Saturday, October 10, 2009

Tùy bút


Mùa Thu Calgary

Ý Nga

Lá vàng rụng kín mặt sôn
Anh hời! Anh hỡi! Đẹp công ông Trời
Sao không theo nước gọi mời
Chúng mình hóa lá, rong chơi nơi này?
Lá rơi rơi!
Hồn chơi vơi giữa không trung u ám.
Mây sáng nay lam lam se lạnh, lá vàng theo những cơn gió, nhẹ nhàng bay bay vàng cả bầu trời. Trên đoạn đường từ trạm xe điện đến bệnh viện, tôi băng qua một dòng sông hiền hòa và tha hồ ngắm cảnh thu mỗi ngày. Tuần này là tuần lễ đẹp nhất của mùa thu Calgary, rừng thay sắc lá mà tiếc là tôi đã không có máy hình trong cặp sáng nay để chụp lại những màu sắc tuyệt vời của thiên nhiên: những khoảng vàng, đỏ, tím, xanh chen nhau thật hài hòa, trong khi đôi dày của tôi xào xạc nghịch ngợm trên những chiếc lá vàng trải thảm dưới chân.

Cỏ xanh lấm-tấm lá về
Thu vàng rực-rỡ, nắng nhòe câu thơ
Nhớ người của tuổi mộng-mơ
Ðan tay áo trắng ngây-thơ sân trường
Cội về lá đổ một phương
Em đi! Đi mãi sao đường vẫn xa?
Một mình không Má, chẳng Ba
Anh em bốn bể, đâu nhà Việt Nam?
Chiều thu thơ khóc âm-thầm:
Gọi Người Yêu Nước chớ lầm đường đi!
Hôm nay đã là thứ 6 rồi! Nếu thứ 2 tôi nhớ đem theo máy hình thì lá cũng đã rơi theo từng cơn gió đi qua và mưa thu cũng sẽ làm cho lá rơi nhiều nữa. Rồi tất cả cũng sẽ xơ xác như những nụ hồng vàng sau nhà
Hồng vàng nụ mới vừa ra
Tuần hoàn thu đến, thế là nụ… đi
Lá vàng cũng đẹp cách chi
Thì thôi nhường nhé! Cũng y sắc… vàng!
Thứ 2! Rồi lá vàng cũng sẽ theo gió rụng đi rất nhiều, những chiếc lá vàng sẽ bớt bay bay trong gió như bây giờ. Tiếc ghê!

Lá đang bay bay theo từng đoạn đường mà tôi đang đi qua. Đẹp quá! Nên thơ quá! Tôi muốn gọi chàng và thì thầm với chàng cảnh đẹp sáng nay nhưng không thể, vì chàng cũng đang tất bật với chuyện áo cơm. Tại sao cứ thấy nét đẹp nào là tôi lại nhớ đến chàng? Tôi cũng không biết nữa? Chàng như một cần thiết mà tôi luôn muốn thì thầm, thủ thỉ những vui buồn trong đời sống hàng ngày. Ước chi có chàng lúc này bên cạnh nhỉ, hai đứa sẽ tung tăng trong gió, trong lá vàng rơi rơi và tôi sẽ kiểng chân hôn chàng một nụ thật nồng nàn để chàng biết rằng tôi yêu chàng lắm.

Đêm qua tôi đã nói với chàng là sáng nay tôi sẽ đi bộ lang thang với thu. Cái thú lang thang ngắm thu mỗi năm trong gió nhè nhẹ, trong nắng dìu dịu, dưới mây lam lam… như một cơn ghiền không thể bỏ hàng năm. Tất cả như quyện vào với thơ, với lãng mạn trữ tình khó tả. Chỉ cần một cánh chim nghiêng nghiêng cánh cũng làm lòng tôi lâng lâng kỳ ảo. Đưa bàn tay lành lạnh se sắt trong gió thu, nhón một hạt đậu phộng, nhai cho vị thơm thơm, dòn dòn, ngọt ngào… thấm vào từng kẻ răng, tôi nghe thấm tháp một nỗi niềm tha thiết sống biết là bao!

Một mình thế này cô đơn quá!
Thu hời! Thu hỡi! Thu ơi!
Mai vàng màu lá, ai mời mình xanh?
Tôi nhớ chàng da diết, dưng không tôi thèm một nụ hôn ngọt ngào của chàng ngay lúc này, cũng… biết là bao! Tôi lại đang hư rồi! Chàng vẫn hàng ngày bên tôi kia mà. Nhớ làm chi! Tôi chợt thấy thẹn với lòng khi nhớ về một bài thơ tự nhắc của tôi năm ngoái:

THU ƠI NHẮC NHÉ LÒNG YÊU NƯỚC!
Viết cho những người đang chiến đấu.

Một trận mưa thu, lá rụng vàng
Những làn gió lạnh gọi đông sang
Bài thơ nhớ nước dòng ta thán
Thu hỡi! Thu hời! Úa ruột gan

Thu hời! Thu hỡi! Thơ dài trang
Trang ngắn, xin đừng: Em nhớ chàng!
Trang khóc dân mình không “ánh sáng”
Phải dài Thi Ký một thuyền nhân!

Thuyền nhân! Đất khách tạm dung thân
Trung, nghĩa… làm sao được lưỡng toàn?
Trên mến, dưới thương, người nể trọng?
Học trò: càng học giỏi, càng ngoan!

Nhìn kiếp phù sinh lá, động lòng
Nhìn đời, rồi cũng Sắc cùng Không
Mênh mông biển rộng đi chưa tới
Chiến đấu, sao ai sông hẹp dòng?

Bước dưới mưa thu, chí chửa thành
Đường dài đăng đẳng! Hỡi em, anh!
Thương dân khổ nạn, lòng căm phẩn
Nhắc nhé! Thu hời! Thu hỡi thu!
Tôi nhắm mắt đón từng chiếc lá rơi rơi trên áo mà nhớ về tuổi học trò với áo dài trắng nữ sinh, guốc gỗ mộc mạc khua vang phố phường, theo bạn đi dưới những hàng me, đón lá, lắng nghe… Tiếng cười khúc khích của tôi và nhỏ bạn, thân nhất và duy nhất trong đời, như còn vọng âm sang đây, dù bạn đã nằm sâu dưới đáy biển vì hai chữ TỰ DO...

Ô kìa tôi lại đang nhớ bạn!
Rơi rơi! Góp nhạc, lá vàng
Rơi rơi! Từng chiếc, cảnh càng thêm thu
Mơ gì người chọn cõi tu?
Ước chi, em lựa cửa “tù” mở tâm?
Nhớ chàng thì niềm vui tăng lên, nhớ bạn lòng sao ngậm ngùi? Trên từng bước chân, tôi niệm Phật cho bạn, được một lúc, tôi lại nhớ… chàng.

Chàng quả thật có phước ghê! Phật nhìn xuống chắc cũng tức cười cho con bé này, nó niệm Phật nửa chừng lại nghỉ ngợi lung tung. Đúng là tâm bất định! Mà định sao được trước cảnh lá vàng cả đường đi thế này! Không gian man mác cả một hơi thu vời vợi. Những người đi bộ nhàn tản như tôi, ai cũng ngắm cảnh thu, chỉ riêng tôi ngửa mặt lên trời, nhắm mắt đón từng chùm lá vàng li ti rơi rơi trên đầu, trên áo
Hạ đi, thu đến, rồi đông
Một vòng sinh… lão. Sắc Không cũng… rồi!
Cỏ xanh vàng kín lá rơi
Vô Thường, như huyễn! Hạ ơi! Thu ời!!!

**
Vào đến văn phòng, một vị bác sĩ trẻ, quở tôi có chiếc lá vàng vướng mắc trên chiếc kẹp tóc, tôi thích thú lắm và cứ để yên như thế, càng thích thú hơn khi từ sáng cho đến chiều ai thấy chiếc lá cũng muốn đưa tay lấy xuống giùm, tôi bảo:

- Cứ để cho nó được… ở trên cao thêm vài tiếng đồng hồ ngắn ngủi nữa đi, nhé! Rồi lá sẽ… về nguồn thôi.

