Monday, November 10, 2008

Vẫn chuyện yếm thắm

Yếm Thắm từ Lan Đàm tôi tới A.C.La bằng tốc độ điện tử nên đã hóa thành ...chiếc gậy!
Nên,dựa trên thực tế, cũng có tý thơ con cóc phàn nàn với Ông A.C.La. Như sau :

Thuyền tình ở đó vẫn như vậy,
Mắt lão kèm nhèm nhưng còn thấy.
Gậy cũ từng dùng mấy chục năm,
Quơ tới quơ lui nên đã gẫy.
Buồn hết sẩy!
Lan Đàm
***

Thấy tiên sinh còn hung hăng dù gậy đã gẫy, tại hạ xin sửa lại một chữ trong câu chót:

Thay vì:
Thuyền tình xa tít đâu còn thấy
đổi ra:
Thuyền tình xa tít may còn thấy
Đạ tạ tiên sinh sớm tức khí trả lời.
A.C.La

Sunday, November 09, 2008

Yếm thắm


Bạn bè thi sỹ Lan Đàm hay mò mẫm tìm gửi những hình ảnh rất đẹp cho lão thi sĩ để nâng đỡ tinh thần và an ủi ngài lúc về già. Tuần này thi sĩ đã chuyển tiếp về Diễn Đàn rất nhiều slide show tuyệt đẹp. Mỗ tôi thì muốn vắt giò lên cổ mà chạy đủ thứ việc nên bây giờ mới rảnh rang thưởng thức những hình ảnh này.

Cái PPS chót gồm toàn hình giai nhân vận yếm thắm, nàng nào cũng đẹp như tiên giáng trần khiến Lan Đàm tiên sinh cầm lòng chẳng đặng mà than lên rằng:

"Sao mà nhiều Yếm Thắm quá vậy! Mắt "lão" hoa rồi!!!!"
(Trích email Lan Đàm)
Đồng cảnh ngộ, mỗ này bèn cao hứng phọt ra được mấy câu cóc nhái, xin viết ra để chọc cười quý anh chị:
Người đâu yếm thắm nhiều như vậy
Mắt lão hoa lên tìm chiếc gậy
Sỏi đá đường chiều dò dẫm đi
Thuyền tình xa tít may còn thấy
A.C.La

Kỷ niệm

Click to enlarge

Quanh thơ Vương Đức Lệ

GÓP Ý

Tôi có đọc được đoạn văn sau đây trên NAF trong bài “ Cái chết trong thi ca và thơ Vương Đức Lệ” của Lãm Thúy

"…Cũng bởi tiếc thời xuân xanh, tiếc thời non tơ tóc biếc, tác giả bỗng có ý nghĩ muốn tới Châu Nam Cực, nơi quanh năm tuyết phủ, để xác vùi trong giá băng, rồi muôn thế kỷ sau, băng tan, xác về tắm nước sông Hằng, phục sinh:

Bỗng dưng thèm tới, Châu Nam Cực
Để xác ta vùi dưới giá băng
Đợi đến mai này muôn kỷ nữa
Băng tan, về tắm nước sông Hằng !
( Phục sinh )
Thơ Vương Đức Lệ phơi bày một triết lý sống hết sức sâu sắc. Đó là triết lý Phật giáo, coi cuộc đời là vô thường, sắc không. Có cũng như không, không tức là có. Từ đó mở rộng ra ý niệm thiếu và thừa. Tất cả cũng chỉ là sự tương đối..."

Tôi nghĩ tác giả và người bình thơ đã hiểu sai về ý niệm “ tắm nước sông Hằng”. Đây là ý niệm của Ấn Độ Giáo là mỗi tín đồ trong đời, ít ra là 1 lần, phải tắm nuớc sông Hằng để sạch tội, KHÔNG PHẢI LÀ Ý NIỆM CỦA PHẬT GIÁO. Đức Phật cũng có nói đến sông Hằng, khi ngài đi dạo trên bờ sông và nóí đaị ý là “ có nhiều thế giới, như cát của bờ sông Hằng”.

Tôi không phải là Phật Tử, nên có thể hiểu không hết về ý nghĩa của “ tắm nước sông Hằng” và “ cát sông Hằng’, nếu sai xin nhận lời chỉ giáo.

