Wednesday, February 11, 2009

Sù sì da Cóc trong bọc trứng Tiên

THAM LUẬN
về cái tốt xấu của người Việt

Diễn Đàn mới nhận được bài tham luận của ông Nguyễn Quang do CSV Đào Văn Bình gửi tới. Khi mổ xẻ vấn đề khá kỹ lưỡng, tác giả đào sâu vào những nguyên do tác hại tạo ra những tính xấu của chúng ta, và muốn tìm về nguồn cội để mong thoát khỏi tai ách cho dân tộc. Những bài viết mang tính tích cực xây dựng như bài tham luận của ông Nguyễn Quang dưới đây thực đáng cổ võ và phổ biến rộng rãi để chúng ta cùng suy gẫm. (Diễn Đàn)
"Lúc trước có nhiều người nghĩ là việc nước có chính quyền lo, nhưng khi nước mất và mọi nhà tan rồi thì tìm ai mà đòi hỏi lại cái nhà của mình, vì dân là cái gốc mà đã tan rồi thì chính quyền dẫu có còn thì cũng chẳng biết để làm gì ! Quên cái gốc nhân ái và công bằng của Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long một cách vô ý thức hay có ý thức đều nảy ra cái ung phân hoá chia ly, có kêu gào nhau đoàn kết mấy cũng chỉ là những tiếng kêu trong sa mạc ! Đáp đề của nan đề đất nước của chúng ta không ở đâu xa, không phải bên Moscow, bên Bắc Kinh hay Washington, mà chính trong lòng mỗi chúng ta và đồng thời trong tất cả chúng ta."
"Người Tàu đã giam hãm dân tộc chúng ta trong nghèo đói và ngu dốt triền miên, rồi bảo dân tộc ta là man di mọi rợ!( Nam man ). Ngày nay Bắc Kinh đang xiết gọng kìm lên cộng nô để đẩy mạnh công việc đồng hoá mà họ đã mưu toan qua nhiều ngàn năm nay! Do cái tư tưởng “ vi nhân bất phú, vi phú bất nhân “ cũng như cái lối học chuộng từ chương khoa cử của Hán Nho, nên cha ông chúng ta không đi vào công thương, và nghiên cứu khoa học kỹ thuật để giúp phát triển kinh tế, như vậy làm sao nâng cao dân sinh và dân trí được, đó cũng là một lý do kìm hãm xã hội ta trong cảnh khốn cùng lạc hậu"
Nguyễn Quang

Tôi vừa đọc bài “ Những đức tính Tốt và Xấu của người Việt “ của Ông Đảo Văn Bình.
Tôi rất vui và đắc ý vì ông Bình đã có cái nhìn “ quy tư “ về con Người chính mình và đồng bào mình. Cái nhìn khó nhất trên đời là con Người chính mình và con Người của đồng bào mình. Nói về chuyện người thì ai cũng hám nghe, nhưng khi nói về mình về đồng bào mình, nhất là chuyện xấu thì thật là khó nghe, người nghe có cảm tưởng người viết có ý lên mặt dạy đời, nhưng khổ thay với bệnh tình đất nước hiện nay, có chẩn đúng bệnh và có “ thuốc đắng có mới dã được tật “.

Ta biết ngày nay, con người Việt ta đã quá phân hóa, xã hội đã quá rối ren, vì mọi chuyện xấu trong xã hội đều do con. Người không tốt làm ra. Người ta đã chẳng nói: “ thế giới được dẫn đạo bởi những tư tưởng “, mà tư tưởng sai đưa đến hành động sai. Lại nữa khi những hành động sai đã quen nếp thì thất khó mà sửa đổi. Khi mà đầu óc đã vấy bẩn, đôi tay đã dính bùn, thì phỏng có làm được điều gì tốt đẹp nên thân, cứ xem những người CSVN cứ chạy quanh những hiện tượng sa đọa hôm nay thì ta thấy rõ, cái sa đoạ lớn nhất là vong nô bán nước. Vấn đề của đất nước ta bắt nguồn tận mãi tâm khảm mỗi người, có tính cách nội khởi trong mỗi người, mọi người, không thể cứ “ xoa dầu cù là “ ngoài hiện tượng rối ren để mà chữa các thói xấu của mình và tệ nạn xã hội được!

Vấn đề khó nhất và nguy hiểm nhất của con người là chính mình, vì mình bị chính cái không gian của mình che khuất và thời gian quá khứ và tương lai ám ảnh, nên không bao gìờ mình có cái nhìn chính xác con Người mình Nơi đây ( không gian đang sống ) và Bây giờ (từng giây phút hiện tại ). Do đó mà không thấy vấn đề gây ra nan đề, thì làm sao mà tìm ra đáp đề. Vì “ Việc người thì sáng, việc mình thì quáng “ nên người ta thường hay xét nét về người khác, còn đối với mình thì lại rất đại lượng, do đó mà luôn luôn con Người” đã cũ vẫn như cũ “ hay ngày càng tệ hơn!

Ông Bình có nêu lên 10 điều tốt và 10 điều xấu của người Việt ta, trong đó cách này hay cách khác đều có phần của mỗi chúng ta. Trong 10 điều tốt như: Tư chất thông minh; cần mẫn, nhẫn nại; chịu đựng khó khăn; tinh thần đùm bọc của gia đình; quý trọng việc học và người có học; yêu nước nồng nàn; biết giữ gìn bản sắc dân tộc. . ., thì theo tôi những đức tính có tư chất thông minh, tinh thần đùm bọc gia đình, qưý trọng việc học,. . . là những mẩu tinh hoa còn sót lại từ nền văn hoá xưa rất xưa, mà ta bỏ quên và khinh suất, nó khởi tận từ nền văn hoá Hoà Bình, cũng như từ nước Văn Lang cũa Tổ tiên xưa, đây là một vấn đề dài hơi, không thể nêu ra trong khuôn khổ bài này.

Còn đức tính cần mẫn; nhẫn nại; chịu đứng khó khăn, một phần là do hoàn cảnh bị nô lệ lâu dài buộc phải thích ứng với hoàn cảnh khó khăn để sinh tồn. Còn 10 điều xấu như: không tôn trọng giờ giấc, vô kỷ luật, không tôn trọng của công, vô trách nhiêm, hay nói dối, nói quanh, không làm ăn chung hùn hạp được với người khác ( cái tiểu tâm, tiểu trí, tiểu danh, tiểu lợi do hoàn cảnh bị nghèo đói sinh đạo tặc mà nhiễm vào ), thì theo thiển ý những tính xấu này đều được tiêm nhiễm vào do bị áp bức bóc lột trong những đêm trường nô lệ, cái tệ hại nhất là đến khi được độc lập cứ ù lì như trước , không có những cuộc vận động chung để tẩy xoá cái xấu và phát triển cái tốt, mà ai nấy cứ theo đường cũ mà sống với nhau, nên tiếp tục gây ra những thảm hoạ như ngày nay. Cố triết gia Kim Định đã có những nhận định dẫn chứng như sau: Tính hay nết xấu của người Việt ( Vấn đề Quốc học: 5.- Nết xấu của. . . : Kim Định )

I .- Nết xấu của dân tộc

1.- Do bị bóc lột áp bức mà nhiễm vào
“ Hỏi rằng có nét xấu nào gọi được là dân tộc tính chăng? Nên phân biệt, nếu là xét về Thể thì không có vì nhờ nền văn hoá đạt Cơ ( trong phạm trù Ý, Từ , Dụng, Cơ ) , thì tất cả những nhu yếu nền tảng đều đã có chỗ ứng đáp. Nhưng nếu xét về Dụng tức là do hoàn cảnh ngoại lai thì mấy nét xấu sau đây có thể gọi được là gắn liền với dân tộc, một là gian vặt hai là cẩu thả và ba là thiếu lòng chung. Cả ba gây nên do tình trạng của nước bé nhỏ sống bên cạnh một nước quá lớn, hay bị xâm chiếm đô hộ thì tất nhiên phải chịu nhiều bất công nên nhu yếu sinh tồn bắt phải tìm những lề lồi ngang ngửa quặt quẹo để sống. Trong các lối đó phải kể trước hết là:

a.-Sự gian lận
Thí dụ lúc người Pháp còn cai trị lập ra sở Đoan, muốn để giữ độc quyền mua bán muối. Mua vào 6 xu bán ra 9 cắc (hay là 90 xu tức 15 lần đắt hơn. Đây là thí dụ có thực ở Bắc Việt). Với giá mua rẻ mạt như vậy tất nhiên dân làm muối quá khổ, cần phải gian lận, giấu giếm một ít để bán lậu. Thế là có cả một hệ thống buôn muối lậu mà ai cũng cho là phải lẽ. Nói là gian lận thì không đúng, vì đó là của mồ hôi nước mắt mình, nay bị ngoại bang tham tàn đến cướp miếng cơm thì mình có quyền phản kháng nhưng vì quá yếu phản kháng vô ích chỉ còn cách làm lén một việc không hề phạm tới quyền lợi của ai, vì thế được mọi người chấp nhận. Nhưng chính sự chấp nhận đó lâu ngày gây nên tật xấu là gian dối.

Tôi có đọc trong một quyển sử Pháp nào đó lời phàn nàn rằng sau bốn năm quân Đức chiếm đóng, người Pháp phải nói dối để tự vệ, để giúp du kích quân.... thế là khi lấy lại được độc lập thì nhiều người Pháp đã mắc tật nói dối, gian lận...
Mới có 4 năm Đức chiếm đóng mà tật gian dối đã xâm nhập một số người Pháp, huống chi từng ngàn năm Bắc thuộc, rồi 80 năm Pháp thuộc thì người Việt Nam thoát sao khỏi cảnh bị tẩm nhuận trong việc ăn gian nói dối. Khi nó lan vào giới công chức nhất là những đợt cao cấp thì sẽ làm tê liệt mãi mãi quê hương ta. Không một việc lớn nào có thể hiện thực khi chính quyền gồm phần lớn những đầu óc tham nhũng.

b.- Cầu thả
Tật xấu thứ hai cũng do cảnh tiểu nhược quốc bên cạnh nước khổng lồ, không bao giờ được hưởng thái bình lâu dài nên cứ phải làm lại cuộc đời luôn luôn. Sự kiện đó gây nên tâm trạng “ ăn xổi ở thì “ lâu ngày đâm ra quen không thích những lối làm việc dài hơi. Thế là lâu ngày đoạ ra cầu thả. Đấy là một nết xấu rất tai hại, Con đường người Việt tráng nhựa thì hầu như phải làm lại một năm. Dây điện cao độ do người Việt mắc chưa xong mà các cây sắt đã quằn hoặc trệ xuống. Quyển Kinh Thư do trung tâm học liệu xuất bản mà không có đến cả một mục lục. Quyển Xuân Thu thì phải kể là thùng rác... Hầu hết cách chua xuất xứ trong các sách khảo cứu của ta còn xa lắm mới đạt sự cẩn thận của khoa học gia... Đây là một tật xấu rất tai hại, có sửa đổi được thì nước mới trông tiến bộ. Sau trận thế chiến thứ hai thì Nhật và Đức là hai nước đã phục hưng một cách mau lẹ hiện nay Nhật đứng thứ ba Đức thứ bốn sau Mỹ, Nga. Cái gì đã giúp hai nước này tiến được như thế? Có nhiều lý do nhưng các nhà quan sát đều nhận thấy ở cả hai nước một yếu tố chung thuộc tinh thần đó là sự ham mê việc làm, nhờ vậy việc nào làm cũng tới nơi tới chốn. Có thể nói đức tính này đứng đầu trong các nhân tố đẩy đà tiến mạnh của hai nước Đức Nhật. Đấy là tấm gương trong mà người nước ta cần phải soi đêm soi ngày cho tới lúc bất cứ việc gì to nhỏ không làm thì thôi, đã làm là làm tới chốn. Chỉ có thế nước nhà mới trông theo kịp thế giới.

c.- Thiếu lòng chung
Nét xấu thứ ba là thiếu lòng chung không chú ý đến lợi ích công cộng. Điều này xem ra trái ngược với tinh thần công thể mà chúng tôi đã gọi là một dân tộc tính. Quả thiệt nó là một dân tộc tính phát xuất từ tình huynh đệ phổ biến, nên đã được thi hành ở nhiều đợt: gia đình, làng xã, quốc gia. Tuy nhiên xuyên qua các đời tinh thần công thể đã không gặp bầu khí thuận lợi cho sự nẩy nở do tình trạng luôn luôn bị đô hộ. Một khi chủ quyền đã vào tay ngoại bang thì khó có thể còn lòng chung, và lúc ấy lòng chung chỉ còn được biểu lộ qua những vận động đánh đuổi xâm lăng.