Tôi nói giùm lá mà lòng tôi chợt xót xa khi nghĩ đến tuổi già của Ba Má tôi, cả hai người đang yếu dần, yếu dần theo ngày tháng vùn vụt trôi qua. Nhiều khi tôi thèm được rót một ly nước dâng Má, nấu một chén cháo mời Ba, đơn giản thế thôi mà cũng không được. Tôi xa Ba Má, các em yêu thương và bà con dòng họ từ năm 21 tuổi, làm thuyền nhân xa nhà đi tìm tự do, chờ ngày trở lại, tưởng chỉ vài năm ai ngờ bây giờ đã tuổi 50 mà vẫn còn lưu lạc, hết Ý đến Gia Nã Đại.

Việt Nam ơi! Việt Nam!
Sao mà nỗi nhớ khôn nguôi!

Bao giờ chế độ cộng sản đang tàn phá quê hương tôi sẽ sụp đổ, để tôi được trở về ngắm những Mùa Xuân đẹp hơn nhiều, ở quê hương tôi?
Nhớ nhà, nhớ đến ngậm ngùi
Mẹ, Cha yếu ớt; mai rồi làm sao?
Nước nhà vẫn đục thương đau
Kẻ cầm quyền chỉ may bao gom tiền
Buồn tênh trăm mối muộn phiền
Thu qua, đông đến lại triền miên lo!
Ý Nga
Canada, mùa thu 2008.


Có dầu vui đâu cũng được!

Đêm Bubai
(Cám ơn một thân hữu đã chuyển gửi)
*
Nếu sắp đi ngủ, xin đừng click

Friday, October 09, 2009

Đa Tình Khúc


Nghe đâu nữ sĩ Như Thương sẽ cho ra mắt tập thơ thứ tư vào một ngày gần đây.
Sách dầy 264 trang. Cái tên "Đa Tình Khúc" của tập thơ tự nó đã nói lên nội dung của tập thơ này.

Diễn Đàn vui mừng báo tin này tới quý anh chị và thân hữu.

Thi Nhân và Mùa Thu


THU ƠI! NHỚ NẺO TRỜI XA!

Xanh rừng, sương óng ánh hoa
Lá rừng xào xạc, là đà cánh chim
Ánh vàng, nắng mới về tìm
Sáng soi khắp nẻo, nước êm ả hồ
Đỏ, vàng, xanh, xám… điểm tô
Lá vui với gió, trầm trồ bướm khen
Điểm vàng sắc úa, hoa chen
Vòng quay tuế nguyệt bao phen đổi dời
Suối rừng vắt vẻo lưng trời
Nhớ… anh thả nổi tiếng cười trong veo
*
Quê người sướng, xứ mình nghèo
Nhớ… Ai rồi cũng vòng vèo nhớ… Quê,
Nhớ… nhà, nhớ… những ủ ê:
Ngọt ngào giọng Mẹ, lê thê tuổi già
Nhớ… ngày đơn lẻ của Cha,
Nhớ… em út dại, xót xa cõi lòng
Việt Nam, thơ nhớ, lệ ròng
Bão vừa kéo tới, lụt vòng miền Trung
Bà con em khổ vô cùng
Nhớ… anh? Bớt nhớ! Chập chùng nhớ… dân.
*
Bài thơ thu gói ngại ngần
Đẹp nào bằng nét em cần đẹp hơn:
Cờ Vàng rực cả non sơn
Cho dân thanh thản tâm hồn ngắm thu.
*
Biển, sông: tráng sĩ hồi cư
Triệu người cũng được nhàn du xứ… mình
Sẽ về đem hết sức, tình
Đắp xây đổ nát, hồi sinh bao người.

Ý Nga, 2.10.2009.

Tùy bút Lâm Thanh

Một tấm lòng

Đời người chẳng phải là cuộc thử thách. Cuộc đời cũng không phải là bể khổ. Người vẫn tha thiết yêu đời. Trong hoàn cảnh khó khăn cứ tưởng là lầm than nhưng người vẫn tìm được hạnh phúc. Tuổi chiều bóng xế người càng yêu đời tha thiết hơn. Yêu mọi người, thương mọi sinh vật, yêu cả đất đá và cỏ cây. Người luôn thầm kín ấp ủ biết bao nhiêu hoài bão.Thiên Đàng hay Niết Bàn chính là cõi đời này. Cho nên người ước rằng, nếu có luân hồi tái sinh trở lại, xin được tiếp tục làm người. Cụ thể hơn, nếu quê hương được thật sự yên bình, người muốn sống lại cuộc sống của một người Việt Nam chân quê vùng sông nước nào đó để bù lại những ngày xa xứ hôm nay. Nhưng mà...
Người sẽ thành mây qua khỏi núi,
Im lìm sao rụng giữa trời không!
Có ai nghe tiếng hồn ru gió,
Hạt cát ủ lòng một núi thương!!

Sương bấu đầu non thương nhớ cội
Âm thầm ôm mộng kiếp hồi sinh,
Bỗng rồi sương hóa thân mây khói
Bỏ lại sau lưng cả biển tình!!
Mỗi người là một vũ trụ, là một thế giới bao la. Hãy tin đi. Cứ tin đi. Tin “những người khóc lẻ loi một mình”.

Lâm Thanh
Apr. 2008, Central Coast OZ

Thursday, October 08, 2009

Paris bí sử

TRANH LA JOCONDE BỊ ĐÁNH CẮP

Hôm Chúa nhựt 02 tháng 8 năm 2009 vừa qua, trong lúc một nhóm khách viếng thăm Bảo Tàng Viện Louvre Paris đang chen vai nhau trước bức tranh La Joconde, ngắm người đẹp có nụ cười bí ẩn, đột nhiên một phụ nữ người Nga từ phía sau kiểng chân, ném thẳng một chiếc tách uống trà vào bức tranh. Bà ta bị bắt. Theo nguồn tin cảnh sát Pháp, người đàn bà nầy ở trong tình trạng tinh thần không bình thường và được đưa vào bịnh viện tâm thần. Có lẽ do nguồn tin đó mà một nhựt báo ở Paris hôm 11 tháng 8 loan tin và nhắc đến hội chứng Stendhal ( le syndrome de Stendhal ), còn có một tên khác là hội chứng Florence, để chỉ trạng thái của những du khách bị kích động mạnh khi đứng trước một tác phẩm nghệ thuật.

Đây không phải là lần đầu tiên người đẹp Mona Lisa bị dập liễu vùi hoa. Năm 1956 đã có một thanh niên người Bolivie tên Ugo Ungaza Villegas, trong cơn giận dữ đã ném một hòn đá vào bức tranh La Joconde, làm hư cùi chỏ trái của người đẹp. Do đó các giới chức thẩm quyền đã nghiên cứu việc bảo vệ các tác phẩm nghệ thuật trưng bày. Từ năm 2005 người đẹp Mona Lisa được đặt trong một lồng kính dầy. Do đó chiếc tách trà phụ nữ người Nga ném đã vỡ tan và chỉ làm xây xát nhẹ mặt kính bảo vệ bức tranh.

Tuy nhiên hai sự việc nầy chỉ như hai mẫu tin vặt so với hành động táo bạo của kẻ đã đánh cắp bức tranh La Joconde và đem ra khỏi BTV Louvre một cách dể dàng. Nhưng trước khi kể hầu quí bạn câu chuyện đánh cắp làm xôn xao dư luận quốc tế nầy, xin nói qua về Bảo Tàng Viện Louvre và bức tranh La Joconde của nhà danh họa Léonard de Vinci (1452-1519).

BTV Louvre Paris được xếp vào hạng lớn, đẹp và nổi tiếng nhứt nhì trên thế giới. BTV Louvre hiện nay nằm ở quận I Paris, xưa kia vốn là một pháo đài phòng thủ được vua Pháp Philippe Auguste (1165, 1179-1223, số đầu là năm sinh) cho xây năm 1190 để bảo vệ Paris chống lại sự tấn công của người Anh. Năm 1546 vua François Ier (1494, 1515-1547) cho xây cất trên nền của pháo đài cũ một cung điện làm nơi ở của nhà vua. Các đời vua sau, Henri II, Charles IX, Henri IV, Louis XIII và Louis XIV đều có cho xây cất thêm để mở rộng cung điện Louvre. Đến năm 1793, dưới thời Cách mạng Pháp, cung điện Louvre được dùng làm Bảo Tàng Viện, nhưng lúc đầu đặc biệt dùng đào tạo các họa sĩ, thời gian dành cho dân chúng ít. Từ năm 1804 BTV Louvre, lúc đó được gọi là BTV Napoléon, mới dành nhiều thời gian cho dân chúng đến thăm.