Nguyễn Ngọc Liên
***
Anh Ngọc Liên kính ,
Thưa Anh, phần nói về tắm nước sông Hằng đã chấm dứt sau khi trích dẫn đoạn thơ. Từ câu " Thơ Vương Đức Lệ phơi bày một triết lý sống ..." là phân tích một đoạn thơ khác, mang ý niệm Phật giáo. Đại khái là sống thì cho rằng mình thiếu này thiếu nọ, khi chết đi huyệt nông sâu cũng thừa. Nếu LT nhớ không lầm, là vậy.
Có lẽ người bạn đánh máy bài thơ đã làm mất đoạn này, thành ra khiến người đọc hiểu lầm là LT phân tích việc tắm nước sông Hằng là quan niệm Phật giáo. Xin thưa Anh rõ: Hai vấn đề hoàn toàn khác nhau .
Được Anh đọc kỹ đến như vậy, Lãm Thúy rất mừng. Xin qúi Anh chị giúp đỡ giùm LT, bằng cách chỉ những chỗ sai lầm để LT được học hỏi thêm.
Xin đa tạ .
Khi có thời gian , LT sẽ tìm câu thơ sót để thêm vào cho có ý nghiã , chắc là không dễ , vì viết bài ấy , LT phải đọc cả 3 tập thơ cuả VĐL , giờ làm sao biết nó ởđâu ?
LT vốn chỉ là người làm thơ ,không phải nhà phê bình văn học , xin quí vị lương thứ .LT hết sức biết ơn .
Trân trọng,
Lãm Thúy

***

Trả lời " câu trả lời " Lãm Thuý

Nữ thi sĩ Lãm Thuý quý mến,
Cám ơn Lãm Thuý (LT) dã trả lời vài câu phê bình của tôi. Như LT viết "Có lẽ người bạn đánh máy bài thơ đã làm mất đoạn này, thành ra khiến người đọc hiểu lầm là LT phân tích việc tắm nước sông Hằng là quan niệm Phật giáo. Xin thưa Anh rõ: Hai vấn đề hoàn toàn khác nhau ". Quả vậy, tôi đã hiểu lầm ý của LT. Xin thành thực cáo lỗi nữ thi sĩ
NNL

Bình thơ

(tiếp theo)

Tiếp tục tìm hiểu, phân tích về quan niệm của Vương Đức Lệ về cái chết qua thi ca, ta còn thấy được cái chết ám ảnh anh từ ý thức sang cả vô thức.
Chắt chiu ba vạn sáu nghìn ngày
Biển lận từng giờ cũng trắng tay
Người bỗng ru hồn chiều hấp hối
Sương mờ ảo ảnh lượn quanh đây…
( Vô thức )
Thấy đó : Dù có chắt chiu thời gian, đánh cắp từng giờ, từng phút thì con người rồi cũng trắng tay, từ cát bụi cũng trở về bụi cát, chia nhau những nấm mộ phần:
Từ thân cát bụi ta về
Cùng em phận nhỏ ngồi chia cát lầm
Dìu nhau suốt nẻo đường trần
Quẩn quanh rồi cũng mộ phần chia hai
( Hoá thân )
Sự thực hiển nhiên ấy, khi được nói ra, nghe thật buồn. Quả vậy, mỗi con người sinh ra trong nỗi cô đơn trùng trùng, dù có yêu thương nhau, dắt dìu nhau cho hết đoạn đường trần, thì rồi mỗi người khi nằm xuống, cũng riêng một mộ phần.
Và bao giờ cũng vậy, trong thơ Vuơng Đức Lệ, ta luôn tìm thấy một nỗi gì gần như sự nuối tiếc khi thời gian trôi đi quá nhanh, giật mình trông lại thì đầu đã bạc, đời đã tàn, nắp quan tài đã mở.
Phân vân mở nắp quan tài
Ngẩn ngơ ướm hỏi thi hài đó ư ?
Ngày nào tóc biếc non tơ
Giật mình sương điểm bạc phơ mái đầu!
( Bóng ngày qua )
Cũng bởi tiếc thời xuân xanh, tiếc thời non tơ tóc biếc, tác giả bỗng có ý nghĩ muốn tới Châu Nam Cực, nơi quanh năm tuyết phủ, để xác vùi trong giá băng, rồi muôn thế kỷ sau, băng tan, xác về tắm nước sông Hằng, phục sinh:
Bỗng dưng thèm tới, Châu Nam Cực
Để xác ta vùi dưới giá băng
Đợi đến mai này muôn kỷ nữa
Băng tan, về tắm nước sông Hằng !
( Phục sinh )
Thơ Vương Đức Lệ phơi bày một triết lý sống hết sức sâu sắc. Đó là triết lý Phật giáo, coi cuộc đời là vô thường, sắc không. Có cũng như không, không tức là có. Từ đó mở rộng ra ý niệm thiếu và thừa. Tất cả cũng chỉ là sự tương đối.