Sự đánh đuổi này có nhiều độ: có khi là phá cầu cống đê điều có khi là tẩy chay hay làm việc công cho qua lần... Thế là ít lâu công dân cũng như công chức mất tinh thần lo cho công ích để chỉ còn biết lo cho gia đình. Vì thế hiện nay ta thấy các nhà tư gia của các ông bự thì rất đẹp, đang khi các cơ sở chung thì rất tồi tệ. Ngược hẳn với bên Đài Loan nhà của các ông lớn xuýt xoát như nhà dân có hơn cũng không nhiều, đang khi đó các công sở đều đẹp đẽ tráng lệ, nước nhà lại trong tình trạng chậm tiến. Và cũng là những bóng đen che khuất lấp mất những đức tính cố hữu của dân tộc.

Vì thế muốn nhìn ra cần phải vượt nhiều đợt trật đường do ngoại bang, thí dụ “bình sản” là một nét dân tộc nhưng vì bị ảnh hưởng của Tàu (tự đời Tần, Hán... xem Cửa Khổng) nên bình sản co lại như miếng da lừa: Ngoài Bắc còn có 20 phần trăm, Trung còn có 26 phần trăm, đến Nam vì chịu thêm một ách đô hộ mới của Pháp nữa nên chi còn được có hơn hai phần trăm. Vậy nếu căn cứ trên số lượng công điền hiện có thì làm sao nói được “bình sản” là một nét của dân tộc. Muốn thấy câu trên đúng thì phải vượt qua nhiều đợt trở ngại chắn khuất. Chính vì sự vượt qua này khó khăn không phải ai cũng có mắt tinh tường để minh biện, nên khi nói đến dân tộc tính ít có sự đồng ý là vì vậy. Bởi vì trong mọi địa hạt đều có sự lấn át tương tự như trong vụ bình sản nhưng không hiện lên trong hình tích đếm đo được. Tuy nhiên vẫn có đó trong tình trạng hôn mê và ta có thể dùng những tỷ lệ ruộng công trên (20, 26, 25 phần trăm) làm như tiêu biểu của sự sa sút của đức tính dân tộc gây nên do những căn do bên ngoài.

Còn cái tật xấu nguy hại nhất là chia rẽ, đây không phải là dân tộc tính, vì nó trái hẳn với triết lý bọc Âu Cơ. Vậy đó chỉ là ác quả của cuộc ngoại nhân đô hộ. Thực dân Tàu hay Pháp đều dùng lối chia để trị, lâu ngày sự chia rẽ thấu vào xương tủy dân bị trị, nên nay sự chia rẽ đã trở nên quốc nạn. Nhiều người Việt tỵ nạn không ngần ngại tuyên bố là sợ người Việt. Người Việt mà còn sợ người Việt, thì mong gì được ngoại bang kính yêu. Xem trong sử tự đầu bao cuộc khôi phục độc lập đã thất bại cũng vì chia rẽ. Hiện nay trong nước ta trở nên nô lệ cho Nga Sô và nhất là cho Tàu do bọn Việt Cộng.

Vậy muốn phục quốc mà không trừ nổi nạn chia rẽ thì phục quốc chỉ là chuyện diệu vợi. Còn vụ cẩu thả và gian lận cũng do nền thống trị ngoại nhân. Với óc quật cường của dân ta không đánh đuổi được chúng thì phá hoại. Làm cho qua lần là môt hình thức phá hoại. Gian lận cũng thế, tài sản của mình bị thực dân cướp đoạt làm sao không dành lại. Nhưng sức yếu thì phải dùng lối gian lận, lâu ngày trở thành thói quen . Đó là tật xấu cần phải tẩy rửa . Tẩy rửa để xây dựng lại con người Nhân chủ để cho nó mạnh hơn không chỉ hành động như môt con người yếu đuối chỉ biết làm những điều tiêu cực “. ( Hết trích )

2 .- Do bị vây khổn trong thôn trang
Để cho dễ hiểu, ta nên nhận biết dân tộc ta có hai thành phần, một thành phần làm nghề nông gồm Sĩ Nông, sống quay quần trong các làng xóm sau những luỹ tre xanh. Còn thành phần khác ở thành thị chuyên về Công Thương, đa số là gốc từ Tàu, qua các cuộc xâm lăng. Nhờ công thương phát triển hơn mà người Tàu phát triển được nhiểu lãnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá. . . Nhìn khắp Đông Nam Á ta đều có thể nhận diện ra điều này. Ngoài các tật xấu như đã nêu trên, đa số nhân dân ta còn có cái thất lợi lớn hơn nữa là chỉ sống trong môi trường khó khăn ở nông thôn. Số là khi bị người Tàu cai trị cũng như khi đã độc lập, người Việt vẫn lấy thôn làng làm cứ điểm để bảo vệ cái gốc Sĩ, Nông của mình hầu tránh nạn đồng hoá. Còn Công Thương thì người Hoa ở trong nước ta nắm phần lớn. Họ nắm phần lớn huyết mạch kinh tế của mình, nhiều khi họ đầu cơ tích trử làm cho dân Sĩ Nông điêu đứng !

Lại nữa làm nghề nông thì khi nào cũng khổ, được mùa thì lúa gạo rẻ không có tiền tiêu, khi mất mùa thì thiếu cả tiêu và cả ăn, như thế thì làm sao mà phát triển mọi thứ được. Cha ông chúng ta đã bảo : “ Cái khó bó cái khôn “ là thế ! Khi nền kinh tế không phát triển thỉ mọi ngành khác đều bị đình trệ, nhất là văn hoá, vì khi sống trong vòng túng quẩn người ta khó có đủ điều kiện sống theo Lễ Nghĩa ( phú qúy sinh lễ nghĩa ) được. “ Bần cùng sinh đạo tặc” là thế ! Cứ nhìn vào hiện tình trong nước ngày nay thì rõ. Cái khó luôn bó cái khôn, cứ bị bó mãi trong nghèo đói và ngu dốt nhiều đời tất con Người sẽ trở lại lốt ngợm!!

Người Tàu đã giam hãm dân tộc chúng ta trong nghèo đói và ngu dốt triền miên, rồi bảo dân tộc ta là man di mọi rợ!( Nam man ). Ngày nay Bắc Kinh đang xiết gọng kìm lên cộng nô để đẩy mạnh công việc đồng hoá mà họ đã mưu toan qua nhiều ngàn năm nay! Do cái tư tưởng “ vi nhân bất phú, vi phú bất nhân “ cũng như cái lối học chuộng từ chương khoa cử của Hán Nho, nên cha ông chúng ta không đi vào công thương, và nghiên cứu khoa học kỹ thuật để giúp phát triển kinh tế, như vậy làm sao nâng cao dân sinh và dân trí được, đó cũng là một lý do kìm hãm xã hội ta trong cảnh khốn cùng lạc hậu .

3 .- Vài hiện tượng sa đoạ gần đây
Gẫm lại, nếu mọi người con dân đất Việt thâm tín rằng mình thuộc giống nòi cao quý, con Rồng cháu Tiên, người Phật giáo tin rằng mình là Phật sẽ thành, người Công giáo tin trong mình có đền Chúa ngự, người Nho giáo tin là “ Thiên lý tại nhân tâm “ tức là Thượng Đế ở ngay trong lòng mình, các tín đồ các tôn giáo khác cũng có niềm tin cao quý như vậy, thì đâu con dân đất Việt lại ăn ở bất xứng tàn tệ với nhau như thế, để lâm vào cảnh bị phân hoá trầm trọng không lối thoát như ngày nay !

Sống trong cảnh phân hoá trầm trọng, thay vì tìm cách cứu gỡ, lại ngày càng đối xử cực đoan với nhau mà không sao tiêu diệt được nhau, thì chỉ làm cho cảnh phân hoá càng thêm tồi tệ! Đây là lúc cần đến sự hướng dẫn tích cực của các nhà lãnh đạo tôn giáo các vị trí thức khoa bảng cho đường lối tích cực, cho phương thức hữu hiệu để tháo gỡ cái mối tơ vò trên.

Cái sảy quên gốc nảy ra cái ung phân hoá của dân Việt là ở chỗ đó. Thí dụ: Trước đây, tuy người Việt nào cũng bảo mình là con Rồng cháu Tiên, tức là con cháu của Tổ tiên đầy lòng nhân ái và lẽ công bằng, nhưng trong sự đối xử với nhau có đâu được như là đồng bào, nay khi tỵ nạn ra ở nước ngoài, lại lùi thêm một bước nữa là không gọi nhau bằng đồng bào mà là đồng hương, nghĩa là muốn phủ nhận cái gốc Rồng Tiên rồi, để mà ăn thua đủ với nhau!

Đây là cái ngõ bí rất khó tháo gỡ, nếu không trở về gốc Tổ tiên để un đúc Nhân Trí Dũng thì xem ra vô vọng. Sai một ly lạc đi một dặm là vậy! Chỉ có đường lối “ Chí Nhân và Đại Nghĩa “ thì may ra có lối thoát, còn chạy lộn quanh theo lối CS thì ngàn đời như thế, rồi cũng là “ vẫn thế “! Cứ để cho anh em đồng bào sống trong cái vòng “ Tư tưởng ngõ cụt “ thì rất có lợi cho ngoại nhân dễ bề trục lợi, thôn tính và vây hãm. Không ai đóng cữa Chùa, thì lỗi nói chung là của tất cả các sãi, không nên ngồi bắt lỗi nhau mà cùng rủ nhau ra đóng cữa Chùa đang mở toang !

Lúc trước có nhiều người nghĩ là việc nước có chính quyền lo, nhưng khi nước mất và mọi nhà tan rồi thì tìm ai mà đòi hỏi lại cái nhà của mình, vì dân là cái gốc mà đã tan rồi thì chính quyền dẫu có còn thì cũng chẳng biết để làm gì ! Quên cái gốc nhân ái và công bằng của Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long một cách vô ý thức hay có ý thức đều nảy ra cái ung phân hoá chia ly, có kêu gào nhau đoàn kết mấy cũng chỉ là những tiếng kêu trong sa mạc ! Đáp đề của nan đề đất nước của chúng ta không ở đâu xa, không phải bên Moscow, bên Bắc Kinh hay Washington, mà chính trong lòng mỗi chúng ta và đồng thời trong tất cả chúng ta .