Năm 1983, Tổng Thống François Mitterand đặt kiến trúc sư người Mỹ gốc Tàu Ieoh Ming Pei dựng Kim Tự Tháp bằng kính có khung bằng kim loại ở Cours Napoléon trong BTV Louvre. Kim Tự Tháp được khánh thành năm 1988 và mở cửa cho công chúng năm sau đó. BTV Louvre có ba dãy nhà chính, theo hướng nhìn từ tây sang đông : dãy Richelieu bên trái, dãy Sully là đáy chữ U và dãy Denon bên phải. Có tất cả 35000 cổ vật nghệ thuật và tác phẩm được trưng bày trong các phòng với diện tích tổng cộng 60600m2, gốm các tác phẩm từ thời cổ đại đến năm 1848 (các tác phẩm sau năm 1848 được phân phối trưng bày ở các BTV khác ở Paris). Các tác phẩm trưng bày ở BTV Louvre được chia thành 8 nhóm : Cổ đại Đông phương (Trung, Cận Đông), Cổ đại Ai Cập, Cổ đại Hy Lạp, Cổ đại Etrusque và Roma, Nghệ thuật Hồi giáo, Điêu khắc, Vật dụng có tính nghệ thuật (Objets d’Art ), Hội họa, Nghệ thuật Đồ Họa (Arts Graphiques).

Năm 2006 BTV Louvre tiếp đón 8,3 triệu khách, năm 2008 có 8,5 triệu khách.

Bên đây là ảnh của khu BTV Louvre. Xin lưu ý, Arc de Triomphe quý bạn thấy trong ảnh là Arc de Triomphe du Carrousel, nằm giữa BTV Louvre và vườn hoa Tuileries do Hoàng đế Napoléon Ier cho dựng (1806-1808), nhỏ hơn Arc de Triomphe trên đại lộ Champs Elysées cũng do Hoàng đế Napoléon cho dựng năm 1806, nhưng chỉ được hoàn thành năm 1836, nghĩa là rất lâu sau khi Napoléon chết (1821).

Từ ngày 23 tháng 6 đến ngày 12 tháng 7 năm 2005, thuê được một phần BTV Louvre để dùng làm ngoại cảnh, đạo diễn Ron Howard và một ê kíp 300 người, trong đó có hai nam nữ diễn viên chính Tom Hanks, Mỹ và Audrey Tautou, Pháp đã quay một phần của phim Da Vinci Code. Để không làm xáo trộn sinh hoạt bình thường của Bảo Tàng Viện, đoàn quay phim chỉ được sử dụng BTV Louvre từ 6 giờ chiều đến sáng sớm hôm sau, và ngày thứ ba là ngày đóng cửa hằng tuần hiện nay của BTV Louvre. Giới chức thẩm quyền của Louvre và của đoàn quay phim đã thảo luận rất nhiều để thực hiện việc bảo vệ các bức tranh không bị hư hại bởi ánh sáng cực mạnh của các đèn rọi để quay phim.

Bức tranh La Joconde do Léonard de Vinci vẽ vào những năm 1503-1505, có lẽ ở thành phố Florence, miền bắc nước Ý. Về người mẫu của bức tranh, giả thuyết cho đến nay được nhiều người chấp nhận là L. De Vinci đã được đặt hàng để vẽ chân dung của bà Lisa Maria Gherardini, vợ của ông Francesco del Giocondo, một thương gia buôn tơ lụa giàu có ở Florence. Chữ giocondo tiếng Ý rất gần với chữ jucundus trong tiếng latinh có nghĩa là vui vẻ, hạnh phúc. Chữ gioconda ở giống cái, chỉ người đàn bà vui vẻ, hạnh phúc, được chuyển sang tiếng Pháp với tên La Joconde.

Bức tranh nầy còn có một tên khác là Mona Lisa. Tiếng Ý ma donna (madame trong tiếng Pháp) có nghĩa là « bà », được rút gọn lại là monna, với một biến thể khác là mona. Lisa là tên lúc còn con gái của bà Gherardini.
Người ta không biết tại sao bức tranh đã không được trao cho người đặt hàng. Có người cho là ông Giocondo đã không nhận bức tranh vì không hài lòng với chân dung của vợ mình. Có điều chắc là, năm 1516 khi được vua Pháp François Ier mời, L. De Vinci đã sang Pháp mang theo bức tranh và theo truyền thuyết vua François Ier đã mua lại và treo lần đầu trong cung điện nhà vua ở Fontainebleau. Sau đó tranh được đưa về treo ở cung điện Louvre. Khi vua Louis XIV bỏ cung điện Louvte, chọn lâu đài Versailles làm chỗ ở mới năm 1682 , có một thời gian tranh La Joconde đã được đem treo ở văn phòng nhà vua ở Versailles.

BTV Louvre có nhiều tác phẩm nổi tiếng, nhưng bức tranh La Joconde vẫn được coi là biểu tượng của Louvre. Người ta không lấy làm lạ khi biết có tới 80% khách tới thăm BTV Louvre hàng năm đã đi qua trước bức tranh để chiêm ngưỡng người đẹp thành phố Florence.

Có một truyền thuyết cho rằng khi mang bức tranh La Joconde sang Pháp, L. De Vinci tiếp tục làm việc trong những năm 1516-1518 để hoàn chỉnh bức tranh. Điểm đặc biệt nhứt của tranh La Joconde được mọi người từ xưa tới nay đều chú ý và công nhận là nụ cười bí ẩn, khó diễn tả nhưng có sức thu hút rất mạnh của người đẹp. Dù đứng ở góc độ nào để nhìn bức tranh, bạn vẫn như thấy người đẹp mĩm cười với bạn. Từ xưa cho tới thời Phục Hưng, chính L. De Vinci đã nghĩ ra lối vẽ chân dung có nụ cười. Một điểm nữa đáng được chú ý là nếu nhìn kỹ, người ta thấy người đẹp Mona Lisa không có chân mày và lông nheo.

Từ năm 2005, tranh La Joconde được đặt ở từng một của dãy nhà Denon, trong gian phòng có tên Salle des États. Phòng nầy được sửa sang và thiết trí lại trong 4 năm, 2001-2005.Ở hai đầu của căn phòng, hai họa phẩm nổi tiếng La Joconde của L. De Vinci và Les Noces de Cana của Veronese được đặt đối diện nhau. Xung quanh phòng là những tác phẩm nổi tiếng của các nhà danh họa thành Venise thế kỷ XVI : Bassano,Titien, le Tintoret , Veronese ...

Bức tranh La Joconde được vẽ trên một tấm gỗ mỏng bằng cây dương (le peuplier), có kích thước 77cm x 53cm. L. De Vinci đã trét nhiều lớp chất lót trên mặt gỗ để làm nền, tiếp theo, ông vẽ hình mẫu ngay trên nền đó. Sau đó ông đã dùng nhiều lớp sơn pha loãng với dầu phết chồng lên nhau, danh từ chuyên môn gọi là les glacis. Còn chính L.de Vinci thì dùng một thuật ngữ mới do ông đặt ra là Sfumato (fuma trong tiếng Ý có nghĩa là khói) : toàn bức tranh như phủ một làn khói mỏng. Đại khái là L.de Vinci đã dùng kỹ thuật nầy để làm mờ sự phân biệt các đường nét và các đường viền trên bức tranh. L.de Vinci đã sử dụng tài tình kỹ thuật nầy để làm tăng hiệu quả của ánh sáng và bóng tối, nhứt là trên mặt và chung quanh mắt của người đẹp. Chúng ta biết L. De Vinci có nghiên cứu nhiều và kỹ về cơ thể học và quang học. Ông đã ứng dụng thành công tuyệt vời hai môn đó trong bức tranh La Joconde. Những đường nét của người phụ nữ trong bức chân dung rất hài hòa và màu da đã được thể hiện tuyệt hảo như màu da tự nhiên. L. De Vinci đã làm cho tranh La Joconde nổi tiếng khắp thế giới và là bức họa được sao chép nhiều nhứt, từ tây sang đông, và ngay từ thế kỷ thứ XVI ở Ý. Nhiều họa sĩ tên tuổi Âu châu thế kỷ 19, 20 như Corot, Delaunay, Fernand Léger, Van Gogh đã dùng La Joconde làm mẫu mực hoặc gợi hứng cho tranh của mình.