Còn sống, ta cứ nghĩ mình sống chưa đủ ( sinh còn thiếu), còn quan tâm xấu đẹp, giàu nghèo, hơn thua,… nhưng đến khi chết đi, vào huyệt mộ thì nông sâu cũng thế, cũng chẳng còn ý nghĩa đặc biệt nào đối với người qua đời , ( cũng thừa ), lắm kẻ tiếc thương hay mọi người hờ hững thì cũng chẳng khác gì. Mọi giá trị trong đời thường đều trở thành vô nghĩa . Chẳng phải sao ?

Và chính vì hiểu vậy, Vương Đức Lệ có một cái nhìn bình thản đối với cái chết, xem nguyên ủy của nó như là một quỹ thời gian, người ta tiêu phí đi dần và đến lúc phải cạn, rồi thì cái chết sẽ đến, rất tự nhiên :
Ta tiêu gần cạn quỹ thời gian
Chợt hỏi càn khôn lẽ hợp tan
Vắt não ta tìm câu giải đáp
Xương này, cốt ấy đợi tro than !
( Qũy thời gian )
Sống là đi dần về cái chết, là chờ cho Thần Chết đón về, chỉ là gần hay xa. Lâu hay mau mà thôi. Thế nên sự chia tay với Thượng Đế đã sẵn sàng, ngay từ thuở mới dựng ngày, thuở khai thiên lập địa :
Người cùng Thượng Đế đã chia tay
Từ thuở khai sinh mới dựng ngày
Đêm xuống tròn xoe đôi mắt quỷ
Hãi hùng. Thần chết ngó quanh đây !
( Chia tay cùng Thượng Đế)
Trong tư thế sẵn sàng đó, tác giả thản nhiên tìm kiếm một “ Sinh phần”:
Tôi đi tìm dấu địa đàng
Tuổi em thôi đã úa vàng thanh xuân
Ồ ! Đây cuối nẻo đường trần
Giường này gối ấy đâu phần mộ tôi ?
Và cũng thế, thản nhiên nghĩ về “ Phút lâm chung “
Bước chân thần Chết đi vào
Chợt thân xác lạnh cúi đầu đi ra
Mặt quen kia nét sương pha
Từng khuôn mặt lạ bỗng oà khóc lên !
Mặt quen đã thành sương khói, mặt kẻ thân yêu thì bỗng lạ lùng. Rồi mai sau nữa, còn ai khói hương ? Còn ai tưởng nhớ ? Còn ai viếng thăm?
Mai sau còn dấu chân người
Về thăm ta giữa đất trời cổ sơ ?
Nồng nàn bụi phấn hương xưa
Ta quên chứng giám em vừa thắp nhang !
( Khói hương )
Và lòng yêu thuơng, dù người khuất bóng, vẫn còn đậm đà, còn chờ nhau ngoài cửa huyệt:
Ta gọi mãi thiết tha ngoài cửa huyệt
Đón em về chung một cõi chiêm bao !
( Chìm khuất )
Ôi! Tấm lòng yêu dấu thiết tha ngần ấy, đã chẳng để yên người nằm trong huyệt mộ, mà phải lần ra cửa huyệt, gọi thiết tha người cũ, chờ đón nhau về. Phải chăng, chính bởi luôn bị ám ảnh bởi cái chết, nên thơ Vương Đức Lệ có một nỗi sầu muộn đặc biệt hơn người. Trong bài thơ : “ Buồn trong đêm” đã thể hiện điều đó.
Đêm nay lòng lại buồn vô cớ
Gió hú mưa từ nguyên thủy ư?
Em sẽ về trong đêm nguyệt tân
Anh chờ khai đáy huyệt thiên thu!
Cho dù đáy huyệt thiên thu ấy chưa mở ra nhưng lời của quỷ đã nghe vang vọng:

Chưa xuống âm ty đã vang lời của quỷ
Vạc dầu sôi ninh cháy thịt xương
(Về xuôi cổ tích)
Tất cả những trùng trùng điệp điệp những trích dẫn trên đây đủ để nói lên một điều duy nhất ; Vương Đức Lệ bị ám ảnh bởi cái chết, nó luôn hiện hữu trong thơ anh, đặc biệt là khoảng thời gian anh còn khoẻ mạnh, chưa phát hiện ra bệnh tật gì nhưng có lẽ tiêu biểu nhất là bài thơ “ Vãng sinh đường” . Một tuyệt tác:
Vãng sinh đường
Vãng sinh đường
Thân này, cát nọ, vô thường đó sao?
Nằm im nghe tiếng kinh cầu
Nến kia ai thắp, hai đầu áo quan?
Ai về, nước mắt chứa chan?
Đường sinh diệt ấy, đa đoan cõi này
Những hình ảnh đau thương của tử biệt được gợi lại một cách chi tiết: “Nến thắp hai đầu áo quan”
Người tiễn đưa “nước mắt chứa chan” và ảo diệu nhất là hai câu thơ:
Bờ không, bến có ai ngồi ?
Ai quên ? Ai nhớ ? Lệ người tiễn đưa.
“ Bờ không” “ Bến có” gợi lại ý niệm vô thường trong cuộc sống_ sắc không _ Sự đối ý, đối từ của các câu thơ làm nên một hình ảnh vừa gợi cảm vừa bùi ngùi, và chính thế, tác giả cho rằng mọi thứ đều vô thường, sá chi !
Vãng sinh đường
Vãng sinh đường
Xác thân này chút vô thường. Sá chi!
Bình thản bởi chính sự thấu đạt ấy, tác giả an nhiên chờ đợi phút cuối cùng:
Trong ngõ ngách của từng nang phế phủ
Lửa ai châm ai đốt, xác ta?
Tử thần giơ lưỡi hái còn chờ
Ta cũng vậy, chờ chính ta thở hắt
Nẻo ta về thuần thục bước chân đưa!
( Hoại Không )
Một bài thơ khác _ Tiểu phẩm _ cũng mang một sắc thái lạ lùng, khiếp đảm:
Bóng dài đổ máu hoàng hôn
Ta ru xác lạnh càn khôn vẩn mù
Cũng thế, trong bài thơ “ Tình ở ngoài” ta lại bắt gặp hình ảnh thê thảm:
Mai về xác rữa hồn tan
Tình xưa ước cũ giải oan lời thề
Đến đây, tưởng cũng cần nên nhắc lại rằng toàn bộ những đoạn thơ trích dẫn trên đều nằm trong những tập thơ Vương Đức Lệ xuất bản trước khi phát hiện căn bệnh quái ác giết người kia. Đó là tổng hợp những quan niệm của anh về cái chết khi tử thần chưa hăm dọa anh, hay nói cách khác đi, anh chưa nghĩ rằng mình sẽ chết trong những khoảng thời gian rất gần. Khi biết mình mang căn bệnh nan y, khi cái chết là sự đe doạ thường trực, anh nghĩ gì về cái chết, ta thử tìm hiểu xem?

Bài thơ đầu tiên của phần này là một bài thơ viết rrong bệnh viện ghi ngày 10-8-06. Đây là những ngày đầu phát hiện ra căn bệnh:
Không dừng lại được
Ta cứ thế trôi đi, trôi đi
Những tháng, những ngày tan như bọt nước
Đêm đêm nghe biển thầm thì…
Ngắn ngọn mà súc tích, đoạn thơ nói lên được sự bất lực bi thảm của nhân sinh bị cuốn trôi trên dòng tai ương. Động từ “ trôi đi” chỉ thêm một lần lập lại mà dường như triền miên. Còn ngày tháng thì tan như bọt nước. Cách so sánh rất ư độc đáo làm rõ lên một điều đau đớn, xót xa. Người thì muốn dừng lại mà cứ phải trôi đi, trôi dần về cõi chết, thời gian muốn níu lại mà tan đi dễ dàng, như bọt nước trên đầu sóng.
Không trở lại chốn này
Người hôm qua ta từng gặp
Người hôm nay ta còn gặp
Nhủ thầm mai chẳng còn ai
( Bài ở Fairfax Hospital)