Việc thứ hai khi qua các nước Tây phương, ta đổi cái tên lộn ngược, tên trước họ sau : Tên trước là (Me first ), mối liên hệ này với tha nhân là “ I , that “ , tức là “ tôi với người đó ( cái đó ) “ . Ai cũng you cả, Thượng Đế cũng you, con mèo cũng you nốt .
Do đó mà họ sống theo lối cá nhân chủ nghĩa, coi nhẹ mối liên hệ với những người khác, đầu mối cho sự phân hoá. Còn người Tây phương chỉ có một luân Chủ Nô mà thôi, nay một số thanh niên nam nữ lơ là hay bỏ tinh thần tôn giáo mà sống theo “ kiểu thích và không thích “, ( likes and dislikes ) thì tốc độ sự phân hoá càng nhanh. Không biết chỉ có luật pháp, là hàng rào bên ngoài có tác dụng gìn giữ được đến bao lâu?

Còn Việt Nam ta là đặt Họ ( Family first ) trước Tên sau, nghĩa là dân mình tôn trọng và sống theo tính thần công thể, coi trọng tôn ti trật tự, lấy Luân thường Đạo lý làm trọng: ta có Ngũ Thường để tu thân, có Ngũ Luân để ăn ở với nhau theo lẽ công bằng, đây là lối sống nghĩa nặng tình sâu . Đó là tiêu chuẩn đạo lý chung cho mọi người y cứ. Nay qua đây sống ở Tây phương, nếu ta coi luân thường đạo lý là cổ hủ, xem gia đình không là nơi ươm tình người nữa, mà sống theo cá nhân chủ nghĩa thì dễ đánh mất Tình Người. Con người mà để đánh mất tình người thì chỉ còn có Lý, mà Lý chay và cực đoan nữa thì dễ sa vào vòng gian ác lưu manh.! Gương Tam vô của CSVN đang sờ sờ ra đó. Việt Cộng cũng nói là chúng tôi có” Tình Hữu Ái Giai Cấp”, nhưng khốn nỗi đây là mối tình băng đảng, nếu có thì cũng để xuí dục nhau dấy động lòng căm thù để tàn hại giai cấp khác, chứ đâu là “ tình đồng bào” hay tình “ Tứ hải giai huynh đệ “.

Con người quên Gốc và thiếu Tình người tất không phải là con người tốt về đường ăn lối ở, chỉ tổ gây rối cho gia đình và xã hội.
Cái gương không mấy tốt đẹp của môt số thanh niên hư hỏng người Mỹ đối với cha mẹ cũng cho ta thí dụ cụ thể về điều nhức nhối thấu xương trên, ngày nay những cảnh sống thương luân bại lý này cũng không hiếm hoi gì nơi một số gia đình Việt Nam.. Có một điều rõ ràng nhất là những ai còn giữ được nề nếp gia đình thì bất cứ ở đâu và nơi nào cũng thành công tốt đẹp ! Đành rằng khi sống ở nước ngoài ta phải theo tục lệ của nước đó, trong giấy tờ khai sinh hay căn cước ta phải đổi lộn tên ngược như thế, nhưng khi ở chung trong cộng đồng người Việt với nhau, ta phải để ý đền vấn đề này, tức là vấn đề sống theo tinh thần gia tộc, theo tinh thàn công thể, để còn ngó mặt nhau. Ngày nay đã có những người Việt Nam không muốn sống gần, giao thiệp với người Việt Nam nữa, cả hai bên đều mang nhục vong bản chung mà không nhận biết. Vì vậy mà chúng ta nên luôn nhắc nhở nhau lưu tâm đến vấn đề hệ trọng đó, cũng như giúp cho thế hệ trẻ hiểu rõ được ý nghĩa tốt đẹp của nền văn hoá trọng công thể qua cái tên, cũng như giới thiệu với dân địa phương nét đẹp văn hoá này của ta.

II.- Cái hay còn giữ được
Nguồn gốc và ơn ích của gia đình Việt ( Pho tượng đẹp nhất của Việt tộc: Phần phụ trương I. Lược ý Đề tài thảo luận. Kim Định ) “ Trẻ Việt học rất giỏi ai cũng hãnh diện. Người Mỹ rất ngạc nhiên, không hiểu tại đâu. Ðã có người đi điều tra tận mãi bên Ðông Á, họ không thấy cái gì chứng tỏ là người Á Ðông có thiên phú trội hơn người Âu Tây, nên hầu hết đi đến kết luận sau: lý do căn để là bởi gia đình.

1.- Gia đình vững thì con em học giỏi Ðiều ấy cũng xẩy ra cho các gia đình Mỹ bậc trung lưu trở lên. Ngoài ra về tiền của, các gia đình trung lưu của người Ðông phương cũng tiến mau hơn . . . , ấy cũng nhờ gia đình . Nội một gia đình lỏng lẻo hay ăn cơm tiệm, con cái sớm ra ở riêng. . . gây tốn phí gấp bao. Chỉ kể sơ qua hai ơn ích đó đủ chứng tỏ ga đình là một giá trị rất lớn cần phải hét sức duy trì. Ðến khi nghiên cứu về nguồn gốc văn hoá mới thấy giá trị còn cao hơn nhiều lắm. Các nhà xã hội học nhận thấy rằng:

2.- Ở đâu gia đình vững thì không có chế độ nô lệ Cái đó dễ hiểu vì người trong gia đình có ai bị bắt làm nô lệ bao giờ. Vậy mà tinh thần gia tộc của ta đã được duy trì qua bao ngàn năm. Khởi đầu là Hồng Bàng thị . Chú ý chữ Thị nói lên tinh thần gia tộc. Tinh thần đó đã vẫn giữ được từ khi Bộ lạc bước lên đợt Quốc gia, thành ra quốc gia cũng chỉ là bộ tộc mở rộng, cũng như bộ tộc cũng chỉ là mở rộng thị tộc, như thị tộc là nối tiếp gia tộc. Chính vì thế mà người trong nước xưng nhau bằng những danh xưng thuộc gia đình như bà con, cô, bác, chú, thím, cha, ông. Và bất cứ ai dù không ở trong gia tộc cũng xưng hô là ông, bà, cô, thím, chị, em . . . Ðó là hiện tượng rất lạ. Tôi còn nhớ cảm tưởng thú vị xưa khi đọc sách Tây họ bỡ ngỡ biết bao vì người ăn mày bên ta cũng được gọi là ông là bà. Họ ngạc nhiên vì bên Âu Tây ai cũng gọi nhau bằng you, vous, Chúa cũng gọi là you, , mà con mèo cũng gọi là you. Vi xã hội họ không xây trên mẫu gia đình mà trên mẫu chủ nô. Ai có của thì là chủ ai không có của thì là nô. Ðó là nền móng xã hội La Hy. Người Tàu cũng chỉ có ngộ với nị, nên xã hội nhiểu nô lệ hơn bên ta, và phá chế độ nô lệ muộn.

Bên La Mã xưa có phép đầu phiếu “ bách tiền ” gọi là Centuric. Tiếng này gốc từ tiếng La Tinh Centrum là trăm. Hễ ai có được một trăm ngàn thì có quyền bỏ phiếu, nhiều trăm ngàn thì bỏ nhiều phiếu. Không có tiền không được bỏ phiếu. Ðó là tại xã hội xây trên tài sản chứ không trên tình gia đình, mà vì quy chế tài sản là tuyệt đối ( quyền tư hữu tuyệt đối ), nên 2, 3 người có, 7, 8 người không, thành ra đến 70 – 80 % người trong xã hội là nô lệ, chỉ chừng 20 % là có tự do. Ðời ấy người ta chỉ mới biết có công bằng trừu tượng khái quát mà chưa biết đến công bằng xã hội, tức là người nào trong nước cũng phải được tham dự tài sản trong nước. Công Bằng xã hội mới được nói đến từ thế kỷ 19.

Còn bên ta có ngay từ đầu với phép công điền công thổ, tức là ai ai hễ đến tuổi đều được làng cấp ruộng. Làng tôi mỗi đinh được 5 sào, nhưng có người giữ miếng đất hay vườn quá 5 sào mà không tiện chia cắt thì người đó phải theo “ rong canh ” những sào dư : mỗi sào 5 thùng thóc. Người đến tuổi đinh được có phần điền mà không có ruộng thì được người khác theo rong canh cho 25 thùng, thành thử không ai trong nước là vô sản hết. Ông Paul Mus có nói người Việt Nam nghèo thiệt, nhưng nghèo cả hàng tổng: lợi tức không có chênh lệch quá lớn về giàu nghèo như các xã hội tư bản. Ðó là nhờ phép công điền.

Phép công điền đã được nói bóng trong truyện Mẹ Âu Cơ đẻ cái bọc 100 trứng , bà sợ vất ra ngoài đồng thế mà rồi con nào cũng được phương trưởng cả . Ðại ý là con nào cũng được bao bọc như nhau. Vất ra ngoài đồng tức là nền nông nghiệp theo chế độ công điền, nên con nào cũng phương trưởng hết. Không ai phải làm nô lệ vì thiếu phần điền. Ðến sau Việt Nho lược đồ hoá lý tưởng trên bằng phép Tỉnh Ðiền: nghĩa là chia lô dât ra 9 lô theo hình chữ Tỉnh ( 井 ) cho 8 gia đình 8 lô , còn lô giữ để nộp cho vua , trong đó có đào một cái giếng chung chữ Nho kêu là tỉnh, nên gọi là Tỉnh Ðiền . Tỉnh điền hay bọc Mẹ Âu Cơ ném ra ngoài đồng đều chỉ phép công điền công thổ mà tôi gọi là Bình Sản : tài sản chia đều cho mỗi người dân .

Phép ấy tiên Tổ ta đã có ngay từ Hồng Bàng thị. Chữ Thị nói lên tinh thần gia tộc, mà về sau các bà còn mang trong tên . Lâu ngày người ta coi thường chữ ấy, nhưng ở thời khai nguyên thì chữ đó cao trọng lắm, nó chỉ tinh thần mậu hệ, đặt vợ trước chồng. Nước được lập ra do 50 con theo Mẹ lên núi, chứ không do 50 con theo Cha xuống biển, nghĩa bóng là văn hoá vẫn giữ được tình người, mà trong triết gọi là giữ được nguyên lý Mẹ. Còn văn hoá Tây Âu thì không, nên mang tiếng đực rựa : duy Dương, duy Lý, mà hình thái cùng cực là Cộng sản duy vật chống lại mọi thứ tình: tình Nhà, tình Nước, tình Trời, gọi là Tam vô: vô Gia đình, vô Tổ quốc, vô Tôn giáo, cho nên thuyết Tam vô Cộng sản cũng nẩy sinh từ Tây Âu là chuyện đương nhiên và những người còn cố bênh vực Karl Marx , Hồ Chí Minh đổ tội cho Lénin, cho Ðồng Duẩn là tỏ ra chưa nghiên cứu thấu triệt văn hoá Âu Tây . Cũng như nói đến Việt Nam có chế độ nô lệ thì chỉ là nói theo “ đảng tính ” tức là đảng nói vậy chứ có xét đến nguồn gốc thì có trung thực đâu.