Không hiểu vẽ đẹp của nàng Mona Lisa hay sự nổi tiếng của bức tranh, hoặc là cả hai, đã là nguyên nhân của vụ đánh cắp bức tranh, gây xôn xao dư luận nước Pháp và thế giới năm 1911.

Tháng 4 năm 1911, Vincenzo Peruggia, người Ý, vừa thực hiện xong một đợt khung gỗ cho các thợ kiếng lồng một số tranh của BTV Louvre. Chúa nhựt 20 tháng 4 Peruggia và hai anh em nhà Ancelotti, cả ba người Ý nầy đã thừa dịp có nhiều du khách đi lại trong BTV Louvre, lẻn trốn vào một cái kho nhỏ chứa dụng cụ trong Louvre. Đêm đó, họ rời chỗ núp, vào Salon Carré nơi treo bức tranh La Joconde. Nhờ sự giúp đỡ của hai anh em Ancelotti, Peruggia đã tháo tấm tranh ra khỏi chiếc khung gỗ có chạm trổ. Họ mang tranh trở về chỗ ẩn núp và chờ trời sáng. Ngày thứ hai 21 tháng 4, vào thời đó là ngày Louvre đóng cửa hàng tuần, dành cho công việc bảo trì. Với đồng phục của nhân viên quét dọn, Peruggia và hai anh em Ancelotti đã đi lẫn vào với những người thợ khác của Louvre, và nhờ vậy Peruggia đã kín đáo mang được bức tranh La Joconde ra khỏi Louvre.

Hôm sau 22 tháng 4, việc mất cắp mới được phát giác và các giới chức có trách nhiệm ở Louvre mới được báo cáo. Chỉ huy trưởng Cảnh sát Paris, ông Cò Lépine phái hàng trăm nhân viên đi điều tra sự việc. Các phòng, các hành lang, các xó xỉnh trong Louvre đều được lục soát kỹ. Tất cả nhân viên và thợ của Louvre đều được lần lượt gọi đến xét hỏi. Peruggia cũng được gọi đến để lấy lời khai với tư cách thợ không thường trực của Louvre. Nhưng các nhân viên điều tra chỉ hỏi qua loa mà không kiểm chứng lời khai và không đối chiếu dấu tay của anh ta. Nếu họ tra xét kỹ, chắc là anh ta đã bị bắt, vì cảnh sát đã có hồ sơ của anh ta về một vụ đánh lộn ở Paris, Peruggia đã làm bị thương một người đồng hương, và một vụ ăn cắp của anh ta ở công trường thành phố Mâcon. Nhà thơ Guillaume Apollinaire bị tố cáo ăn cắp bức tranh, bị tạm giữ mấy ngày ở nhà tù La Santé, Paris để điều tra. Họa sĩ Pablo Picasso, bạn của Apollinaire cũng bị nghi ngờ và bị thẩm vấn. Nhưng không có bằng chứng để buộc tội, cả hai người đều được trả tự do.

Các ông,bà thầy bói cũng được mùa, xủ quẻ, đưa ra đủ mọi lời đoán, từ những chuyện trời ơi đất hởi, tới những chuyện nghe qua rồi bỏ. Chẳng hạn có cô thầy bói nói : Hoàng đế nước Đức chỉ chịu trả lại bức tranh để đổi lấy hai xứ Congo thuộc địa và xứ Maroc được đặt dưới quyền bảo hộ của Pháp.

Những tin đồn về động lực của vụ đánh cắp bức tranh được báo chí đăng tải ở trang nhứt cũng nhiều và cũng không kiểm chứng được. Chẳng hạn tin đồn về một tay giang hồ người Á căn đình tên Eduardo de Valfierno, chuyên làm đồ giả mạo. Tay nầy toa rập với một nhà phục chế tên Yves Chaudron làm sáu bức tranh La Joconde, rồi đem gạ bán cho sáu nhà sưu tập người Mỹ. Anh ta thuê người đánh cắp bức tranh La Joconde ra khỏi Louvre để cho mỗi người mua đều nghĩ là tranh mình mua được là tranh thật. Nhưng các cuộc thương lượng thất bại, Valfierno không còn lý do để nhận bức tranh ăn cắp. Peruggia đành phải giữ lấy bức tranh. Do đó trong khi mọi người táo tác đi tìm Mona Lisa thì cách đó 2 km, ngay trong Paris, ở đường Hôpital Saint Louis, quận X, người đẹp phải ngủ trong chiếc va li dưới giường của Peruggia.

Người bối rối và mất ăn mất ngủ nhứt trong vụ mất cắp nầy là ông Théophile Homolle, Giám Đốc các Bảo Tàng Viện của Pháp, vì một năm trước ông đã tuyên bố chắc như đinh đóng cột : « Đánh cắp tranh La Joconde à ? Có khác gì bảo có người lấy trộm được chiếc tháp Nhà Thờ Đức Bà ! ».

Trong khi các cuộc điều tra, kể cả của các nhân viên an ninh được gởi sang các nước láng giềng Bỉ, Đức, Hòa Lan để thăm dò trong giới các tay ăn cắp quốc tế, đều dậm chân tại chỗ, và người đẹp La Joconde cứ biệt tích, thì Hội Những Người Bạn của Louvre nóng ruột trước nguy cơ mất vĩnh viễn nụ cười của người đẹp, nhảy vào cuộc. Ông Chủ tịch hội, Raymond Koechlin, đề nghị muốn cho tay đánh cắp trả lại bức tranh chỉ còn cách là tha phạt cho hắn và nhờ báo chí đăng tin Louvre nhận mua lại bức tranh. Nhưng để tránh bị công luận chỉ trích là khuyến khích việc ăn cắp và tránh dậm chân lên cuộc điều tra của cảnh sát, ông đề nghị số tiền sẽ được trao qua trung gian của Văn phòng Quốc Vụ Khanh đặc trách Mỹ Thuật cho người cung cấp tin tức chính xác để tìm lại được bức tranh. Ông đề nghị số tiền thưởng là 25000 quan Pháp, một số tiền rất lớn thời đó. Vì Hội Những Người Bạn Của Louvre không có được số tiền đó, ông đề nghị nhờ báo chí đăng tin quyên góp. Có rất nhiều người yêu nghệ thuật trong mọi giới đã rộng rãi mở hầu bao, và thủ quỹ của Hội đã mau chóng thu được đủ số tiền. Nhưng kẻ cắp và người đẹp trong tranh vẫn mất dạng.

Cho đến một ngày mùa đông hơn hai năm sau, năm 1913. Ngày 10 tháng 12 năm đó, Peruggia bước vào cửa tiệm bán đồ cổ của ông Alfredo Geri ở thành phố Florence, và mời ông nầy đến khách sạn nơi anh ta ngụ để cho ông xem một bức tranh đặc biệt. Ông Geri đồng ý theo anh ta đến khách sạn. Peruggia đã mở chiếc va li hai đáy và cho ông xem bức tranh La Joconde không có khung. Cố nén sự xúc động của mình trước bức tranh, ông Geri thuyết phục được Peruggia đến gặp ông Poggi, Giám đốc Bảo Tàng Viện Florence. Ông nầy nhận ra ngay và xác nhận đúng là bức tranh La Joconde của L. De Vinci. Ông đã tố cáo Peruggia với nhà cầm quyền. Peruggia bị bắt và đã mau lẹ thú tội. Đại khái anh ta nói là mình biết Napoléon đã lấy bức tranh đó đem từ Ý về Pháp, nên anh ta muốn mang trả bức tranh về cho quê hương của L. De Vinci. Quả thật, trong chiến dịch nước Ý năm 1796-1797, sau các trận đánh thắng, tướng Bonaparte, sau trở thành Hoàng đế Napoléon Ier, khi ký các hiệp ước đình chiến, đã buộc các thành phố thua trận như Parme, Bologne, Venise, phải trao nhiều bức tranh của các họa sĩ danh tiếng của Ý, theo ý thích và sự lựa chọn của ông ta, như là một phần tiền chiến phí và chiến lợi phẩm, và ông ta đã cho chở về Pháp. Nhưng Peruggia đã lầm, vì như đã nói ở trên, bức tranh La Joconde đã được mua lại từ thời vua François Ier, thế kỷ XVI và đã trở thành tài sản của nhà vua và của nước Pháp.