Chỉ mấy câu thôi, đủ nói lên nổi vô vọng của kiếp người. Người đã gặp hôm qua, người còn gặp hôm nay, lần lượt ra đi, rồi chẳng còn ai nữa, và đến chính bản thân mình cũng sẽ ra đi. Biết vậy mà không thể dừng lại. Con người đứng bên bờ sinh tử thật biết bao nuối tiếc, biết bao đau xót, biết bao sợ hãi nữa- dĩ nhiên. Nhưng thơ Vương Đúc Lệ không để lộ ra điều đó. Anh bình thản trước tai ương bệnh tật, lúc nào cũng vui vẻ, đùa cợt dí dỏm. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ thơ anh , ta sẽ thấy bao nhiêu là u hoài cất giấu trong đó
Ngày tháng có ta ư?
Mai này còn đâu nữa!
Em còn về qua cửa
Nồng nàn nhớ bóng trăng xưa?
“Mai này còn đâu nữa” chỉ một câu tán thán như thế, đủ nói lên bao điều xót xa, buồn bã. Mà đâu phải chỉ có thế, một nỗi bất lực thê thảm đã dần dần hiện ra trong thơ anh
Không dừng lại được
Bọt nước cứ tan đi, tan đi
Từng tế bào trong ta vữa nát…
( Bài ở Fairfax Hospital)
Còn gì khủng khiếp hơn khi chúng ta sống mà biết rằng từng tế bào trong ta đang vữa nát, thân xác ta đang băng hoại nhưng vô phương ngăn chận.
Con người, với bản năng sinh tồn, ai mà không muốn sống, chỉ tiếc rằng lực bất tòng tâm, đành xuôi tay trôi hoài về cái chết. Trong bài thơ “Bên giòng Nại Hà” tác giả cũng gửi gấm bao nhiêu là thống khổ
Bên kia giòng Nại Hà
Là hồn ma bóng quế
Bên này bờ dâu bể
Là từng lớp phế hưng
Ta thấy mọc trên lưng
Trùng trùng gai thống khổ
Ta nhìn ta đáy mộ
Chỉ thấy trời mênh mông…
Từ đó cho thấy dù yếu đuối, dù can đảm, phải chấp nhận sự thực ấy, sự thực là cái chết đang cận kề mình, Thần Chết đang vây bủa mình. Thật là kinh khủng! Đứng bên này sông Nại Hà - Con sông truyền thuyết của đôi bờ sinh tử
Thao thức một dòng sông
Nghìn năm nghe sóng vỗ
( Bên kia dòng Nại Hà )
Ôi! Con sông thiên thu vỗ hoài bờ sinh tử, vỗ vào lòng người mấy nỗi tiếc thương…
Mai này, mốt nọ không về nữa
Dáng cũ ai tìm Em lối xưa?
Nồng nàn con mắt tình đưa
Ngọt ngào câu hát người ru ngậm ngùi
(Mai này mốt nọ)
Trong nỗi ngậm ngùi thương đau đó, dường như nỗi tuyệt vọng đã tràn ngập, mọi cánh cửa đã đóng…
Bàn tay nào đóng cửa sắc không ?
Dòng thời gian ngược, xuôi cháy bỏng
Từ lâu rồi trăng mộng đã lâm chung!
Trăng mộng lâm chung, cuộc đời cáo chung, mọi thứ đã vô vọng, vậy mà Vương Đức Lệ vẫn còn đủ can đảm để cợt đùa dù đang nằm trên giường bệnh vừa thoát chết trong đường tơ kẽ tóc:
Tử thần bắt hụt ta lần nữa
Bạn mới mừng chung khoá nỗi vui
Bạn cũ buồn riêng ly rượu phạt
Ôm vai, bá cổ ngẩn ngơ cười!
Lãm Thúy còn nhớ khuôn mặt anh sáng lên trong nụ cười tinh nghịch khi đọc câu thơ này .
“Tử thần bắt hụt ta lần nữa” Anh kêu gọi bạn bè làm tiếp đoạn thơ. Lãm Thúy cười với anh mà thâm tâm chua xót. Khi về, nói với Lê Thị Ý - em anh - rằng sự thoát hiểm chỉ là tạm bợ, sự chiến thắng không hứa hẹn điều gì cả. Thế nhưng, đọc bài thơ “Trên giường bệnh ngẫu hứng” của anh, Lãm Thúy khâm phục cho lòng lạc quan hiếm có ấy:
Đã mấy lần rồi tai giả điếc
Tử thần lay gọi mãi, không nghe !
Bởi còn lưu luyến duyên phàm tục
Mải đợi người xưa lạc bước về