Ðành rằng trong thực tế không giữ được đầy đủ như trong lý tưởng, nên có những hiện tượng nô lệ. Chú ý hiện tượng chứ không phải chế độ. Nếu chế độ thì là việc luật pháp, người nô lệ có tiền cũng không thoát ra khỏi chế độ nô lệ. Còn hiện tượng không có hàng rào luật lệ nào. Con sen nếu trúng số độc đắc thì lập tức có thể trở nên bà chủ, bà giám đốc, không ai ngăn cản cả . Nếu là chế độ thì có tới 70 – 80% người dân nô lệ . Còn hiện tượng thì chỉ vài phần trăm, và cũng chỉ là con ăn đầy tớ. Ðôi khi bị xử tệ như nô lệ thì cũng chỉ là chuyện làm ẩu của chủ nhà chứ không có luật pháp nào cho phép coi đầy tớ như sự vật.

Tuy nhiên vì ảnh hưởng Hán Nho nrên chế độ công điền có suy vi dần nhưng nói chung thì đến đầu thế kỷ 20 quá bán ruộng đất ta vẫn còn là công điền. Ðến khi Pháp cai trị miền Nam ( Bạc Liêu, thí dụ ) công điền nhiều nơi trụt xuống chỉ còn vài ba phần trăm, vì có đồn điền của tư nhân chiếm hàng ngàn mẫu. Ðó là chế độ Tư bản Tây Âu nương thế bảo hộ xen vào phá vỡ chế độ bình sản của ta, đây là nói kiểu thông thường . . . Còn nói theo kiểu triết lý chính trị thì đó chính là Dân Chủ . Nói theo chiều tiêu cực thì dân chủ là thoát nạn chuyên chế, còn tích cực là Ăn Nói . Ðược ăn là được tham đự tài sản trong nước gọi là Bình Sản. Ðược nói là được tự do phát biểu ý nghĩ của mình.

Như vậy Dân Chủ chân thực phải có Bình Sản, và được tự do suy tư nói nghĩ . Thiếu hai cái đó thì chỉ là dân chủ giả hiệu. Xã hội Âu Tây có chế độ nô lệ, nên phải dày công mới lập được chế độ dân chủ, lúc ban đầu cũng chỉ có dân chủ trên pháp lý, chưa có bình sản, nên tự do bị gọi là tự do chết đói. Cộng sản đã có ý sửa lại chỗ đó bằng tuyên bố dân là chủ tài sản quốc gia. Nhưng thực chất vẫn là tư bản, chỉ khác chủ tư bản xưa là cá nhân, nay là chính quyền, dân vẫn là vô sản , đã vậy tự do cũng mát luôn nên khốn khổ hơn vô sản xưa muôn vàn . Xét theo mấy điều trên ta thấy gia đình là thể chế gây ơn ích hết sức sâu xa. Ơn ích ngay đời ta : con em học hành giỏi, bố mẹ làm ăn chóng nên cơ nghiệp. Còn đời xưa là chế độ dân chủ chân chính có bình sản, có tự do , làm nên một xã hội có Tình, có Nghĩa , một quê hương tổ quốc thâm sâu. Thật không ngờ nơi ta ra chào đời, sống bên cạnh những người thân yêu trong quảng đời tươi đẹp nhất lại chất chứa nhiều minh triết xuyên qua bao đời cho đến nay ta vẫn còn được hưởng. Bây giờ xin nhắc đến những điểm làm ta có thể ngửa mặt lên hãnh diện. Đó là mấy đức tính gọi được là dân tộc tính .

3.- Trước hết là tinh thần gia tộc
Điều này phát xuất tự cái Cơ ( theo phạm trù Tứ, Ý, Dụng, Cơ ) nên toàn quốc gọi nhau bằng đồng bào theo huyền sử cùng phát xuất từ bọc mẹ Âu Cơ, tức nước xây trên mẫu mực gia tộc . Người trong nước xưng hô nhau bằng lối xưng hô trong gia tộc : bà con, cô bác . Đó gọi là gia tộc hóa lối xưng hô. Ngược lại Tây Âu không có tinh thần gia tộc mạnh nên phi ngôi hoá lối xưng hô : ai cũng là you, vous cả . Vậy ta cần duy trì tinh thần gia tộc như nét đặc trưng của ta . đó là điều cho đến nay còn giữ được nhiều, là vì trong thực tế có, lợi bớt tốn : cùng ăn, cùng ở bớt tốn hơn. Nhất là vụ học: con Mỹ thường ở apartment riêng tốn hơn gấp hơn 2, 3 lần ở với bố mẹ .

a.- Chăm học
Chăm học cũng là một dân tộc tính phát xuất tự đầu được ghi lại trong tên huyền sử Văn Lang là nước của những người có văn hoá. Muốn có văn hoá thì phải chăm học . Vậy nước ta tự mãi xa xưa đã coi trọng việc học, đặt quan văn trên quan võ. . . Đây là điểm rất lợi cho dân Việt . Người ta tính ra đến 60% so với Chicano ( Mễ ) chỉ có 30 % . Tuy đó là con số khó thể đoan chắc, nhưng ta có thể nói dân Việt đi học đông vào bậc nhất cũng như giỏi đứng vào hàng đầu.

b.- Cần cù
Cần cù cũng là đức tính dân tộc cần được duy trì. Theo huyền sử Vua Hùng sinh ra bởi tổ chung với người Mường gọi là Lang Đa Cần. Tên này gợi lên ý chuyên cần làm việc. Hiện nay nhiều hãng ưa thâu dụng nhân công Việt vi tính này. Khi tôi ở Đại học Loyola một giáo sư Mỹ lúc đầu rất tẻ lạnh với tôi, bỗng một hôm ông vồn vã hết sức, thì ra là do mấy người Việt trong hãng bạn của ông làm việc rất chăm chỉ… Có kiệm ước mới dư giả để thực thi lòng quảng đại. Cần chú ý rằng đức kiệm ước này rất dễ mất trên đất Mỹ , nên cần tập từ những cái nhỏ ( vặn nước, tắt đèn. . . ) để nuôi dưỡng dức đó.

c.- Lễ độ
Còn có thể kể thêm đức lễ độ biểu lộ nhiều nhất do học sinh, sinh viên trong lớp đối với giáo sư. Đó là dăm ba đức tính dân tộc đã làm cho đoàn người tỵ nạn Việt Nam đáng nể . Rất nhiều nhà quan sát tiên đoán rằng không bao lâu nữa đoàn người Việt sẽ trở nên giàu có và nắm những vai trò quan trọng. Vậy thì đây là những đức tính cần được nuôi dưỡng môt cách cụ thể và thiết thực. Cho tới nay nói đến duy trì văn hoá chúng ta mới dậm chân ở đợt Từ ( Ý, Từ, Dụng, Cơ ) như làm văn nghệ , báo chí. . . Cần đi mạnh vào đợt dụng, cần cụ thể hơn tức bàn đến những điểm thiết thực rồi tìm cách sửa đổi, ai nấy cố tự sửa, và sửa cho con cháu.

Thí dụ : Đức kiệm ước biết tắt cái đèn lúc không cần, vặn nước đánh răng cho nước chảy ồ ồ tốn nước gấp trăm lần. Ăn uống nhai ngồm ngoàn đầy tiếng động . Xé thư người khác. . . Còn nhiếu chuyện quá nhỏ mọn nhưng dễ làm cho ta phải cúi gầm mặt khi thấy một người Việt Nam làm trước mặt ngoại bang ( như chen nhau khi sắp hàng . . . ) Những điều này nếu không sửa đổi mạnh trong gia dình thì không học đâu được. Ở trường không ai dạy những cái tế nhị đó. Bởi vậy tuy tầm thường mà hoá rất khó, nhận thức ra đã khó, mà khi thấy người khác phạm thì mấy ai dám sửa, trừ phi là bạn thân lắm, hoặc cha mẹ với con cái. Đã vậy rất khó sửa , nói 5 lần 7 lượt cũng không xong . . .

Chớ cho rắng đó là những cái quá nhỏ nhặt không đáng lưu tâm. Thưa rằng những cái nhỏ đó mới làm cho đời sống trở nên có văn vẻ ( tức được thấm nhuần văn hoá ) . Chính cái phần bé nhỏ đó là phần tinh tế của công việc hội nhập xã hội văn minh . Chính vì những cái nhỏ nhặt đó làm cho chúng ta đỏ mặt trước ngoại nhân . Văn hoá của một dân phải nhằm mục tiêu làm cho đời sống của dân ấy có văn vẻ tế nhị hay ít nhất không gây Khó chịu cho tha nhân, không làm cho người cùng hội phải hổ thẹn vì đồng hương mình.

Chúng tôi mong ước, chúng ta sẽ thảo luận kỹ về điểm này và cử ra một uỷ ban, hay ước mong có những người nào đó có cơ duyên viết một quyển tựa như phép lịch sự của Âu Mỹ trong việc ăn uống, nói năng, xử sự, giao tiếp để đồng bào tỵ nạn ý thức mà châm chước giữ gìn.
Xin nhắc lại câu định tính văn hóa Việt là cái khối “ xù xì da Cóc trong bọc trứng Tiên “, và ước mong cho việc làm văn hóa mở rộng hơn nhiều: xuống thì tới chỗ Dụng là mài dũa những cái xù xì da cóc, lên thì tới tận Ý tận Cơ, tức gồm thêm triết lý xây trên cơ cấu của Việt tộc, đó là phần “ trong bọc trứng Tiên “ cần phải chú tâm vun tưới. Vì trứng Tiên mới chính là cái Cơ, cái nõn, cái nền triết Việt. Một nền văn hóa đẹp đẽ đến đâu mà thiếu Ý thiếu Cơ thì chỉ là một nền văn hóa nông cạn. Văn hóa Tây Âu hơn ta ở Ý tức họ có một nền triết học rất đồ sộ, nhưng họ lại kém ta ở cái Cơ, vì cơ chưa ổn nên triết họ còn cần đổi nền. Ta thì thiếu triết, nhưng hơn họ cái Cơ. Nhưng là hơn trong tiềm lực, chứ trong thực tế thì kể là không, vì cái Cơ của ta ví như trứng tiên bị bọc trong xù xì da cóc, có còn mấy ai thấy đâu. Vì vậy đã đến lúc làm văn hóa phải vươn xa hơn đợt Từ để đạt đợt Ý và đợt Cơ. Hễ có Cơ thì rồi có Ý. Chính cái Cơ mới là tinh hoa văn hóa của ta.

Chính cái Cơ mới làm cho ta nhìn rõ đâu là tinh hoa, đâu là cặn bã, nếu ta không nghiên cứu và thấm nhuần thì ít thế hệ sắp tới sẽ không thấy Văn hóa Việt đáng duy trì ở chỗ nào, và do đó sẽ trở nên người vong bản, vong quốc. Chính cái Cơ mới bơm sinh lực vào cho Ý, cho Từ, cho Dụng. Hơn thế nữa, chính cái Cơ mới giúp chúng ta khả năng đóng góp vào nền Văn hóa thế giới.

