậy thôi. Mỗi khi tôi về phép, thấy tôi bước vào nhà là cô vội lo nước nôi, khăn tắm, áo quần để sẵn đó rồi chạy ra chợ mua thức ăn, chạy về, chui vào bếp, nấu nướng, dọn lên. Ăn xong, lại dọn rửa, rồi giặt giũ áo quần cho tôi, phơi phóng, sắp xếp, chuẩn bị mọi thứ trong xách để sáng sớm là tôi chỉ việc đeo lên vai, về đơn vị. Cô xoay tròn như chong chóng. Tôi thì tắm con, đút cơm cho chúng, rồi chơi đùa, kể chuyện cho chúng nghe, ru chúng ngủ, không màng đến vợ, không nhìn đến mẹ. Người ngoài nhìn vô, đó là một gia đình bình thường. Mẹ tôi thì vui lắm, cứ khen con dâu ngoan hiền. Bà cụ không biết dĩ vãng của cô, cũng không thấy những đợt sóng ngầm đang kiên trì, thì thầm gọi cô thoát ly.
Bây giờ, ở tù kiểu nầy thì chỉ có chết hoặc mục xương trong tù vì chẳng ai biết ngày về. Cái chết đối với thằng lính chiến như tôi thì sá gì, nhưng tôi thương các con quá, chỉ mong được về để lo cho chúng và săn sóc vợ tôi để đền đáp bao khổ nhọc mà cô ta đã phải chịu đựng.
Từ khi nghe anh Hùng kể chuyện gia đình, tôi cũng đâm ra hồi hộp mỗi khi nghe tên anh ta được gọi ra thăm nuôi. Tôi tưởng tượng mẹ anh Hùng hoặc bà cụ nhờ một người nào đó gặp anh và báo tin rằng vợ anh đã bỏ đi lấy chồng rồi. Nhưng lần nào cũng là chị ta. Lần đầu được giới thiệu là vợ anh Hùng, tôi thấy chị ta, tuy đen và ốm, xác xơ vì sinh kế nhưng còn phảng phất những nét thanh tú và quí phái. Chị ta, thời trẻ, ắt đã làm bao trái tim bọn con trai xao xuyến.
Mỗi lần ra thăm nuôi, anh Hùng, tôi và vài người tù ngồi một bên chiếc bàn dài, đối diện (bên kia bàn) là thân nhân của tù. Đầu bàn có một công an ngồi theo dõi, lắng nghe tù và thân nhân chuyện trò. Tù chỉ có mười lăm phút gặp người thân nên ai cũng cố nói thật nhiều, hỏi thật nhiều những điều cần thiết. Tôi cũng gấp rút chuyện trò với vợ nhưng cũng để ý xem vợ chồng anh Hùng có gì khác thường không? Hình như anh Hùng không nhìn vợ mà hơi cúi xuống vẻ đắn đo, suy nghĩ. Trái lại chị vợ ngồi nhìn chồng đăm đăm như thôi miên anh ta.
Thông thường, trong lúc gặp gỡ, người vợ để bàn tay bên hông của giỏ quà thăm nuôi, phía khuất tia nhìn của công an, người chồng biết ý sẽ để bàn tay mình lên bàn tay vợ, bóp nhẹ. Bao nhiêu năm xa cách, chỉ cần chạm nhẹ hai bàn tay với nhau cũng đủ cho vợ chồng ngây ngất, rung động cả thể xác và tâm hồn. Giây phút đó quí giá hơn bao nhiêu lần ôm ấp nhau mà vợ chồng đã trải qua. Vợ anh Hùng cũng để tay bên giỏ thăm nuôi. Anh Hùng chỉ đụng rất nhẹ vào tay vợ, như vô tình rồi rút tay về. Chị ta vẫn để yên bàn tay và chờ đợi. Anh Hùng lại đụng nhẹ tay vợ lần nữa, rồi lại rút về. Cả hai yên lặng. Rồi hình như anh nói nho nhỏ gì đó với vợ.