Cái ý thơ mới hồn nhiên làm sao, chỉ cần giả điếc, tử thần lay gọi không nghe là khỏi chết. Thật ngộ nghĩnh, thật dễ thương. Ta bắt gặp ở đó cái hồn nhiên của những đứa trẻ chơi trò trốn tìm, cái ngây thơ của những tâm hồn thánh thiện, vô tư, nhưng không phải lúc nào cũng thế. Trong bài “Âm ty “ một sự chấp nhận thê thảm đã được bày tò:
Sẽ gặp lại nhau thôi
Bên kia bờ sinh tử
Trong những ngày kỵ, giỗ
Hay những đêm rằm xá tội vong nhân
Ôi! Lời hẹn với thiên thu nghe sao mà bùi ngùi. Càng buồn hơn trong cuộc tương phùng tưởng tượng chốn âm ty:
Gặp lại muôn xưa những người quen rất cũ
Tỉ tê tình cố thổ với thiên thu
Trãi mật gan phơi chỉ còn dăm xác thú
Chiều tàn phai ướt sũng những cơn mưa
Hình ảnh “chiều tàn phai ướt sũng những cơn mưa” có một cái gì thật ảm đạm, thê lương, suy tàn, nó kết hợp với hình ảnh ghê rợn “ dăm xác thú” “ trãi mật gan phơi’”. Làm nên một không khí chết_ không khí của cõi âm ty _ Cõi này được tô đậm thêm bằng những hình ảnh trong truyền thuyết : “ Con chó Ngao” “ Dòng Nại Hà “ với những cơn sóng” chồm lên hung dữ” để “ xoá những cuộc tình đã qua”. Xoá những người tình đã qua, để cuối cùng, chỉ còn duy nhất một đôi uyên ương Orphé và Eurydice, cũng là truyền thuyết.
Ở phần trên, chúng ta đã phân tích quan niệm của thi sĩ Vương Đức Lệ về cái chết. Giờ đây, ta đào sâu tâm trạng của anh khi đối diện với cái chết. Trong tâm trạng đau thương ấy, anh đã nghĩ về ngày lâm chung, về bàn tay nào sẽ vuốt mắt? bước chân nào sẽ ngậm ngùi tiễn đưa ? Đó là bài thơ anh viết sau một năm vào bệnh viện Inova Fairfax Hospital,.
Sau một năm chống chọi với cái chết, một năm chữa trị tuyệt vọng, anh đã biết mình không thể giả điếc mãi với tử thần, và anh chuẩn bị cho mình một tư thế sẵn sàng chấp nhận mọi tình huống đau thương.
Bàn tay nào vuốt mắt tôi
Ngón nào bấm nút châm mồi hỏa thiêu?
Trăm năm mộng ước còn nhiều
Trần gian hồ dễ đủ điều nỉ non?
( Bàn tay vuốt mắt )
Chấp nhận điều sinh tử như một sự tất nhiên, một “ nẻo thuộc, đường mòn” và “âm dương đôi ngả” cũng “ vuông tròn đó thôi”
Tử sinh nẻo thuộc đường mòn
Âm dương đôi ngả vuông tròn đó thôi!
Nhưng vẫn thắc mắc tự hỏi :
Bàn tay nào vuốt mắt tôi?
Và chân ai bước ngậm ngùi tiễn đưa?
Và giờ khắc nào mình sẽ ra đi :
“ Ngày nắng sáng hay chiều mưa tối trời?”
Một khi mình đã ra đi, người đời vẫn hững hờ với những cơn vui cũ:
Đời mai hờ hững cơn vui
Làm cho nụ cười trong bức chân dung để lại bỗng thành gượng gạo , ngỡ ngàng :
Bức chân dung bỗng gượng cười với ai?
Cũng trong cùng một mối quan tâm , ở một bài thơ khác : “ Phút cuối riêng tư “ Tác giả hỏi thêm lần nữa :
Bàn tay nào vuốt mắt tôi đây?
Bàn tay nào lay tôi tỉnh dậy?
Một sát na nào tôi không ở đấy
Một sát na nào tôi ở chân mây.
Cái sát na đau thương ấy đã diễn ra , mảnh linh hồn nhạy cảm ấy đã vĩnh viễn rời bỏ xác thân , rời bỏ cuộc đời , không còn bàn tay nào có thể lay Anh tỉnh dậy được nữa ! Sự ra đi ấy thành một tổn thất lớn lao cho nền văn học Việt Nam , đặc biệt là những sinh hoạt văn học nghệ thuật vùng Hoa Thịnh Đốn .