Dù sao Peruggia đã được hưởng trường hợp giảm khinh, tòa án Florence trong phiên xử ngày 5 tháng 6 năm 1914 chỉ tuyên án cho anh ta một năm và 15 ngày tù.

Không còn tiền trong quỹ, Hội Những Người Bạn Của Louvre lại mở một đợt quyên góp thứ hai để có đủ số tiền 25000 quan thưởng cho ông Alfredo Geri.

Về phần người đẹp Mona Lisa sau một thời gian ngắn đước gởi ở BTV Florence, nàng đã được đưa trả về Pháp trên một toa xe lửa đặc biệt và đã được tiếp đón long trọng ở Paris ngày 31 tháng 12 năm 1913. Được đặt tạm ở Trường Mỹ Thuật, ngày 4 tháng giêng năm 1914 bức tranh La Joconde đã được treo trở lại ở Salon Carré của BTV Louvre (xin nhắc, hiện nay tranh La Joconde được trưng bày ở Salle des Etats của Louvre sau một khung kính dày, hình bên).

PS. Tôi viết bài nầy sau khi xem tranh « Huyền Thoại » của ACLA trên Diễn Đàn. Tranh Huyền Thoại làm tôi liên tưởng đến bức tranh La Joconde.

Ông Daniel Arasse, tác giả quyển Histoires de Peintures, trong phần nhận xét về tranh La Joconde, cho biết L. De Vinci rất ngưỡng mộ nhà thơ Latinh Ovide (43 tr. CN-18 s.CN) trong tác phẩm trường thiên Les Métamorphoses, trong đó Ovide có kể lại rất nhiều về các nhân vật trong thần thoại Hy Lạp. Theo ông D. Arasse, cả Ovide và L.de Vinci đều suy tưởng về thời gian. Nếu trong Les Métamorphoses, Ovide nói lên sự chóng phai tàn của sắc đẹp với thời gian qua câu nói của người đẹp Hélène, người đã là nguyên nhân của cuộc chiến thành Troie : «Hôm nay tôi đẹp, nhưng rồi một thời gian nữa tôi sẽ ra sao?», thì Vinci trong La Joconde muốn diễn tả nét phù du của niềm vui và hạnh phúc. Bối cảnh hoang sơ của bức tranh gợi cho người xem nghĩ tới thời hồng hoang thăm thẳm, nụ cười của Mona Lisa như đưa người xem từ cõi hồng hoang về giây phút hiện tại, nhưng nụ cười vừa chớm nở trên môi người đẹp, đã ngưng đọng và như đã trở về cõi hồng hoang. Chiếc cầu trong hậu cảnh cũng là biểu hiệu của thời gian đi qua.

Tôi thấy trong tranh « Huyền Thoại », ACLA cũng diễn tả thời gian, theo một cách khác.

Chân dung người thiếu nữ chiếm hết phân nửa bức tranh, riêng khuôn ngực căng tròn của thiếu nữ đã chiếm gần 1/4 bức tranh đã khiến mặt trời ở hậu cảnh phải rơi vào pha nhật thực toàn phần. Dù cố vùng vẫy nhưng ánh sáng của mặt trời cũng không bung lên nổi để làm nhiệm vụ soi sáng của mình. Thiếu nữ ở trong thế quay lưng lại với mặt trời đang bị nhật thực, nhưng gương mặt và đồi ngực căng đầy của thiếu nữ vẫn được soi rõ mồn một. Vậy ánh sáng từ đâu tới ? Phải chăng đó là ánh sáng từ tâm tưởng, từ những hoài niệm của họa sĩ ? Phải chăng đó chỉ là hình ảnh được phóng chiếu từ quá khứ, được họa sĩ dùng hoài niệm đặt vào hiện tại, trước mắt người xem tranh ?

Huyền thoại trong huyền thoại, điều người xem thấy trong tranh « Huyền Thoại » đúng là huyền thoại. Không biết tôi có bắt được một chút gì cái ý huyền thoại của ACLA trong tranh không ?

NQMINH PARIS
04/Oct/2009

Wednesday, October 07, 2009

Tích xưa truyện cũ

Để Thành Phật

Lịch sử Phật giáo còn ghi lại câu chuyện của Thiền sư Đạo Nhất (709-788), một vị cao tăng Trung Hoa thời Đường, đã được thời nhân gọi là Mã Tổ, một phần vì sư họ Mã, một phần vì lời tiên đoán của Lục Tổ Huệ Năng với vị thầy của ông, về sự xuất hiện của Đạo Nhất: “Dưới chân ngươi sẽ có con ngựa to đạp chết người trong thiên hạ”. Chúng ta hãy nghe qua cách điều phục ngựa của sư.


Sư thường ngồi thiền mỗi ngày. Hôm nọ, Thiền sư Hoài Nhượng đến thăm, hỏi: - Đại đức ngồi thiền để làm gì?

- Thưa, để làm Phật.

Thiền sư Hoài Nhượng bèn lấy một cục gạch đến trước am sư ngôi mài. Thấy lạ, sư hỏi: - Thầy mài gạch để làm gì?

- Để làm gương.

Gạch đấy thể nào làm gương được?

- Ngồi thiền đâu thể thành Phật nổi?

- Vậy phải làm thế nào mới được?

- Như trâu kéo xe, nếu xe không đi, nên đánh xe hay đánh trâu?

Sư lặng thinh, ngài Hoài Nhượng dạy tiếp: - Ông học ngồi thiền, hay học làm Phật? Nếu học ngồi thiền, thiền không phải ngồi nằm. Nếu học làm Phật, Phật không có tướng nhất định. Đối pháp không trụ, chẳng nên thủ xả. Ông nếu ngồi để làm Phật tức là giết Phật, nếu chấp tướng ngồi thì chẳng đạt được ý kia.

Sư nghe đến đấy liền ngộ.

(Tục tạng kinh)

“Mã Tổ ngộ cái gì?” là một câu hỏi khó giải đáp đối với các nhà học Phật. Theo phong cách nhà thiền thì “đáp tại vấn xứ”, nghĩa là người hỏi phải tự tìm ra lời đáp chứ không ai có thể trả lời giùm mình được.

(Trích: Báo Giác Ngộ, số Xuân 2002)

Thơ Ý Nga

Click to enlarge

Ý Nga là một nhà thơ trẻ Việt Nam, hiện đang sống cùng gia đình tại Calgary, Canada. Ý Nga đã xuất bản ba tác phẩm: hai tập thơ (Nụ Cười Tình, Tội Ác & Đồng Lõa) và một bút ký (Hoa Bách Hợp). Thơ tình Ý Nga thì thiệt là ...tình, và thơ tranh đấu thì thiêt là ...tranh đấu. Nói như thế thì cũng chẳng hình dung thêm được chút nào nhưng không còn cách nào diễn tả gọn hơn. Tốt nhất cứ để thơ tác giả nói lên là hay hơn cả:
"Mình là một nửa của nhau
Nên xa cứ nhớ như cau thiếu trầu
Chút vôi nồng, thêm đậm màu
Trong cay có những ngọt ngào yêu thương"
Hay:
"Em xõa tóc nghiêng nghiêng bờ vai nhỏ
Anh trộm nhìn, say đắm gót chân son
Gió mơn man, tà áo lộ eo thon
Anh ao ước một đời theo em mãi...
Quý anh chị có đồng ý không nào?
A.C.La

Tuesday, October 06, 2009

Dư Âm Hội Ngộ 678


CHIA TAY

Tặng các ĐS 6.7.8 trong Hội Ngộ Nửa Thế Kỷ

Bạn ơi ! ta hãy nâng ly rưọu
Bữa tiệc hôm nay cũng sắp tàn
Tình bạn đầy chưa hay còn thiếu ?
Xá gì mây nước chuyện hợp tan

Ta hãy say đi cho thật đã
Ngày mai rồi sẽ lại chia tay
Đường đời chia cách đi trăm ngả
Hãy nhớ đến nhau những lúc này

Nếu đây quả thực là lần cuối
Thì xin vĩnh biệt bạn thân thương
Cầm tay, ánh mắt thay lời nói
Sống chết, biệt ly chuyện rất thường..