Thời gian thăm gặp qua rất nhanh. Lúc chia tay, anh Hùng xách gói quà thăm nuôi đi thẳng mà không ngoái nhìn người thân như các tù nhân khác.
Chúng tôi ở tù trên mười năm nhưng chỉ ở chung lán trại hơn ba năm, sau đó bị phân tán đi các trại tù khác. Dù vậy, tình bạn giữa chúng tôi đã như ruột thịt. Bảy năm sau, chúng tôi mới gặp lại nhau ở trại tù Z 30, Xuân Lộc. Sau đó, chúng tôi cùng ra tù một lần, vào năm 1986.
Chúng tôi, hai thằng tù trung niên mà trông đã hom hem. Tóc đã có sợi bạc, chân tay như những khúc xương khô. Vợ tôi và vợ anh Hùng, sau mười năm vất vả, cũng đã là hai chị nạ dòng đen thui, đầu tóc, áo quần tả tơi vì suốt ngày lê lết đầu đường xó chợ. Hai người mua đi bán lại từng đôi giày cũ, áo quần cũ, răng vàng bạc vụn, đồng hồ hư, radio hư...Nghĩa là ai bán gì cũng mua, ai mua gì cũng có.
Thời bấy giờ, tù về xã hội chỉ làm được các nghề chân tay như đạp xích lô, bán vé số, vá xe đạp...Tôi và anh Hùng, mỗi người một chiếc bàn con, mỗi cạnh hai gang tay, đặt bên lề đường, ngồi bán vé số, kiếm tiền phụ với vợ mua gạo. Lúc đó vợ tôi và vợ anh Hùng mới lấy lại chút bình tĩnh, không còn lo thất sắc mỗi ngày vì lũ con đói.
Đầu thập niên 1990, có chương trình tù cải tạo được đi Mỹ. Gia đình tôi và gia đình anh Hùng đến cùng tiểu bang Virginia nhưng khác thành phố, cách nhau hơn hai giờ lái xe. Bước chân đến xứ người với hai bàn tay trắng, chúng tôi phải làm gấp đôi người khác, vì lao động chân tay, lương hướng chẳng bao nhiêu. Sáng sớm đã ra khỏi nhà, khuya mới về. Chúng tôi chỉ gọi điện thoại trò chuyện, hỏi han nhau mà thôi. Tôi không còn để ý đến chuyện xưa của vợ chồng anh Hùng, cũng không bao giờ kể cho vợ tôi nghe. Đàn bà bép xép, một chuyện kỳ lạ như thế thì không bà nào để yên trong bụng được.
Hơn bảy năm ở xứ Mỹ, vài đứa con của gia đình tôi và gia đình anh Hùng đã tốt nghiệp đại học, có việc làm, phụ với cha mẹ lo cho các em nên chúng tôi đã bớt giờ làm việc, có dịp thăm viếng nhau. Bao nhiêu năm mới gặp lại, thấy anh Hùng khỏe mạnh, hồng hào hơn trước, chị vợ cũng mập tròn, mặt mũi tươi rói, gặp lại vợ tôi như gặp cố nhân, hai người tíu tít hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Nơi xứ người bơ vơ nên chúng tôi coi nhau như anh em một nhà.
Đột nhiên, một buổi tối, khoảng mười giờ, điện thoại reo, vợ tôi bắt máy rồi la lên.