Riêng Lãm Thúy, yêu qúi thơ VĐL, tìm thấy một nét đặc thù trong thơ Anh, muốn mang ra san xẻ cùng qúi vị , để mọi người cùng thưởng thức; nhưng LT cũng vừa nhận ra một điều quan trọng rằng : Cho dù Anh là một nhà thơ tài hoa, trong những tháng ngày đau thương tuyệt vọng nhất, ngòi bút dường như bất lực, không thể nào nói lên được hết những đau xót, tiếc thương, khao khát yêu đương, thiết tha muốn sống còn của Anh.

Chỉ còn hai điều ân hận mãi trong lòng. Thứ nhất : không viết kịp bài này để Anh có chút niềm vui khi biết có người cảm được thơ mình. Thứ hai: Có lần đến thăm , vô tình cùng chị Lê Thị Ý nói gì đến những cái chết ở đâu đó, Anh bỗng nhiên đứng dậy than phiền :”Nói chết hoài , buồn thấy mẹ!”. Có lẽ chỉ câu nói “bình dân “
ấy mới nói lên được trọn vẹn những đau buồn của VĐL suốt thời gian chống chọi với bệnh tật, với cái chết , suốt thời gian Anh cố tỏ ra can đảm để những thân yêu đỡ phải đau lòng!

Anh đã ra đi, nhưng thơ Anh còn để lại cho chúng ta biết bao điều hay đẹp, còn cả một gia tài qúi giá để lại cho đời.

Lãm Thúy
4/5/08 3 giờ sáng.

Saturday, November 08, 2008

Xa xưa

Click to enlarge

Friday, November 07, 2008

Thu hút lối 800 người tham dự

buổi ra mắt tác phẩm

“Ở CUỐI HAI CON ĐƯỜNG”
của PHẠM TÍN AN NINH


thành công vượt bực

Phùng Nhân
tường trình


Vào lúc 1,30pm ngày mùng 2 tháng 11 năm 2008. Tại Trung Tâm Sinh Hoạt Văn Hóa Cộng Đồng Người Việt NSW Sydney, nhóm bạn cựu học sinh trường Trung Học Võ Tánh Nha Trang và thân hữu Úc Châu, đã tổ chức một buổi phát hành tập truyện ngắn Ở Cuối Hai Con Đường của nhà văn Phạm Tín Anh Ninh để trợ giúp thương phế binh VNCH tại quê nhà.

Đây là một buổi phát hành sách quy tụ, được rất nhiều thành phần trẻ. Thành phần trí thức, cựu quân nhân và các đoàn thể tổ chức chánh trị. Mà gần như trong mấy chục năm qua, chưa có cuộc sinh hoạt văn hóa phát hành sách nào ở Sydney mà có được sức thu hút đông đảo như lần nầy. Có thể nói đây là một sự thành công, đã vượt ra ngoài dự định của mọi người, nên ban tổ chức phải sắp đặt thêm ghế ngồi mà không đủ. Cuối cùng phải đứng thêm một vòng ngoài thật là đông, chính điều đó đã thổi lên một luồng sinh khí cho nền văn hóa lưu vong ở đây, mà từ lâu rồi sinh hoạt loại nầy đã bị lảng quên trong thầm lặng.

Theo một lẽ rất thông thường, một cuốn sách cho dù có hay đến cỡ nào, thì nó cũng cần phải có thử nghiệm với thời gian. Tới chừng đó, thì nó mới được nổi tiếng, hay trở thành The best seller. Nhưng cuốn Ở Cuối Hai Con Đường, thì nó đã trở thành một hiện tượng nóng bỏng tại Úc Châu. Ngày phát hành đầu tiên, nó đã cuốn hút đọc giả đến tham dự có lẽ trên 800 người là ít.