Hiện nay con người đang trải qua cơn khủng hoảng trầm trọng. Các nhà trí thức Âu Mỹ gọi đó là một sự trống rỗng của Tây Âu (nihilisme occidental) nghĩa là mọi giá trị cao cả của Tây Âu đã sụt giá. Họ không còn tin tưởng vào những giá trị cổ truyền nữa, với hậu quả là hiện họ đang trở nên vô hướng vô hồn trong mọi cấp từ “ tu thân “ qua “tề gia “ đến “ trị quốc “ đều thiếu đạo. Họ có chống cộng là trên bình diện kinh tế tức tư bản chống cộng sản chứ thiếu triết, nên nước có tiếng chống cộng hơn hết là Mỹ mà trong nước tràn ngập người thiện cảm với cộng sản. Chính vì vậy nước Mỹ thiếu lãnh đạo trong chính trị và nhất là trong văn hóa, đành để thế giới Tự Do trở nên con thuyền không lái.

Lâu nay trong họ đã nhiều người nhận ra cần thiết lập một nền Văn hóa mới, một nền văn hóa có khả năng tổng hợp được các giá trị đông tây kim cổ.… Thế nhưng cho tới nay chưa ai tìm ra nền. Theo cơ cấu luận thì Âu Tây duy hữu, hữu vi. Còn Ấn Độ thì duy vô: vô vi. Đều không phải là cơ cấu tổng hợp. Chỉ triết lý An Việt mới có cơ cấu tổng hợp: “ có mà như không, không mà lại có “. Chỉ có cơ cấu lưỡng hợp đó mới đủ khả năng tổng hợp những giá trị lẻ tẻ (do lương tri) của Âu Ấn để chỉ hướng đi cho con người ngày nay đang đầy xao xuyến khắc khoải.


Thế nhưng có điều bất hạnh là triết lý giàu tính cách tổng hợp kia lại không được mấy ai biết đến. Âu Tây đã đành mà ngay đến những người trong khối Việt Nho cũng không hơn. Đấy là chỗ người Việt tị nạn cần lưu tâm. Đấy là chỗ chúng ta có thể đóng góp cho thế giới. Hiện tình nhân loại chỉ biết sống trên bình diện lợi hành, trên nữa không còn đạo lý nào cả. Vì vậy đầy chia rẽ, rất là nguy hiểm. Ngay khối Cộng sản còn đang trong giai đoạn chinh phục lẽ ra phải đoàn kết lắm để tránh họa vậy mà cũng vẫn chia năm xẻ bảy rồi. Tóm lại, quay chiều nào cũng đầy chia rẽ tự trong bản chất tức còn thiếu một nền triết lý tâm linh tổng hợp. Vậy mà đấy chính là chỗ chúng ta có thể góp phần. Muốn góp phần thì bứơc đầu tiên phải là nghiên cứu học hỏi tài bồi cho nền triết Việt Nho của chúng ta ngày thêm sáng tỏ và phổ cập tới mọi người.

Tôi ước mong sẽ làm sao cho có sự gia tăng nỗ lực học triết Việt, trước là để nuôi dưỡng những đức tính dân tộc quý báu của ta, sau là để hy vọng đóng góp vào nền văn hóa toàn cầu. Nghĩa vụ con người Việt ở đó. Nghĩa vụ gia đình, quốc gia Việt cũng ở đó. Hơn thế nữa, nghĩa vụ quốc tế chúng ta chính là ở đó. ( Hết trích )

Tóm lại Theo Nho giáo cũng là Việt Nho thì “ vạn vật đồng nhất thể “ và “ vạn vật tương liên “, nghĩa là vạn vật đều có cùng bản chất, đều được cấu tạo bởi vật chất và năng lượng, vật chất và năng lượng đều chuyển động không ngừng theo vô vàn tần số khác nhau, các vật rắn cũng đều chuyển động không ngừng theo tần số thấp nên mắt ta không thấy được, nhờ các tần số mà mọi vật đều có liên hệ mật thiết với nhau. Vì thế mỗi hành vi cử chỉ, ngay cả mỗi suy tư của mỗi cá nhân chúng ta đều có ảnh hưởng khắp cùng vũ trụ: hoặc có cùng tiết nhịp Hòa hay là gây ra các Nhiễu loạn trong vũ trụ. Ngay đến những tư tưởng tốt hay xấu của mỗi chúng ta đều được các tần số luân chuyển trong vũ trụ theo từng loại ( cùng tần số: Theo luật loại tụ: đồng thanh tương ứng, đống khí tương cầu ) và cũng gây ảnh hưởng trong vũ trụ như thế.

Trở lại vấn đề tính tốt và tính xấu của dân tộc ta: Nhất nhất mỗi sinh hoạt của mỗi cá nhân đều có gây ảnh hưởng chung lên hoàn vũ nên có ảnh hưởng đến các người khác. Vậy những đức tính tốt hay xấu của dân tộc đều có phần chung góp của mỗi chúng ta. Vì vậy cho nên trong việc sửa đổi lại các nết xấu cũng như trau dồi thêm tính tốt của dân tộc phải là công việc chung của mọi người, mọi người đều có trách nhiệm và quyền lợi chung ở trong để giúp đỡ nhau tiến lên. Các vị lãnh đạo tinh thần cũng như những kẻ sĩ hay các bậc trí thức là những người ý thức được sự quan trọng của vấn đề quốc nạn và quốc nhục ngày nay là do công tội chung của mọi người, của nhiều đời, nhưng chính quý vị ngày nay là người có trách nhiệm và quyền lợi lớn hơn hết.

Những hiểu biết về con đường tu thân của các quý vị có thể giúp mọi người rút ngắn công việc tu tiến làm người. Trong mọi sinh hoạt của con Người thì công việc tu thân là quan trọng bậc nhất. Nếu không tu thân để làm con Người đúng nghĩa, thì là vong bản. Cái nạn vong bản kéo theo các nạn vong thân, vong gia, vong quốc, vong nô. Đó là nan đề căn bản của xã hội chúng ta. Cộng nô vong nô đã và đang đem đất nước ta tới bờ vực thẳm.

Tuy mỗi người có những khả năng và chuyên những lãnh vực khác nhau, nhưng khi đã làm việc nước thì phải giúp mọi người của đất nước cùng làm phận sự của mình theo một hướng chung, trong công việc xây dựng lại con người thì mọi người giúp nhau gây lên một phong trào cùng làm, chứ nếu cứ làm theo kiểu “độc thiện kỳ thân “, việc” cua cua máy, việc cáy cáy đào “ thì xem ra chẳng có tác dụng đến tình trạng rối loạn của xã hội bao nhiêu . Trách nhiệm khởi đầu là các vị lãnh đạo tinh thần, của các vị thức giả, nếu các vị cứ điềm nhiên bất động thì lấy ai có đủ khả năng, đức độ và kinh nghiệm để làm đây? Cha ông chúng ta đã bảo” quốc gia hưng vong thất phu hữu trách, huống hố là các bậc vị vọng như quý vị. Lịch sử sẽ phán xét mỗi chúng ta về vai trò của mỗi chúng ta trước cảnh quốc phá gia vong này: Đất nước đang bị tàn phá hàng ngày hàng giờ bởi nội thù và ngoại xâm!! Liệu khi các gọng kìm nô lệ đã xiết chặt thêm, phỏng chúng ta có thể sống bình chân như vại được mãi không?

Ngày này nhiều người cứ tưởng phong trào dân chủ đang lên, chúng ta cứ kể tội CSVN cho nhiều và chờ cho chúng sụp đổ, các nhà làm chính trị chẳng hạn theo kiểu Tam quyền phân lập của nền dân chủ Hoa Kỳ, rồi theo lối đa nguyên đa đảng, chia ghế cho nhau mà lo việc xây dựng đất nước là xong chuyện!

Những ý nghĩ ngây thơ này đã ám ảnh nhiều người tự nhận là mình có trách nhiệm cứu nước, thật ra đây không phải là những ý tưởng xây dựng đáng lưu tâm, vì họ không nhận ra nan đề cũng như không có đáp đề cho con Người và Đất Nước! Vấn đề đất nước chúng ta chẳng đơn giản chút nào, nó là vấn đề khó khăn nhất trên thế giới. Đất nước chúng ta chẳng khác nào cái hố rác của thế giới, nhũng nan đề của Tư bản và Cộng sản đều tồn đọng nơi đây, nhất là vấn đề con Người: Đó là con người bất Nhân, đưa đến xã hội bất Công.

Cứ nhìn vào tình trạng các cộng đồng ở hải ngoại ra sao thì ta thẩm định được tư cách và khả năng của chúng ta, nhất là các vị làm chính trị, để mà chuẩn bị, lo liệu mọi sự
trước đi. Một việc nhỏ mà làm chưa xong thì làm sao mà đang được việc lớn đấy?
Phải chỉnh đốn lại cái tư tưởng làm chính trị: Để tranh danh đoạt lợi hay là lo cho được “ích quốc lợi dân” đây ?

Nếu là ích quốc lợi dân thì đã có đường lối chung để quy kết toàn dân chưa, đã có những Quốc kế Dân sinh giúp cho mọi người đều tay đóng góp, đã có những người đũ tư cách và khả năng cũng như phương pháp thực hiện làm sao để xây dựng các cơ chế xã hội nhằm thực hiện sự công bằng tương đối để cho dân nhờ. Chứ cứ ngồi mà đợi đèn xanh đèn đỏ thì thật là thảm thương cho đất nước!

Ta đừng quên rằng, các Tổ phụ của đất nước của Hoa kỳ này cũng phải “ lao tâm tổn trí “ cùng trải qua “ bách chiết với thiên ma “ mới thiết lập nên chế độ có nền tảng công bằng tương đối tốt đẹp nhất trên thế giới hiện nay. Các Tổ phụ họ là những người có tài cao đức trọng và dày công tìm tòi mới xây dựng nên được.

Nhưng đất nước này còn do con Người bất toàn quản trị, nên cũng còn vô số vấn đề to lớn cần sửa đổi, nhất là vấn đề cuộc sống đa dục, mọi vấn đề đều bị lạm dụng, nhiều người trong nước đã sống thừa mứa trên nợ vay ( credit card )! Nay đang bị rắc rối to vì lối sống quá đà đó, cần nhiều tâm não và công của mới vượt qua được, toàn là mô hôi xương máu của toàn dân! Họ đã không có cuộc sống quân bình, là đời sống tiết độ, nghĩa là không sống theo lối Diệt dục hay Đa dục mà là Quả dục. Sống không tiết độ làm cho đời sống mất quân bình, là nghịch với thiên lý, làm tổn hại đến nhân sinh.. Ngày nay, các xã hội đang tiến lên con đường Toàn cầu hoá để mọi quốc gia cùng chia sẽ với nhau mọi thứ để sống với nhau trong hoà bình, chứ theo lối “ Thượng hạ giao tranh lợi “ quá đà thì trước sau gì cũng đi vào ngõ bí, vì đã tương tranh mà không tuân theo lẽ “ phải người phải ta “ mà rướn tới sẽ dẫn đến tương đấu rồi tương diệt!