- Sao? Chị nói sao? Anh Hùng bị gì mà đưa vô bịnh viện cấp cứu? Chị nói chuyện với ông xã em. Em run quá!
Vợ tôi đưa điện thoại cho tôi.
- A lô! Anh Hùng bị gì vậy chị?
Bên kia đầu giây, giọng vợ anh Hùng hốt hoảng.
- Không hiểu sao. Ăn tối xong ảnh ngồi xem TV. Thình lình, ảnh kêu "Đau đầu quá!" rồi gục xuống bất tỉnh. Em gọi xe cứu thương đến đưa vô bịnh viện. Hiện em đang ở phòng cấp cứu. Ảnh chưa tỉnh. Em rối trí quá! Không biết mình phải làm gì đây?
- Chị báo cho sắp nhỏ biết chưa?
- Dạ rồi. Nhưng đứa gần nhất cũng phải năm giờ lái xe, đứa ở xa, sáng mai mới đi máy bay về.
- Ảnh không sao đâu. Chị bình tỉnh. Đưa vô bịnh viện là yên tâm.Tụi tôi sẽ đến ngay bây giờ. Lên xe, chúng tôi sẽ nói chuyện sau. Nhớ là phải bình tỉnh. Hai giờ nữa chúng tôi sẽ đến bịnh viện.
Ban đêm, xa lộ 95 không đến nỗi kẹt xe. Từ Richmond hướng về thành phố Falls Church, phía bắc tiểu bang, gần hai giờ, chúng tôi đã có mặt tại bịnh viện. Bịnh viện về đêm thật yên tĩnh. Theo sự hướng dẫn của nhân viên trực, chúng tôi đi rất nhẹ dọc hành lang để tìm phòng hồi sức.
Anh Hùng nằm trên giường với đủ thứ dây nhợ, ống trợ thở nối với dàn máy sát tường. Một cái máy điện tâm đồ với lằn sóng xanh chạy đều đều, yếu ớt. Chị Hùng quì bên cạnh, nắm tay chồng, thì thầm.
- Anh cố gắng nghe em nói. Em chỉ nói một câu thôi. Em không nói được cho anh nghe thì em đau khổ suốt đời, ân hận suốt đời. Anh có thương em không? Thương em thì nghe em nói. Nghe anh! Tội nghiệp em mà anh...
Chúng tôi đứng bên cạnh mà chị vẫn không hay biết. Vợ tôi cúi xuống vỗ nhẹ vai chị, chị quay lại, đứng lên, ôm vợ tôi, nước mắt trào ra.
- Ảnh không nghe em nói! Ảnh không biết gì nữa. Sao em ngu quá? Không nói khi ảnh còn khỏe mạnh. Mà thình lình, ảnh bị như vầy...
Chị nói lảm nhảm như người mất trí. Vợ tôi không hiểu gì cả nhưng vẫn vỗ về, nhỏ nhẹ.
- Ảnh không sao đâu. Em biết, nhiều người bị như vậy, sẽ tỉnh lại. Chị đừng lo. Bác sĩ nói sao?
- Bác sĩ nói ảnh bị xuất huyết não, đang chuẩn bị, sẽ mổ ngay. Em sợ, người ta mổ rồi ảnh đi luôn. Em mà không nói được cho ảnh nghe, chắc em chết theo để linh hồn em được gặp ảnh, nói mấy lời...
Vợ tôi lại nhìn tôi, không hiểu chuyện gì quan trọng, khẩn cấp đến độ phải nói ra cho người sắp chết nghe. Đáng ra, chính người bịnh mới cần trăn trối trước khi từ giả cõi đời. Vợ tôi, biết rằng chuyện gia đình người ta, không nên tò mò, chỉ trấn an.
- Sáng mai, mổ xong là ảnh tỉnh dậy, sẽ nghe chị nói. Chị yên tâm. Bình tỉnh mà chuẩn bị tinh thần, cầu xin Trời Phật phù hộ ảnh tai qua nạn khỏi.