Nếu có bao giờ ta gặp lại
Chuyện đời ta sẽ kể nhau nghe
Thăng trầm, vinh nhục buồn tê tái
Nước chẩy gầm cầu, bóng ngựa xe

Như thế là ta đã mãn nguyện
Để rồi sẽ chết rất ung dung
Những năm còn lại là phần thưởng
Nơi chốn trần gian đầy bão bùng

Nguyễn Ngọc Liên

Thơ Lãm Thúy


Tuyệt

Duyên cùng, nghĩa tận, tình phai phôi
Vương vấn nhau thêm chỉ uổng đời
Đã hết cần nhau thì đoạn tuyệt
Hết thương thì vĩnh biệt cho rồi!

Gương vỡ thì thôi, tiếc mãi chi
Bình tan, rượu đổ, lòng sơn khê
Có ích gì đâu hàn gắn mãi
Đã rời rã vậy, xa nhau đi!

Lòng đã muôn trùng, vực đã sâu
Mỗi ngày thêm rộng vết thương đau
Tim đã không còn chung nhịp nữa
Sao phải lừa nhau, phải cưỡng cầu?

Chịu đựng nhau, còn có nghĩa chi
Không niềm rung cảm, chẳng lâm ly
Sống cho hết đời rồi cũng vậy
Níu kéo nhau thêm có được gì?

Nếu biết vết thương không thể lành
Mỗi ngày thêm nặng những di căn
Thì cứ một đường dao bén ngọt
Cắt tuyệt đi cho dứt nợ nần!

Thôi đừng hát mãi khúc chim Quyên
Nhãn lồng dây héo, bến xa thuyền
Tiếc chi chậu cũ, lia thia hỡi!
Có. Quen, thì xa mãi cũng quen!

Còn thương, vạn lý cũng nên gần
Hết thương, gang tấc cũng quan san
Đã vô duyên thế thì thôi vậy
Hai đứa đành chia. Biệt gối chăn

Lãm Thúy


Điểm gở cho Tàu Cộng

Bốn lần kéo, cờ Tàu Cộng vẫn không cất cánh nổi.
Lần kéo đầu, cờ bị chổng ngược đầu xuống đất.

(NĐPhúc)

Monday, October 05, 2009

Mùa Thu Nhớ Người

Click to enlarge

Chuyện lảm nhảm trong ngày

Tiếng điện thoại reo:

- Hê-lô! Tầm đây. Phào đó hả?
- Wow. Xin chào đại ca.
- Sao, bây giờ muốn nhận Ty Tài Chánh hay Ty Kinh Tế để tôi còn sắp xếp cho chú đây?
- Dạ. Chỗ nào cũng được miễn có thời giờ rảnh để phụ với anh em quét sân Chùa là được!
- Chú coi chừng người ta đang "luộc" chú đấy.
- Chắc không đâu đại ca. Người mà xưng hô mày tao mi tớ chắc thuộc nhóm thân thiết trong lớp đây. Anh chàng này chỉ chọc ghẹo cho vui thôi. Mà cũng bênh đệ đấy chứ. Đại ca đọc kỹ lại đi!

Có tiếng cười ở đầu dây, rồi lan cả sang đầu bên kia...

Sunday, October 04, 2009

Giỗ đầu Lâm Thanh


Kính Anh Hai Quẹo,

Giỗ Đầu của anh đã đến thật rồi sao Anh HAI QUẸO !

Út nghĩ là Út sẽ đọc lại CÕI QUÊ CÕI NHỚ của anh thêm một lần nữa, vì dường như năm xưa đã vội vàng lướt qua lời anh nhắn nhủ trong những gì anh viết, nhưng rồi Út đã không làm được .

Mở trang sách ra là lại thấy hình ảnh anh trong trí nhớ của Út : Anh HAI QUẸO miệt vườn, nhà thơ nhà văn LÂM THANH gắng sức ký tên tác giả lên tác phẩm của mình gởi lại bạn bè thân thương khi đã đến giờ anh phải đi xa ...

Anh đi đâu có đem theo gì đâu, tất cả anh đã để lại nơi trần gian này: Một trái tim yêu quê hương vô vàn - Một tấm lòng đôn hậu - Một đứa con tinh thần trong vòng tay nâng niu của bằng hữu - Một sẻ chia chân tình những năm tháng đã đi qua đời anh thật nặng nhọc, nhưng anh đã xem nhẹ nó đi ... thảng thốt dường như anh không còn thấy nó hiện diện bên cạnh anh nữa.

Bàn tay anh đã chai sần, nứt nẻ với cái cây, bụi chuối, ngọn cỏ, bờ ruộng ... và anh đã để lại những đơm hoa kết trái, mang theo với anh bàn tay sần sùi ấy về nơi xa xăm nào đó.

Có lẽ anh đã đem theo những cơn đau hành xác anh khi anh bệnh nữa, nhưng sao anh đã để nó lại trong những giòng chữ viết thật nhẹ nhàng - tưởng như chừng căn bệnh quái ác mà ai cũng sợ, chỉ riêng anh là xem thường, không sợ nó mảy may chút nào.

Trong tay anh, cục đất sẽ biết nói, hương hoa đồng nội sẽ toả ra tình quê, con cóc con nhái sẽ theo bén gót chân anh mà vui với cuộc sống huyền diệu này ... Rồi bạn bè anh cũng được anh dẫn đi khắp ngõ ngách ruộng vườn, thiên nhiên, mải mê với anh mà quên đi cõi ô trọc phiền luy.Út nhớ cái hóm hỉnh của anh, nhớ cái tỉ mỉ tẩn mẩn của anh bên con dế, con giun ... anh đã đem chúng vào cái chân lý sống hoà mình của cuộc sống thiên nhiên tuyệt vời

Năm xưa, khi Út xếp trang sách lại, Út đã mường tượng anh lúc anh cận bờ tử quy, thật khó khăn biết chừng nào anh HAI QUẸO hả, nhưng mà anh đã bình thản, lặng lẽ đi với cái đáng sợ ấy ... Bây giờ mở trang sách ra, Út cũng vẫn hình dung ra anh như ngày ấy vậy. Anh vẫn còn đâu đó quanh quẩn với những nặng lòng thương tiếc của gia đình, bạn bè .

Bỗng dưng Út tiếc thầm ... giá như mà Trời cho anh đi thêm một đoạn đường nữa, chắc là cuộc sống này sẽ vui thêm một chút anh ạ ... Dễ gì tìm được một ANH HAI QUẸO giống như anh vậy trên cõi đời này …

Anh là như vậy đó, anh HAI QUẸO ơi …

Kính Hương Linh Anh
Út Như Thương

Kỷ vật quý giá

Từ Một Người Bạn

Đúng vào ngày này năm ngoái thứ Ba ngày 7 tháng 10, 2008, quan tài anh Lâm Thành Hổ đã được di tới và hỏa táng tại nghĩa trang Forest Lawn Cemetery, Sydney, Australia. Tiễn đưa anh, có rất nhiều đại diện các hội đoàn, bằng hữu và đồng môn.

Anh Lâm Thành Hổ là một trong những cây viết cột trụ của Diễn Đàn CSV-QGHC và Thân Hữu dưới bút danh Lâm Thanh và Hai Quẹo. Anh đã cộng tác với Diễn Đàn ngay từ buổi ban đầu, và liên tục cho đến những ngày bệnh tình anh tái phát.

Bạn đồng môn, thân hữu và bạn đọc đặc biệt theo dõi và ca ngợi những bài viết của anh. Có người còn nói anh là một nhà văn sáng giá nhất của Diễn Đàn với lối văn trong sáng, khúc triết và dí dỏm. Dù rằng số lượng công trình sáng tác và biên khảo của anh không bằng Sơn Nam, nhưng văn phong của anh ít ra là không thua gì nhà văn này.

Cùng với Thanh Văn, Vũ Công Hùng, Lâm Thành Hổ đã ra về với cội nguồn quả là một mất mát khó bù đắp của Diễn Đàn. Tên tuổi và hình hài các anh chắc chắn sẽ vĩnh viễn lưu lại nơi tâm khảm chúng ta, người cầm bút cũng như bạn đọc.