Vấn đề trước tiên của chúng ta là phải xây dựng cho được những con Người Nhân chủ, biết cách làm chủ chính mình, gia đình mình và đất nước minh và nhất là biết sống công bằng để hoà với nhau, họ phải là những con người có đức có tài, mới mong đưa đất nước ra khỏi vũng lầy hôm nay. Không quan tâm đến con Ngươi, mà chỉ loay hoay quanh các hiện tượng xã hội thì chỉ là làm việc chắp vá cho qua ngày để tranh danh đoạt lợi mà thôi!

Sau đó phải làm sao để thực hiện một xã hội tương đối công bằng, để cho mọi người dân có quyền “ được ăn và được nói “, thì mới mong xã hội được yên vui và con Người được hạnh phúc. Vấn đề này rất phức tạp và khó khăn, tôi chỉ xin có đôi lời để góp ý chung.
Trân trọng,

Nguyễn Quang

Nỗi đô đơn

Nơi kinh đô Phật Thệ

Thuở đó, mỗi lần đi ngang Phan Rang hay Quy Nhơn, nhìn những Tháp Chàm trơ trọi trên mấy ngọn đồi cỏ khô nắng cháy, tôi thường nghĩ đến nỗi cô đơn không cùng của Nàng Công Chúa Họ Trần nơi kinh đô Phật Thệ xa xưa . Theo di mệnh của Vua Cha và quyết định của Vua Anh , một ngày mùa hạ, Nàng đã phải xuôi nam , đi làm dâu Chiêm Quốc. Đất nước thêm hai châu Ô Lý nhưng tình yêu đầu đời, đành xót xa bỏ lại sau lưng. Hai Châu Ô Lý vuông ngàn dậm, một gái Huyền Trân giá mấy mươi. Người đời cho như vậy. Còn Nàng, chắc muôn nỗi ngậm ngùi. Theo chính sử, khi Chế Mân mất, để Nàng khỏi bị hỏa thiêu theo Chiêm Vương, Trần Khắc Chung được lệnh Vua Anh vào tìm cách giải cứu và hai người tình cũ, sau đó, trên đường về, đã có nhiều ngày tháng sống bên nhau, lênh đênh trên biển cả. Nhưng đó là chuyện về sau…


(Click to enlarge)

Lan Đàm

**
Đính chính:
Vì sơ xuất Diễn Đàn đã posted lầm và vì vậy mà có chuyện râu ông nọ cắm cằm bà kia. Nhưng xét ra post này vẫn hay, thân hữu và bạn đọc có dịp thưởng thức thêm một bài thơ. Post chính sẽ được đưa lên Diễn Đàn một ngày khác. Thành thật xin lỗi thi sĩ Lan Đàm. Diễn Đàn


Hoạt động của CSV-QGHC Nguyễn Văn Thuất,

Con Voi Cần Mẫn

Thưa Quí Anh Chi,

Khi nói đến sự quan tâm đặc biệt và bền bỉ về Thế Hệ Trẻ Việt Nam tại Úc và cũng như việc Giới Thiệu và Bảo Tồn Phong Tục, Tập Quán và những Sinh Hoạt Cổ Truyền Việt Nam tại Úc, không ai là không biết đến anh Nguyễn Văn Thuất - một Cựu SV/QGHC (ĐS13) mà còn là một Trưởng Hướng Đạo Việt Nam, anh cũng là người gầy dựng lại Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam tại Úc mổi ngày một mạnh hơn từ gần 20 năm nay.

Quả đúng như tên rừng mà anh đã được đặt : Voi Cần Mẫn , anh làm việc hầu như không biết mệt mỏi từ trước đến giờ. Ngoài việc chấn hưng lại Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam tại Úc, Anh Nguyễn Văn Thuất còn là Cha Đẻ cho Ngày Lễ Hội Tết Nhi Đồng tại Úc ( Children's Festival ) . Ngày Lễ Hội Children's Festival này là một sự đánh dấu quan trọng và có tính cách lịch sử khi Tết Nhi Đồng ( Tết Trung Thu ), hay nói một cách khác, một trong những Phong Tục Tập Quán Cổ Truyền Việt Nam đã được giới thiệu và được chính thức chấp thuận tại Hội Đồng Thành Phố Bankstown - NSW. Sự lớn mạnh của Ngày Lễ Hội Children's Festival càng ngày càng rộng lớn đền nổi hầu như tất cả các Cộng Đồng Di Dân khác trên toàn khắp Tiểu Bang đều ủng hộ và tham gia vào. Ngày mà toàn nước Úc sẽ coi Ngày Tết Trung Thu Việt Nam như là một ngày Lễ Hội của quốc gia hi vọng là sẽ không còn bao lâu nữa.

Song song với những việc làm trên, anh Nguyễn Văn Thuất vẫn luôn luôn tìm cách Bảo Tồn và Giới Thiệu Văn Hóa Cổ Truyền Việt Nam tại Úc. Và Anh đã thành công một lần nữa trong Mùa Xuân Kỷ Sửu năm nay khi Anh đã khai sinh ra một Cuộc Diễn Hành Văn Hóa Việt Nam trong dịp Tết Nguyên Đán tại Bankstown và tại Fairfield Showground, nơi mà có đông đảo người Việt Nam tỵ nạn sinh sống.

Xin chuyển đến quí Anh Chị một số hình ảnh của Cuộc Diễn Hành Văn Hóa Việt Nam, Vietnamese Culture Parade, trong ngày Hội Chợ Tết Kỷ Sửu tại Fairfield Showground vào ngày 07-02-2009 vừa qua. Cuộc Diễn Hành Văn Hóa trình bày với Quí Vị Quan Khách Úc - Việt về cảnh " Vinh Qui Bái Tổ " của Trạng Nguyên, kết hợp với cảnh Một Đám Cưới Cổ Truyền "Kiệu Anh Đi Trước, Võng Nàng Theo Sau" của Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước đây.

NVSanh

* Ảnh Trần Văn Phước (thân hữu HC/NSW)







Monday, February 09, 2009

Đêm nhạc Từ Công Phụng

Kính thưa quý anh chị,

Vào một buổi chiều tối cuối tuần, thứ Bảy, ngày 07 tháng 02 năm 2009, tại nhà hàng Emerald Bay-thành phố Santa Ana; Ca/Nhạc Sĩ TỪ CÔNG PHỤNG đã hát gần 20 ca khúc do anh sáng tác. Anh đã hát với cả tấm lòng và nỗi đam mê của một Nghệ Sĩ đúng nghiã của nó.

Anh TỪ CÔNG PHỤNG cũng đã tâm tình về cuộc đời sáng tác và đi hát đây đó của anh thuở còn là một sinh viên, hay lúc đã thành danh, trước và sau năm 1975: từ khuôn viên Đại Học Văn Khoa- Sai Gòn với bài " Bây Giờ Tháng Mấy" trãi dài qua thời gian sau 1975 tới Australia, Canada, Hoa Kỳ... Anh đã kể rất có duyên, rất hóm hỉnh dễ thương. Tôi khám phá ra trong Anh ,không những có đầy máu nghệ sĩ mà còn ẩn chứa tính hài hước. Chính nhờ đó, ngồi nghe Anh nói hay nghe Anh hát, người thưỡng ngoạn quên cả thời gian!!!

Ai không có cơ hội tham dự " Đêm TỪ CÔNG PHỤNG & Bạn Hữu " , thì đã bỏ lỡ một cơ hội quý báu . Nhà Hàng Emerald Bay với hơn 30 bàn đã không còn một chổ trống. Thành phần tham dự đa số là Cựu Sinh Viên QGHC, và thân hữu.
Ban tổ chức gồm anh chị Ngô Ngọc Trác/k13, Nguyễn Thị Giêng/k13, các anh Đặng Mạnh Hùng /k 13, Trần Quý Hùng/k9, và Nguyễn Phú Hùng/ k11.

Như một e-mail đã chuyễn đến quý Anh Chị trưa ngày 07 tháng 02 năm 2009 như là một nhắc nhở, tôi có cho biết là Đêm Hát Từ Công Phụng sẽ có nhiều cái nhất. Đúng vậy, có rất nhiều : Đó là : đông người tham dụ nhất, người thưỡng ngoạn chọn lọc nhất, ánh sáng tình tứ nhất với các ngọn nến lung linh trên mỗi bàn, âm thanh rõ ràng nhất, các màn trình diễn phụ ( second unit ! ) hay nhất, Ca Nhạc Sĩ TỪ CÔNG PHỤNG trình diễn xuất thần nhất, tổ chức chu đáo nhất ( có càfé, rượu chát, đậu phụng rang, ) và số người tham dự ở lại cho đến giờ chót đông nhất ( vì Anh TỪ CÔNG PHỤNG hát tyuệt vời qúa.)

Xin thông báo đến quý Anh Chị khóa 13 "để kính tường."

Thân kính
Cao Xuân Thức

Hỏa hoạn ở Victoria, Úc









171 người thiệt mạng và hàng trăm ngôi nhà đã ra tro vì một cuộc hỏa hoạn do những kẻ bất lương dùng vũ khì phóng hỏa. Thủ tướng Úc Kevin Rudd nói rằng những người này là những tội đồ vì đã gây ra thảm sát tập thể. Không ảnh chụp vùng bắc Melburne cho thấy trận hỏa hoạn lan rộng đến cỡ nào. (Tổng hợp)

Diễn Đàn mong nhận được tin tức của/về Nhan Tử Hà và phe ta ở dưới đó. Câu mong mọi người được bình yên.

Saturday, February 07, 2009

Về một nàng dâu Hành Chánh

Ngày 18 tháng 1, 2009, lần đầu tiên vợ chồng tôi được dự một bữa ăn trưa của 5 người con cộng với 5 dâu rể, vinh danh công ơn một người mẹ góa. Và, tuy đã quen với gia đình này mấy chục năm, hôm nay, cũng là lần đầu, chúng tôi được biết cả 5 người con vừa trai vừa gái đó, có cùng một tên là Khanh. Mà Khanh là một nửa tên của cha, cộng với nửa tên của mẹ. Nghĩa là lấy Kh từ chữ Khuông, ghép với Anh từ chữ Oanh.

Và đây cũng là lần đầu tiên tôi được nghe một qủa phụ hễ nói một lời là bắt đằu bằng mấy tiếng “tôi xin nói thay nhà tôi”, “tôi thay mặt nhà tôi”, “tôi xin phép nhà tôi”, “xin qúi vị nhận lời cám ơn của nhà tôi”… “Nhà tôi chắc chắn cũng đang có mặt trong căn phòng này để nâng đỡ tôi, chỉ bảo cho tôi phải làm gì…”.

Rồi thêm nữa là hai cô con gái bên chồng bên con, lên tặng mẹ qùa nhưng không quên cảm ơn bố.

Khuông là Vũ Văn Khuông, học khóa 8 Học Viện Quốc gia Hành chánh, sau tôi một lớp. Theo lời chị Khuông kể lại thì hồi nhỏ, ở quê nhà là Hưng Yên, Khuông có tên là Vũ Đình Tất Thanh. Khi trốn khỏi vùng cộng sản về vùng tề, anh làm giấy khai sinh khác, với tên mới. Thế nhưng khi đặt tên các con, sinh ở miền Nam, Khuông đã cho cả năm con, trai lẫn gái, mang lại dòng họ Vũ Đình chính thống của anh ngoài miền Bắc xa xăm..