Nhưng chị ta như không nghe, cứ lảm nhảm.
- Bao yêu thương, săn sóc ảnh giành cho em, em hiểu, em đón nhận, nhưng sao em ngu quá, không nói cho ảnh biết em yêu thương ảnh...
Vợ tôi ngớ ra, tưởng chị điên thật rồi. Vợ chồng yêu thương nhau, đâu cần phải nói ra mới hiểu? Chỉ mình tôi biết điều đó. Tôi nói với chị ta.
- Xin chị bình tỉnh. Tôi sẽ cố giúp chị xem sao. Tôi với anh Hùng thân thiết còn hơn ruột thịt. Hi vọng, tôi nói ảnh sẽ nghe.
Nhìn điện tâm đồ, thấy những gợn sóng rất yếu ớt, tôi biết, có mổ cũng rất ít hi vọng, nhưng tôi tin, sự sống trong anh ta vẫn còn. Tôi ra dấu cho chị Hùng đến bên cạnh rồi cúi sát tai anh, nói chậm rãi.
- Tôi là Nguyễn văn Chánh, bạn anh đây. Chúng ta ở tù chung, khi còn ở bên Việt Nam, anh còn nhớ không? Anh cố gắng nghe tôi nói, một điều rất quan trọng, sẽ giúp anh yên tâm... Nếu anh nghe được, anh chấp nhận, xin anh chuyển động mi mắt hoặc con ngươi của mắt anh. Vợ anh đang đứng bên anh đây. Vợ anh nói rằng, chị chỉ yêu thương một người duy nhất trong đời là anh mà thôi. Anh có nghe không, có chấp nhận không?
Mọi người im lặng, chăm chú nhìn đôi mắt đang nhắm nghiền của anh Hùng. Đột nhiên, đôi mi của anh Hùng chuyển động như muốn mở ra rồi nhắm lại. Tuy rất nhẹ nhưng mọi người đều thấy rõ. Chị Hùng ôm chồng khóc òa lên. Tin rằng anh Hùng có nghe tiếng khóc của vợ nên một lúc sau tôi mới ra dấu cho chị yên lặng, rồi nói vào tai anh Hùng.
- Bây giờ, vợ anh, chị Hùng sẽ nói cho anh nghe. Chị yêu thương anh từ lúc nào. Anh cố gắng nghe vợ anh nói.
Tôi bước lùi cho chị Hùng quì xuống, cúi sát tai chồng và nói, từng tiếng một.
- Anh Hùng. Anh là chồng em. Em yêu thương chỉ một mình anh. Em yêu thương anh suốt đời. Em yêu thương anh từ ngày đầu, từ đêm đầu, từ giây phút đầu em trở thành vợ anh...Em lạy anh. Đừng giận em nghe anh! Xin anh thương em. Em là vợ anh. Tội nghiệp em. Nghe anh!
Nói đến đó thì nghẹn lời, chị đứng lên lùi lại, hai tay để lên ngực, như sợ chồng điều gì nhưng mắt vẫn không rời đôi mắt chồng. Mọi người nín thở chờ đợi. Rồi đôi con ngươi dưới hai mi mắt nhắm nghiền của anh Hùng chuyển động nhẹ, hướng về phía chị Hùng và dừng lại. Tôi nói với chị.
- Anh Hùng đã hiểu chị, đã chấp nhận lời yêu thương của chị.
Bỗng chị Hùng lảo đảo, níu tay vợ tôi rồi ngã quị xuống, bất tỉnh. Vợ tôi đỡ lấy chị, ngồi bệt xuống sàn, ôm chị vào lòng. Tôi bảo vợ.
- Không sao đâu. Bị xúc động mạnh. Để anh đi gọi y tá... Thật ra, là chị ấy đã trăn trối với chồng.