Trong tháng Mười này Diễn Đàn sẽ đăng lại rải rác một số bài của anh Lâm Thành Hổ như những kỷ vật anh đã để lại cho chúng ta.


Diễn Đàn

Saturday, October 03, 2009

Giỗ một năm Lâm Thanh (File)

File: Báo tin buồn một năm trước đây

_
E-Mail sau cùng

Dưới đây là email sau cùng của Hổ trao đổi với Diễn Đàn, vào ngày 7 tháng 9 vừa qua:

Các bạn ở đây tự động sưu tập và làm cho mình quyển Tạp Bút và sẽ ra mắt ngày 5/10/2008. Địa chỉ bạn?
Gởi theo đây HAI bài. Bài Cá Kèo cho đăng liền
Bài Chụp Ếch đăng sau ngày 5 tháng 10/08. OK?
Nhớ giữ hộ đừng cho mất bài Chụp Ếch.
Thân. LTHổ
***
Tình trạng sức khỏe của Hổ bị suy sụp vào mấy tháng qua.
Thực ra Hổ đã biết trước điều gì sẽ phải xẩy đến cho anh.
Anh nhắc rằng "Giữ kín giùm", có lẽ vì bản tính kín đáo của anh.

Thế mà anh vẫn còn viết. Bài "Cá Kèo" và bài "Chụp Ếch" viết và gửi đi trong thời gian này.

Diễn Đàn

***

THƯƠNG NHỚ CHÚ HAI QUẸO

Chú Hai nó thiệt tình à nghen. Mắc mớ chi mà chú gấp gáp quá dzậy. Anh em vừa mới tìm được cái số tô lô phôn của chú, chưa kịp a lô một tiếng mà chú đã dzọt rồi. Giờ này thì chú đang thảnh thơi nơi miền Cực Lạc. Chú đi dzìa nơi Ánh Sáng Ngàn Thu với bác Cai Tròn, với Phạm Trần Hào và cả chục tên lớp mình. Chú là tân binh chắc mấy chả tiếp đón chú xôm tụ lắm phải hôn. Chú lên trển kể chuyện đồng quê Nam Bộ cho bà con nghe mà nhớ thương những ngày chăn trâu bắt dế. Chú để lại cho đời CÕI QUÊ CÕI NHỚ để người người nhớ chú với tất cả tâm tình mến yêu. Thôi! Chú ra đi bình an với đồng ruộng miền Nam mà chú ôm ấp với con tép con tôm, cái dưa quả cà. Nguyện cầu chú viên miễn nơi Tiên Cảnh.

Chị Lâm Thành Hổ và các cháu rất qúy mến. Bằng hữu lớp Mười Lăm Học Viện Quốc Gia Hành Chánh xin chia sẻ khăn tang với chị và các cháu. Bút mực nào có thể nói lên nỗi nhớ nhung, niềm thương tiếc người bạn hiền lành dễ thương là chồng của chị, là cha của các cháu. Chúng tôi cùng khóc với chị và các cháu.

Bút Tre TPThứ

***

NÓI VỚI BẠN LÂM THÀNH HỔ

Chưa hết một năm mà vùng trời ĐS 15 đã có 3 vì sao đổi ngôi :
tháng ba Phan Văn Tần,
tháng năm Phạm Trần Hào,
bây giờ tháng mười đến lượt Bạn, Lâm Thành Hổ.
Bạn Nguyễn Văn Nghĩa đã điểm danh và cho biết, trong số hơn 90 anh chị em khóa ĐS 15 ra trường tháng 12-1970, Bạn là người thứ 13 vừa phủi chưn, giũ hết bụi trần.

Cách nay mấy hôm, trên trang nhà dsxv, bạn bè đã nhận và tìm cách phối kiểm tin cho biết tình hình sức khỏe của Bạn đã tới lúc nguy kịch, không chắc Bạn còn kịp dự buổi ra mắt tập sách “ CÕI QUÊ CÕI NHỚ” của Bạn. Đọc tin, tôi nửa tin nửa ngờ, vì nhớ lại mới gần đây, dạo tháng tư, tháng năm, thấy văn phong của Bạn còn ngon lành, vẫn với nét ung dung, dí dỏm riêng của Bạn, không có vẻ gì là một người sắp lìa đời.

Bây giờ đọc lại bài tùy bút thật ngắn “ Một tấm lòng “ của Bạn hồi cuối tháng tư mới biết Bạn đã gởi tín hiệu của kẻ sẽ ra đi không trở lai. Xin trích:
“ Thiên đàng hay Niết bàn chính là cõi đời nầy. Cho nên người ước rằng, nếu có luân hồi tái sinh trở lại, xin được tiếp tục làm người. Cụ thể hơn, nếu quê hương được thật sự yên bình, người muốn sống lại cuộc sống của một người Việt Nam chân quê vùng sông nước nào đó để bù lại những ngày xa xứ hôm nay. Nhưng mà…

Người sẽ thành mây qua khỏi núi,
Im lìm sao rụng giữa trời không,
Có ai nghe tiếng hồn ru gió,
Hạt cát ru lòng một núi sông. “
Vậy là Bạn đã một mình xô thuyền tách bến.

Nhưng có lẽ Bạn không cần tái sinh, trừ phi Bạn còn thật nặng lòng với cõi nhân gian. Bạn đã bỏ cõi sống tạm về cõi vô cùng. Bạn không còn phải trông và nhớ cõi quê Việt Nam, cõi quê Trà Vinh nữa. Một khi đã về với đất mẹ, ở đâu cũng là quê hương. Bạn đang ôm quê hương vào lòng. Có chăng là chúng tôi, những người bạn và thân hữu còn ở lại, mỗi khi đọc lại thơ, văn của Bạn sẽ Nhớ Cõi Quê và nhớ Bạn.
Xin được cùng bạn bè và thân hữu của Bạn,
góp một lời chia buồn cùng gia đình Bạn,
góp một lời tiễn đưa Bạn,
góp một lời nguyện cho Bạn an nghĩ.
NQMINH PARIS

Dương Quân với Hội Ngộ 678


BỮA CƠM HỘI NGỘ

(Kính tặng Hội Ngộ 50 năm
Khóa DS 678 QGHC)

Hôm nay, mừng bạn trở về đây
Chén rượu hàn huyên rót thật đầy
Nhắc lại từng tên bao bạn cũ
Kẻ còn, người mất buổi chia tay.

Buổi ấy, bàng hoàng sáng tháng tư (*)
Bỗng dưng tan nát cả cơ đồ
Nưóc non tang tóc, người di hận
Tử sĩ hồn nương nặng bóng cờ.

Bạn ta, người chết tận rừng sâu
Giữa tuổi thanh xuân bị ngục tù
Nhiều kẻ vùi thân lòng biển lớn
Tiếng hờn theo gió thoảng vi vu

Hỡi ơi! Nhất khứ hề, vong quốc
Còn gặp nhau đây xiết đổi mừng
Lại nhớ những người xa vĩnh viễn
Nhạt nhòa đáy cốc rượu rưng rưng.

Uống đi! Đời đắng như men đắng
Dốc cạn hồ trường, hỏi tuổi nhau
Bạc thếch thời gian trên mái tóc
Một đời lưu lạc sớm qua mau .

Chút lòng mời bữa cơm đơn giản
Mấy chén dành riêng bạn đã xa
Thắp nén trầm hương chung tưởng niệm
Xin về hiển hiện ở quanh ta.

Dù bạn về đây, hay ở đâu
Vẫn như ngày trước, lúc ban đầu
Ngậm ngùi đất khách niềm thương cảm
Chí cả thu vào khóe mắt sâu.

Có thể sang năm không gặp nữa
Những người có mặt buổi hôm nay
Chỉ mong tình bạn luôn trong sáng
Nhật nguyệt hằng soi thế giới này.

Mong thấy quê hương được thái bình
Dân hiền thoát khỏi cảnh điêu linh
Bạo tàn sớm phải vào tiêu diệt
Trang sử đau buồn khép lại nhanh.

DƯƠNG QUÂN
(*) 30.4.75

Nhân "Hội Ngộ Nửa Thế Kỷ"


Lời Cảm Tạ Muộn Màng
Thưa quý anh,

Nhân ngày "Hội Ngộ Nửa Thế Kỷ", chúng tôi những người khóa sau muốn được viết ít lời chung vui với quý anh trong dư âm của ngày họp mặt hiếm hoi còn lại này của những khóa trước. Quý anh ở đây thuộc khóa 6,7,8 hoặc thuộc các khóa lớn hơn hay nhỏ hơn, có thể là 1,2 hay 9, 10 ...những khóa mà những lớp sau gọi là huynh trưởng.