Theo những bạn cùng khóa kể lại thì với câu “đẹp trai, con nhà giầu, học giỏi” với cậu Vũ Văn Khuông nhà ta chỉ được có một điểm là học hành chăm chỉ. Tính tình Khuông điềm đạm, ít nói, không đùa nghịch như bạn bè trong lớp. Anh lại thuộc loại thiếu thước tấc nhất lớp, nên anh em bèn đặt cho anh hỗn danh là “cháu cụ Viện” ý nói Khuông giống giáo sư Viện trưởng Vũ Quốc Thông ở chỗ hai người cùng lùn như nhau.

Anh Nguyễn Ngọc Liên, bạn cùng lớp nói rằng sau khi tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh, khóa 8 phải ra quân trường Đồng Đế thụ huấn khóa 4 sĩ quan hiện dịch. Vì phải học chung với các hạ sĩ quan có công trạng và đủ điều kiện lên hàng sĩ quan nên các chàng thư sinh Quốc Gia Hành chánh “bá thở”. Vậy mà Vũ Văn Khuông tuy không hơn cây súng garant M1 là bao nhưng rất lì, các sinh viên “lính thiệt” chơi thứ gì thì anh cũng chơi theo thứ ấy. Bài tập đặc biệt nhất của quân trường Đồng Đế là “Đi Dây Tử Thần”, Vũ Văn Khuông cũng thản nhiên đợi đến lượt mình. Từ trên đỉnh núi, hai tay bám vào cái ròng rọc chạy trên sợi dây cáp, rồi khi xuống thấp, thấy cờ phất thì buông tay để rơi xuống hố nước. Nếu không buông tay kịp thì sẽ lao vào chân cột buộc dây cáp là chết không kịp sợ. Nếu rơi xuống hố nước mà đúng tư thế ngồi ghế salon, nghĩa là để bộ mông chạm nước trước rồi tới lưng, được như thế là vạn sự an toàn. Còn nếu không chịu ngồi ghế salon mà nhào người về phía trước, là cái ngực đập cái bộp xuống mặt nước. Lúc đó người sinh viên sĩ quan sẽ nổi trên hố nước như chiếc chiếu và máu từ miệng hộc ra, loang đỏ những đọt sóng nhẹ. Ban y tế sẽ vội vã vớt lên, đưa lên xe cứu thương đậu sẵn bên hồ, rồi hú còi chạy thẳng về bệnh xá.

Trường hợp Vũ Văn Khuông chỉ gặp rủi ro có một nửa. Khuông đã buông tay hơi chậm nên anh rớt xuống chỗ nước đã nông, khiến chân anh bị chấn thương. Và anh đã mang tật suốt đời. Anh em cùng khóa gọi cái tật đó là một biểu hiện của vinh dự, một chứng tích của can đảm.

Ra trường, Vũ Văn Khuông nhận chức vụ đầu đời là Phó Quận trưởng Hiếu Thiện tỉnh Tây Ninh. Sau đó, anh được đổi về Bình Dương, làm Trưởng Ty Hành Chánh rồi xử lý thường vụ Phó Tỉnh trưởng Bình Dương. Ít lâu sau, anh làm Phó Tỉnh Trưởng Long Khánh và chức vụ sau cùng của anh cho đến ngày miền Nam sụp đổ là Chánh sự vụ sở Tài Thâu Bộ Nội Vụ trông coi ngân sách tới 52 tỷ đồng. Anh đã được cử đi quan sát 6 nước Á châu trong 6 tháng. .

Tôi quen biết Vũ Văn Khuông lúc Khuông làm Phó tỉnh trưởng Long Khánh và đang thực hiện chương tình khẩn hoang lập ấp. Khuông đã mời một số đồng môn Quốc gia Hành chánh lên Xuân Lộc vào một cuối tuần để nghe anh trình bằy chương trình khẩn hoang do Bác sĩ Phan Quang Đán phụ trách. Nếu ai thích làm nông trại thì tỉnh sẵn sàng cấp cho một miếng rừng hoang, rộng mười mẫu. Tôi được lô đất gần quốc lộ một, nơi đang có nhiều người phá rừng trồng khoai mì, khoai lang, trồng chuối, chôm chôm. Qúa thích thú, tôi đã bỏ tiền đầu tư vào “Đỗ gia trang” này. Chẳng ngờ năm sau, tình hình mất an ninh, tôi không dám lên xem những gốc chuối tôi trồng ra sao nữa. Rồi thì biến cố Tháng Tư 1975, tôi bị đi tù cải tạo. Năm 1978 cộng sản đưa tôi về trại tù Z30D ở Rừng Lá Long Khánh là khu vực từng thấm mồ hôi của tôi trong những buổi trưa hè tưới bón cho những cây trồng. Ít lâu sau, trại đưa chúng tôi đi lao động, tình cờ đoàn tù chúng tôi tới một khu um tùm chuối với những quầy trái bụ bẫm và nhũng cây chôm chôm vươn cao, cành lá đan vào nhau. Tôi hồi hộp hồi tưởng khi xưa, trồng những cây này tôi đã trồng hơi sát nhau, vì tôi tính khi chôm chôm đã ra trái thì tôi sẽ đốn bỏ chuối, cho nên tôi tin chắc rằng đây chính là miếng đất của Vũ Văn Khuông đã cấp cho tôi, và tôi đã trồng cây nhưng không được ăn qủa.

Bạn Khuông của tôi cũng thuộc trường hợp trồng cây không được ăn qủa vậy. Giờ đây năm người con của bạn đã khôn lớn, trưởng thành, người là nha sĩ, người là dược sĩ, rể là bác sĩ thì bạn đã ra người thiên cổ. Giá bạn còn sống thì hẳn là tôi được nghe bạn kể những chuyến du lịch thế giới của bạn, do các con mua vé hoặc do các con đưa đi. Duy có điều là tôi biết chắc chắn, là bạn tôi sẽ không về Việt nam ăn chơi khi còn lá cờ máu trên quê hương.

Tôi nhìn gia đình Khuông, tưởng không thể có gia đình nào hạnh phúc hơn. Bà vợ thì xinh tươi, trên đôi môi lúc nào cũng có sẵn nụ cười nên chẳng mất lòng ai. Bà cầm chiếc micro, nói với những vị bên họ nhà chồng, rồi bên họ mình, rồi bạn bè, rồi đồng nghiệp của chồng mà không cần cầm tờ giấy. Trong giọng nói của bà còn ướt át cảm xúc tưởng như hôm nay mới là đám tang của người chồng khiến nhiều người nghe mà ngậm ngùi rơi lệ. Nhìn bà, vợ anh Vũ Văn Khuông, bạn tôi, đứng giữa năm người con và năm dâu rể và năm cháu ngoại, tôi thấy bà uy dũng như một vị thuyền trưởng vừa vượt biển khơi đầy sóng gió, đưa mọi người trên tàu tới bến bờ bình an.

Người em họ của Vũ Văn Khuông là anh Vũ Minh Ngọc, cũng là dân Quốc Gia Hành chánh với tôi, nói rằng: Năm 1975, theo vận nước, anh Khuông đã cùng các Quân, Công Cán Chính Việt Nam cộng hòa phải đi tù cải tạo. Lúc đó 5 đứa con của anh chị Khuông còn qúa nhỏ vì anh chị mới lấy nhau khi anh làm Phó tỉnh trưởng Long Khánh năm 1968 tuy quen biết nhau từ năm 1961. Chị Khuông cũng như những bà vợ tù cải tạo khác, phải tần tảo nuôi con, thay chồng làm bố dạy bảo các con và đi thăm nuôi chồng.

Chị Khuông vốn là một “tiểu thư con nhà giầu” đúng hoàn toàn với câu “chân yếu tay mềm” thế mà chỉ sau ít tháng anh đi tù, chị đã học đi xe đạp, đã học buôn học bán, lăn xả vào cuộc đời để lo cho các con được ăn no mặc ấm. Chị đã ngồi bên chợ Tân Bình, trải tấm nylông ra bầy bán áo quần do chị cắt may bằng vải vụn hoặc chị mua những áo quần ở hải ngoại gửi về cho thân nhân rồi sửa lại theo kiểu và theo kích thước người Việt. Chị đã từng biến một chiếc váy đầm Mỹ ra bốn cái áo Việt Nam.
Tôi hỏi chị Khuông chuyện buôn bán sau tháng tư 1975, thì chị lại chỉ thích nói về anh Khuông, coi việc buôn bán nuôi con là không có gì đáng kể. Chị bảo anh Khuông đi trình diện là mất biệt. Không có tin tức gì, không biết anh ở đâu, sức khoẻ ra sao. Chị cứ đi hỏi hết người vợ tù này đến người vợ tù khác, toàn chỉ nghe những tin đồn. Mãi cả năm sau mới hay người ta đã chở anh Khuông ra Bắc.

Thế là chị quyết ra thăm nuôi anh. Để mua được xé xe, chị phải mua giấy tờ giả làm công nhân viên nhà nước. Chị mang theo một tạ đồ ăn, quần áo, thuốc men và bế theo một cháu Phú để cho chồng vui. Chị Khuông nói : “Ba ngày đêm ngồi trên xe lửa, ôm con trong lòng, tôi chỉ biết khóc. Phần không biết đường xá thế nào. Phần không biết có được gặp chồng hay không. Và phần thì lo, không biết chồng mình bây giờ ốm yếu ra sao”.

Chị Khuông kể tiếp: Vào tháng 2 năm 1978, từ ga Hà Nội, tôi thuê xe đi Phủ Lý. Tới Phủ Lý tôi hỏi đường vào trại tù cải tạo Nam Hà. Tôi thuê một xe kéo. Chiếc xe chỉ chở đưọc bao qùa cho anh Khuông và cho cháu Phú ngồi. Còn tôi thì đi bộ theo xe. Con đường lồi lõm, tôi phải giữ cháu, sợ cháu bị hất ra khỏi xe. Tôi đi từ sáu giờ sáng, mồ hôi ướt đẫm, nhưng cứ nghĩ sắp sửa được gặp chồng là tôi thấy hăng hái bước tới. Khi tới nơi, tôi xuất trình giấy tờ. Trong lúc chợ đợi anh Khuông ra, tôi mới hỏi người ta “Mấy giờ rồi ?”. Vừa nghe ai đó trả lời “Một giờ”, thế là tôi bỗng không còn nhìn thấy gì nữa. Lúc đó tôi mới cảm thấy tôi đã kiệt sức sau khi đi bộ bẩy tám tiếng đồng hồ mà không ăn uống gì. Rồi tôi nghe tiếng người nói : “Chị tỉnh dậy đi, chị không nên để anh ấy thấy chị xĩu rồi lo nghĩ, tội nghiệp anh ấy”. Lời nói ấy nó mạnh như có người dựng tôi đứng dậy. Tôi lau khô đôi mắt, tôi lau mặt cho con để chờ gặp nhà tôi”.

Tôi hỏi : “Khi chị gặp anh ấy,chị cũng không khóc?”. Chị Khuông đáp: Không, tôi không khóc. Lúc đầu tiên, thấy nhà tôi đi từ trong trại tù ra, có hai bộ đội kè hai bên, tôi cứ ngồi nhìn trân trân vậy đó. Hình như hình ảnh của nhà tôi làm toàn thân tôi bị tê liệt hết vậy đó. Nhưng tôi thấy mặt anh Khuông cũng rung rung, nhất là đôi môi.. Rồi nước mắt nhà tôi ấy ứa ra khi nhà tôi nắm tay tôi”.