Phạm Thành Châu

Monday, January 04, 2010

Pháo hoa

mừng ngày khai trương cao ốc một tỷ rưỡi Mỹ kim

Dubai

Cao ốc cao nhất thế giới khai trương

Cao ốc cao nhất thế giới sẽ khai trương nằm bên Vịnh Emerate Dubai, United Arab Emerates.

Cao hơn 800 mét (2,625 ft), gồm 26.000 tấm kính, cao ốc Burj Dubai có 160 tầng với hơn 500.000 mét vuông nhà ở và văn phòng làm việc. Kiến trúc này khởi công từ năm 2004, lúc kinh tế đang rộ lên, và nay khai trương vào lúc Dubai gặp khủng hoảng tài chánh. Cao ốc giá một tỷ rưỡi Mỹ kim này chưa rõ chính xác chiều cao nhưng đã vượt rất xa kỷ lục trước đây tức Đài Bắc 101.

Cao ốc còn có mặt nền rộng nhất, thang máy cao nhất, đài quan sát cao nhất nằm ở tầng 124. Đền Hồi giáo và hồ bơi cao nhất sẽ đặt tuần tự ở tầng 158 và 76.
**
*
Bài đọc thêm:
: Dubai crisis



Sunday, January 03, 2010

Thơ


Mái Trường Xưa

Kính gởi Thầy

Ðường Cộng Hoà giữa Xuân trời nắng nhạt
Con đường mòn dẫn bước chốn trường xưa
Gió chiều đưa lòng ngỡ giấc chiêm bao
Hồn mở cửa những ngày chưa giao động

Ta xa cách dậm trường cây trước cổng
Vắng tiếng cười khúc khích vọng đâu đây
Tiếng Thầy Cô âm ấp ủ trong lòng
Khuôn mặt trẻ tràn đầy niềm ước mộng

Hôm ra đi không một lời giã biệt
Sân phi trường mắt biếc cách trùng khơi
Vượt ngàn nơi mong hơi thở thay lời
Chợt ngoảnh mặt cả khung trời mưa rũ

Tóc xanh mướt trải tròn bờ vai ấy
Ðường xa xôi mong thỏa mộng chưa đầy
Nơi xứ lạ nhìn tuổi Xuân vội vã
Tóc hai màu giã biệt nón người thanh

Ta đã đến như lời ta đã khắc
Bóng vai gầy nhẹ dắc chốn phòng xưa
Chiếc bản đen ngỡ ngàng nhìn xa cách
Hỏi lòng mình, người có trách ta chăng?

Ðức Nguyễn, ĐHSP, SG
Whittier, 1/2/2010
Nhân GS Lê Văn từ trần



(Một ái hữu gốc ĐHSP)

Saturday, January 02, 2010

Thơ

Click to enlarge

Ráng Chiều





RÁNG CHIỀU
18" x 24" * Oil on canvas
by A.C.La


Chuyện dài những bức hình hí họa Mô-ha-mét

Cảnh sát Đan Mạch bắn kẻ đột nhập gia cư
nhà hí họa


Cảnh sát Đan Mạch nổ súng làm bị thương một người đàn ông tại nhà ông Kurt Westergaard, người đã vẽ những hình hí họa về Tiên tri Mô-ha-mét là những hình đã gây tranh cãi ồn ào trên quốc tế.


Ông Westergaard đang ở nhà thì có một người đàn ông phá cửa đột nhập. Ông nhấn còi báo động rồi cảnh sát đã vô bắn người đàn ông này. Giới chức Đan Mạch cho hay kẻ đột nhập là một thanh niên 28 tuổi gười Sô-ma-li liên kết với nhóm xung kích quá khích Hồi Giáo al-Shabab.

Hình hí họa in năm 2005 đã nhanh chóng gây ra những cuộc chống đối cuồng bạo năm sau đó. Một trong 12 hình hí họa đăng trên báo Jyllands Posten, vẽ Tiên tri Mô-ha-mét mang bom trong chiếc khăn đội đầu.

Năm 2006 tờ báo đã xin lỗi nhưng truyền thông Âu Châu đã in lại những hình này. Rồi các tòa đại sứ Đan Mạch trên thế giới bị những người Hồi tấn công, nhiều người thiệt mạng trong những cuộc loạn đả.

Ông Westergaard bị dọa giết nên đã sống ẩn dật, nhưng năm ngoái ông lộ diện và tuyên bố muốn sống một cuộc sống bình thường được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Nhà ông được rào khóa rất chắc chắn và được cảnh sát bảo vệ kỹ lưỡng. (Dịch từ BBC)

Friday, January 01, 2010

BCH/TH tuyên bố ngưng hoạt động nhân ngày mãn nhiệm


Thơ ngỏ kính gởi quý đồng Môn QGHC

Kính thưa Quý đồng môn,

Như Quý anh chị đã biết, ngày 31 tháng 12-2009 là ngày cuối hạn kỳ làm việc của Ban Thường Trực Hội Đồng Quản Trị Tổng Hội Cựu Sinh Viên QGHC.