Đôi mắt quý anh thuở xưa tinh tường cương nghị nay đã sụp xuống; mái tóc xưa đen nhánh nay đã muối tiêu hay bạc trắng, tướng đi nhanh trai vững chắc nay đôi khi phải mò đếm từng viên gạch, tránh từng hòn sỏi có thể gây tai nạn. Cái huyền diệu của thời gian ở đây lại hàm chứa nỗi ngậm ngùi mênh mang. Thế nhưng những người dàn em khóa sau chúng tôi biết rằng, chính những tấm thân gây gò đó đã từng thuộc về những con người tráng kiện với một tâm trí minh mẫn đã từng giang tay đón nhận và giúp đỡ những đồng môn đến sau khi họ còn chân ướt chân ráo ngày đáo nhiệm sở.

Tình đồng môn nẩy nở dưới mọi mái trường, nhưng dường như mối liên hệ ấy vang động hơn nơi những người xuất thân từ ngôi trường Học Viên Quốc Gia Hành Chánh. Gặp nhau mừng quá kéo nhau ra quán uống lon bia hả hê. Gặp nhau vì thân quá văng tục vài câu sao mà thoải mái, nhất là khi cùng khóa hay cùng tuổi. Cho dù không cùng khóa nhưng chỉ biết cùng trường thì đã cám thấy gần gũi và có trách nhiệm với nhau rồi. Cái tinh thần trách nhiệm ấy còn rõ ràng hơn nơi những người khóa trước đối với khóa sau.

Giữa chốn thành thị ồn ào hay nơi đồng chua nước mặn, trong thời bình hay giữa cảnh đổ nát chiến tranh, quý anh đã thể hiện rực rỡ trách nhiệm của mình đối với đám đàm em non trẻ, bằng những giúp đỡ vật chất, bằng những lời khuyên răn sâu sắc, quý giá.

Thầy chỉ lối đi vào rừng kiến thức. Huynh trưởng truyền lại kinh nghiệm. Thường thì khóa sau ít tuổi trời hơn khóa trước, một đôi khi lại lớn hơn, nhưng trong tuổi đời chuyên môn hành chánh, huynh trưởng nhất định là những người dày dạn kinh nghiệm hơn. Thầy chỉ theo trò một số năm, nhưng huynh truởng ở bên cạnh cả đời làm việc. Thầy được vinh danh, ghi nhớ công ơn, nhưng các huynh trưởng ít khi được nhắc đến. Nhớ đến thầy mà bỏ quên huynh trưởng là một thất thố trong xử thế không thể không đáng chê cười.

Khi nhìn những dòng cáo phó, phân ưu nhan nhản hàng ngày, bỗng giật mình thấy rằng chúng tôi đa phần đã bỏ quên quý anh, bỏ quên cả đến một lời cám ơn đơn giản nhất. Mong quý anh rộng lượng bỏ qua. Cũng như thuở xưa với quyền hành trong tay, quý anh đã bênh đỡ những trường hợp thất thố của đàn em, thì nay cũng vẫn với tấm lòng độ lượng ấy, xin bào chữa và nghĩ rằng "họ ở xa mình quá, vả lại bận vật lộn với cuộc sống, chứ thực ra họ không quên chúng mình đâu."

Các khóa đàn em chúng tôi xin chân thành gửi lời chúc sức khỏe và an vui tới quý anh, những huynh trưởng khả kính.

Điền Thảo

PHÂN ƯU


Vô cùng xúc động nhận được tin buồn
đồng môn:

TRẦN ĐIỀN
Pháp danh Giác Phước

Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh, Ban Đốc Sự Khóa 7
vừa từ trần ngày 02 tháng10 năm 2009 tại Orlando, Florida - Hoa Kỳ.
Hưởng thọ 72 tuổi

Xin thành kính chia buồn cùng Chị Trần Điền và tang quyến.
Nguyện cầu hương linh GIÁC PHƯỚC sớm được tiêu diêu miền Cực Lạc.
*
HỘI CỰU SINH VIÊN QUỐC GIA HÀNH CHÁNH NAM CALIFORNIA

Friday, October 02, 2009

Chia buồn


Được tin buồn đồng môn
Trần Điền
(Khóa 7)

Pháp danh Giác Phứơc

đã từ trần ngày 2 tháng 10 năm 2009 tại Orlando, Florida

Nhà quàn:
Baldwin Fairchild Funeral Homes,
301 N.E. Ivanhoe Blvd., Orlando, Florida 32804
Điện thoại 407-898-8111.

Giờ thăm viếng:
- Ngày Chủ Nhật 4 tháng 10 năm 2009, từ 4 giờ chiều đến 8 giờ tối
- Ngày Thứ Ba 6 tháng 10 năm 2009, từ 8 giờ sáng đến 10 giờ sáng
- 10 giờ sáng: Lễ hỏa táng

Thành kính chia buồn cùng tang quyến.
Nguyện cầu hương linh đồng môn Giác Phước sớm siêu thoát tịnh độ.
*
Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Miền Đông Hoa Kỳ
(Cám ơn anh Vũ mạnh Hùng báo tin)

Thơ Chu Vũ Lộc

Click to enlarge

Chú ý: Hình một số CSV đi kèm bài thơ được lấy ra tình cờ chỉ với mục đích trang trí.
(Diễn Đàn)

Thursday, October 01, 2009

Phân ưu


Được tin Đại Huynh
ÂU NGỌC TRÁC

Khóa 1 Quốc Gia Hành Chánh

đã thất lộc ngày 27 tháng 9 năm 2009
hưởng thọ 82 tuổi

Nhà quàn:
BATEMAN FUNERAL HOME
4220 EDGMONT AVENUE
BROOKHAVEN, PA 19015

Giờ thăm viếng:
Từ 10 giờ sáng đến 11 giờ sáng
thứ Bẩy, ngày 3 tháng 10 năm 2009


Thành kính phân ưu cùng tang quyến.
Nguyện cầu Đại Huynh sớm về cõi vĩnh hằng.
*
Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Miền Đông Hoa Kỳ

Thơ HTLương

Click to enlarge

Bài thơ nầy viết vào ngày 21/9, Oregon vừa chớm thu.
Cây lá vườn sau vẫn còn xanh, nhưng nắng đã phai.
Lòng tôi bỗng rưng buồn thương nhớ về xa, thương biết bao nhiêu chiếc lá vàng đổ
Hiu hắt buồn như những lá tình thư!
Tâm tình nầy biết tỏ cùng ai?
Thôi đành gửi vào thơ! Ôi tình người xa xứ....

Thiên tai liên miên tại Đông Nam Á


Có ít nhất 529 người được biết là đã chết trong một trận động đất tàn phá
xẩy ra tại đảo Sumatra, Nam Dương
(Theo BBC)

Phân ưu


Vô cùng xúc động nhận được tin buồn:

Đồng môn:

NGUYỄN THỊNH CHI
Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh, Ban Đốc Sự Khóa 12
vừa từ trần ngày 28 tháng 9 năm 2009 tại Saigòn, Việt Nam.
Hưởng thọ 66 tuổi

Xin thành kính chia buồn cùng Chị Nguyễn Thịnh Chi và tang quyến.
Nguyện cầu hương linh Bạn NGUYỄN THỊNH CHI sớm về cõi Phật.

**
HỘI CỰU SINH VIÊN QUỐC GIA HÀNH CHÁNH NAM CALIFORNIA


Phân ưu


Vô cùng xúc động nhận được tin buồn:

Huynh Trưởng:

ÂU NGỌC TRÁC

Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh, Ban Đốc Sự Khóa 1
vừa từ trần ngày 27 tháng 9 năm 2009 tại Philadelphia, PA – Hoa Kỳ
Hưởng thọ 82 tuổi

Xin thành kính chia buồn cùng gia đình Huynh Trường và tang quyến.
Nguyện cầu hương linh Huynh Trường sớm về cõi vĩnh hằng.

**
HỘI CỰU SINH VIÊN QUỐC GIA HÀNH CHÁNH NAM CALIFORNIA