- Chị được gặp anh ấy trong bao lâu ?
- Trại quy định là nửa giờ. Mỗi người ngồi một bên cái bàn. Hai bộ đội ngồi hai đầu bàn theo dõi từng câu nói một.
- Chuyến đi thăm của chỉ mất bao nhiêu ngày để chỉ được gặp nhau có nửa giờ ?
- Cả đi cả về là mười bẩy ngày.
- Chị ra Bắc thăm anh mấy lần ?
- Năm lần trong tám năm nhà tôi ở trại Hà Nam Ninh.
- Chị có kỷ niệm nào còn nhớ không ?
- Chuyến đi thăm nào tôi cũng còn nhớ hết. Để tôi kể anh nghe một chuyện này. Trong chuyến thăm nuôi lần thứ hai, anh Khuông mang qùa vô trại không hết, bỏ lại mấy nải chuối chín và ít gói đồ ăn. Trên đường về, cháu Phú cứ hễ gặp các anh cải tạo là nó thẩy đồ ăn xuống. Cuối cùng thì một nhóm tù cải tạo đi ngang, hỏi tôi: “Chị còn có gì ăn không chị?”. Tôi ngần ngại nói: “Thú thực với các anh là chỉ còn nải chuối nhưng bị bẹp nát rồi”. Mấy người đó vội nói : “Chị cho chúng tôi đi”. Tôi đưa cho các anh ấy nải chuối mà lòng còn đang áy náy thì nhìn ra, các anh ấy đã chia nhau xong và có người ăn cả vỏ luôn, anh ạ”.

Một hành động can đảm khác của Chị khuông là Chị đã quyết định cho cháu Vũ Đình Nguyên Khanh, con trai trưởng theo gia đình người bạn thân là Nguyễn Đình Phúc, cũng là Quốc gia Hành chánh, một thời làm Phó Quận trưởng quận Kiệm Tân Long Khánh, dưới quyền của anh Khuông, sau là Phó Tỉnh Trưởng Phước Tuy dẫn đi vượt biên. Khi nuốt nước mắt tiễn con đi vượt biên, một phần sống chín phần chết, chị khóc hết nước mắt nhưng chỉ khóc trong bóng tối khi nhìn con ngủ, chứ không dám khóc trước mặt con vì sợ con nản chí. Chị còn nhớ, cháu Nguyên khi từ biệt mẹ đã nói: “Mẹ nhớ đi thăm bố nhé. Mẹ nói với bố là con thương bố nhiều lắm”.

Năm 1985 anh Khuông được thả. Nhớ lại cái ngày sung sướng ấy, chị Khuông kể rằng chị không biết ngày Khuông được thả nên vẫn đi buôn bán ở ngoài chợ. Đến khoảng trưa có một người hàng xóm đi ngang sạp của chị, nói : “Cô Năm ơi, cô trúng số rồi nhé”. Chị không biết chuyện gì nhưng thấy hồi hộp vội bỏ về. Vào nhà thì chị thấy các con cứ nhìn chị mà cười cười, không ai nói lời nào cả dù chỉ hỏi đi hỏi lại. Thì ra, để trêu vợ, anh Khuông ẩn náu ở trên lầu và dặn các con đừng tiết lộ..

Năm 1990, gia đình anh được đi định cư theo diện HO, tới Nam California. Ngay sau khi tới Mỹ, anh chị Khuông đã qua Edmonton thăm và đón con trai về đoàn tụ sau hơn 14 năm bố không được gặp mặt con.. Cũng như mọi người Việt tỵ nạn khác, cuộc sống mới nơi đất khách của anh chị đã gặp nhiều khó khăn nhất là để thực hiện được ước vọng lo cho con cái học hành đến nơi đến chốn.. Anh Khuông lại không được khỏe mạnh. Anh tâm sự với vợ là hồi ở trong trại tù, cộng sản đã tra hỏi anh nhiều lần khiến anh sống trong hồi hộp lo sợ. Anh nghe tiếng tim đập thình thịch trong lồng ngực khi ngồi đối diện với cán bộ chấp cung trong cảnh khuya khoắt. Anh Khuông kể lại “lúc đó tưởng lồng ngực sắp bể tung ra”. Khi anh về với gia đình, chị Khuông nhớ lại có lần xem ti vi một trận đấu bóng tròn, khi quá căng thẳng, Khuông bị xỉu. Rồi trong thời gian quản chế, công an tới nhà thường xuyên và mỗi lần bị hạch hỏi soi mói, như thế là Khuông bải hoải rũ liệt, hai tay ôm ngực.

Chị Khuông đưa chồng đi khám bệnh. Bác sĩ xác nhận Khuông bị đau tim, do trải qua giai đoạn sống quá hồi hộp, lo lắng ở trong trại tù. Trên chuyến máy bay từ Thái Lan qua Mỹ, Khuông cũng kêu tức nghẹn ở ngực. Chị lo sợ, không dám ngủ để chăm sóc anh.
Tại Santa Ana, chị không để cho anh đi làm vì biết anh sức yếu. Cả nhà anh chị sống bằng nghề lắp ráp các board điện tử, trong khi các cháu theo học tại các trường trung học, vừa học vừa giúp đỡ bố mẹ kiếm sống. Chị Oanh còn nhận giữ trẻ để có đủ tiền cho con ăn học. Thì giờ rảnh của Khuông là gặp gỡ bạn bè. Cái thú của Khuông là được nấu các món ăn “Bắc kỳ thuần túy” cho bạn bè thưởng thức. Phải nói là anh ấy có tài làm bếp, nấu món gì cũng ngon, và với Khuông, chẳng những ăn bằng miệng mà còn ăn bằng mắt nên việc bầy biện món ăn cũng không kém phần quan trọng. Với thịt gà luộc, Khuông thái lá chanh non từng sợi mỏng và mềm như tóc rắc lên. Thịt phải xếp vào trong cái chén cho tròn và đầy rồi mới úp lên cái dĩa, bưng lên mâm cơm.

Ở Mỹ được năm năm thì Vũ Văn Khuông mất trong lúc đang lắp ráp board điện tử tại nhà. Chị Khuông có mặt bên chồng suốt ngày hôm đó. Theo chị thì dường như có linh tính nên chị thấy Khuông hôm đó anh giữ thân thể rất sạch và cứ loanh quanh bên vợ .
Một mình chị Oanh lại tần tảo nuôi các con và dậy dỗ các con. Nếu trước đây, chị còn nhen nhúm một hy vọng là rồi cũng sẽ có ngày anh trở về, còn lần này thì chị đau đớn biết rằng không bao giờ thấy nhau lần nữa.

Chị cũng theo tính của anh là qúi mến bạn bè, nhất là với anh em đồng môn Quốc gia Hành chánh. Chị hãnh diện nói : “Anh ấy từng nói với tôi là tôi chỉ có một nủa, còn nửa kia anh ấy dành cho bạn”. Cho nên mỗi khi anh em hội họp, chị đều tham dự. Thế nhưng, khi những tiếng cười của các anh các chị phá lên muốn bể nhà thì tôi đã hơn một lần chứng kiến cảnh chị ra ngoài vườn, ngồi một mình, khóc một mình. Thì ra chị nhớ anh. Và chị tủi thân giữa cảnh ai cũng có đôi, chỉ riêng chị là góa phụ.

Tuy mang trong lòng cả một trời tâm sự nhưng chị vẫn đứng thẳng vì trách nhiệm với chồng với con. Ngày nay, chị đã dựng vợ gả chồng xong cho đàn con ấy. Và ngày nay, chị lại nhận nhiệm vụ mới là chăm sóc đàn cháu ngoại, dạy dỗ chúng biết hiếu thảo, biết thương ông thương bà, thương cha thương mẹ, nói tóm lại là chị dạy tiếp bài dạy của anh Khuông cho các con các cháu , đó là bài học làm người. Chả thế mà bước vào nhà chị, tôi có cảm tưởng như bước vào “ngôi nhà kiểu mẫu Việt Nam”. Không một ai trao đổi với nhau bằng tiếng Mỹ. Không một tiếng chào “Hi” mà là “Thưa Bác ạ”, không có tiếng “mom” mà chỉ có tiếng “Mẹ” trìu mến thân thưong. Mỗi lần chị tới dự tiệc với bạn bè thì các con chở chị tới rồi đón chị về. Các con đã có chồng có vợ mà vẫn quây quần đầy đủ bên mẹ thật âu yếm, thật trân quý.

Anh Trần Quý Hùng là đồng môn quốc gia hành chánh, lại là hàng xóm của anh chị Khuông ở Sài gòn, cũng lại ở chung 6 năm trong nhà tù Nam Hà, nói rằng “Khuông là một người không chê vào đâu được. Khi anh ấy làm Phó tỉnh thì tư dinh của anh ấy cứ như là nhà trọ của anh em Hành chánh trong tỉnh. Khi anh ấy ở tù, anh ấy nuôi một người tù khác, người thiểu số thì phải. Người này không có ai thăm nuôi tiếp tế gì hết. Thế nhưng cho người bạn tù ấy ăn mà hoàn toàn không nhờ vả, sai bảo gì, điều ấy mới là hiếm có”.

Đám tang của Vũ Văn Khuông tại Peek Family, Westminster có khoảng một ngàn người tham dự. Nhân viên nhà quàn còn ngạc nhiên hỏi anh Vũ Minh Ngọc: Ông này làm gì mà nhiều người thương tiếc thế?

Và khi Khuông về trời, giao bầy con cho vợ, thì các con anh đã hùn u làm một bài thơ tiễn đưa anh như sau :


Bố Kính Yêu,

Ngày xưa khi con còn thơ ấu
Công Cha nghĩa Mẹ hiểu gì đâu
Chỉ biết vui chơi và ăn học
Tuổi thơ hương nhụy chẳng biết sầu

Thời thế đổi thay Cha xa con
Mẹ nuôi con trẻ, dạ sắt son
Dạy con khôn lớn, nghe điều phải
Lẽ sống ở đời, đạo làm con.

Mười năm xa cách, ngày đoàn tụ
Hạnh phúc sao mái ấm gia đình
Con trưởng thành hơn bên Cha Mẹ
Hỏi Mẹ vui không, Mẹ chỉ ừ.

Vài năm trước đặt chân lên đất khách,
Cha Mẹ mong con học thành tài
Mai sau trở nên người hữu ích
Sao cho xứng đáng với thanh danh

Con đang đi những bước đầu tiên…
Bỗng đâu trong một ngày oan nghiệp
Cha đã ra đi vĩnh viễn rồi
Gia đình đau xót, buồn triền miên…

Con tiếc chưa làm gì đền đáp
Công ơn trời biển Cha đã ban
Lời Cha dạy, con luôn ghi nhớ
Giúp con nghị lực vượt gian nan

Kể từ nay Cha yên giấc ngủ
Ở nơi nào trong cõi thiên thu…
Cha nhìn con xum vầy bên Mẹ
Dõi bước con đi thật hiền từ.

Các con Khanh của Bố

Đỗ Tiến Đức

Họp mặt Đốc Sự 14

Friday, February 06, 2009

Chuyển bến

http://www.imeem.com/people/vNR7Zt/music/GGO99nrK/tuan_ngoc_chuyen_ben/?rel=1

Lời hay ý đẹp