Với tư cách là bộ phận chấp hành được bầu cử hợp pháp bởi tập thể cựu sinh viên QGHC, trước thềm năm mới 2010, Ban Chấp Hành Tổng Hội xin chúc toàn thể Quý Vi Giáo Sư, Quý đồng môn cùng gia quyến một năm mới dồi dào sức khỏe, an khang và hạnh phúc. Nhân dịp này, Ban Chấp Hành Tổng Hội xin có đôi điều tường trình cùng Quý vị như sau:

Trong gần 2 năm qua, tập thể cựu sinh viên QGHC đã chịu đựng nhiều khó khăn trong sinh hoạt bắt nguồn từ những bất đồng ý kiến sau kết quả cuộc bầu cử Tổng Hội. Tiếp theo đó, nhiều đồng môn đã đóng góp ý kiến cải tổ, chỉ trích cá nhân, nhưng cung cách bày tỏ quá nhiều gay gắt, thậm chí từ ngữ sử dụng quá tệ hại, làm mất nhân cách, thể diện và danh dự của tập thể cựu sinh viên chúng tạ đau buồn hơn nữa là các nội dung ấy được phổ biến rầm rộ, rộng rãi qua e-mail và diễn đàn công cộng một cách thiếu tình ái hữu.

Trước tình hình này, Ban Chấp Hành Tổng Hội QGHC quyết định ngưng mọi hoạt động với danh nghĩa Tổng Hội kể từ ngày ký lá thư này; mặc dù ai cũng biết vai trò của Tổng Hội xưa nay vẫn chỉ là vai trò giao tế, hợp tác với cộng đồng địa phương để biểu tỏ lập trường quốc gia chống cộng sản, còn các sinh hoạt thật sự đối với anh chị em đều do các chi hội từng địa phương đảm trách. Hơn nữa, mọi hoạt động của tổ chức thiện nguyện QGHC từ trước đến nay, đều dựa vào tiền niên liễm của hội viên, ngoài ra không có một nguồn tài trợ nào khác. Thật sự trong gần 2 năm qua, chi phí mọi sinh hoạt thường lệ của Tổng Hội đều do tiền túi cá nhân của các thành viên trong Ban Chấp Hành cùng một vài anh em khác và dĩ nhiên các hoạt động phải bị giới hạn vì vấn đề trở ngại tài chánh. Cũng trong thời gian qua, chúng tôi ghi nhận sự đóng góp quá tích cực của nhiều anh chị em đồng môn trong việc nêu sáng kiến tìm một giải pháp khả thi hầu giúp tập thể chúng ta vượt qua cơn sóng gió. Rất tiếc, vì lý do này hay lý do khác, chưa có một giải pháp đồng thuận chính thức nào thành hình. Thời điểm hiện nay là giai đoạn thuận tiện cho sự thông cảm lẫn nhau, cho sự suy nghĩ chính chắn để đề nghị một giải pháp đứng đắn, xây dựng với hy vọng được đa số chấp thuận. Các thành viên trong Ban Chấp Hành Tổng Hội, từ nay cũng sẽ chỉ đóng góp với tư cách là một đồng môn mà thôi.

Ban Chấp Hành Tổng Hội ghi nhận sự cố vấn, phối hợp của Hội Đồng Quản Trị, Tổng Kiểm Soát Tổng Hội và Quý Ban Chấp Hành và Hội Đồng Quản Trị các Địa Phương trong thời gian quạ.

Năm cũ đã qua, năm mới vừa đến, hy vọng những quá khứ đau buồn sớm phôi pha để tình nghĩa đồng môn mãi mãi gắn chặt khi tuổi đời của chúng ta vốn ngày càng chĩu nặng.

Kính chào quý đồng môn trong tinh thần đoàn kết và vượt thắng mọi trở ngaị,

Ngày 1 tháng 1 năm 2010
TM Ban Chấp Hành Tổng Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh
Châu Văn Đễ