Có một điều đáng nói ở đây, là tác giả hiện đang sinh sống tại Na Uy. Mà sự nghiệp cầm viết của anh cũng chỉ mới đây thôi, như anh đã từng tâm sự. Vì sự cầm viết của anh, không phải bắt nguồn tự một việc mưu sinh. Mà nó chỉ bắt nguồn thuần túy của một con người đã sống, và đã từng bị dùi dập đối xử bất công trong đạo lý làm người. Khi anh đã trình diện đi học tập cải tạo trong các trại tù, từ miền Nam rồi họ chuyển anh ra tận ngoài miến Bắc thời tiết lạnh muốn thấu xương, mà tất cả tù nhân cho dù đang bị giam giữ ở bất cứ trại nào. Khi tiếng kẻng báo thức từ lúc tinh mơ, thì phải sắp hàng đi theo người cảnh binh họ dắt lên rừng, hay lội xuống nước để làm lao dịch mà không có đồ để bận chống lạnh.

Chính ở những nơi đây, ma thiêng nước độc, đã quậc ngả rất nhiều bạn đồng đội, đồng ngũ của anh, đã làm cho anh không còn đủ nước mắt để khóc than trong những giờ phút lâm chung tuyệt vọng như vậy. Nên bao chuyện bể dâu cứ chất chứa mải trong đầu, cho đến một ngày kia thì anh được đi định cư bên xứ tuyết Na Uy. Thì bao nhiêu chuyện ấy nó đã tuần tự lên mầm, bắt đầu mọc ra như một đám mạ non. Sau bao tháng năm héo hon vì khô hạn, bây giờ gặp thời tiết thuận hòa, có gió có mưa nên đám mạ ấy tự nhiên ngậm sương kết hột, để trở thành một đám ruộng phì nhiêu. Mà Phạm Tín An Ninh, anh chỉ cần đưa liềm ra gặt bó, chớ không cần phải đi tìm kiếm đâu xa.

Chính nhờ những chất liệu phù sa đó, mà vun bón cho tác phẩm đầu tay của anh nó được trúng mùa. Từ ngôn ngữ, cho tới câu văn. Cách dựng truyện cũng không cần nhiều hư cấu, mà anh viết nó lại một cách bình thường, rồi sắp xếp thành từ truyện, từ trang. Nhưng mỗi trang sách của Phạm Tín An Ninh, nó bắt con người ta trăn trở. Khi đọc đến những đoạn đời khổ nạn mà anh đã trải qua, cũng như bao biến cố đau thương của dân tộc. Từ ông quản giáo Nguyễn Văn Thà trong truyện Ở Cuối Hai Con Đường, cho tới truyện Người Bán Sách Trên Bãi Biển Nha Trang. Đọc giả sẽ bắt gặp nơi đây, tác giả thường mở rộng lòng mình, cũng như mở rộng cốt truyện thật lớn mênh mông, để từ đó dòng chảy nhân ái của con người sẽ tuông tràn vào trong cuộc sống thân yêu bất tận.

Có lẽ đó là những chuyện đời, mà tác giả đã từng chung đụng, tác giả đã từng ra sức cưu mang. Cho nên từ nơi mạch văn, con chữ đã tự nó nói lên một cảm xúc rất tự nhiên, khiến cho đọc giả có cảm giác là chuyện đó đã từng xảy ra đâu đây gần lắm. Cũng chính vì niềm cảm xúc mạnh mẽ đó, mà dường như trong tập truyện đầu tay nầy đã xóa nhòa ranh giới, giữa hư cấu và chuyện thật ngoài đời. Nên 16 cái truyện ngắn trong tập truyện nầy, là 16 cảnh đời đang xảy trước mắt của chúng ta. Chính vì bao lẽ đó mà có người đã khóc, khi đọc tập truyện nầy còn trên Internet, hay những bài mà các báo chí trích đăng lại kể từ khi nó còn là những mảnh giấy rời.

Mở đầu chương trình nhà báo Lưu Dân, cho chiếu slide show về cuộc đời niên thiếu của tác giả. Từ khi đi học cho đến lúc vào đời, cho đến khi anh đi vào quân đội. Rồi cuộc chiến đã tàn, Phạm Tín An Ninh cũng như bao nhiêu người sĩ quan quân đội Cộng Hòa Miền Nam thời đó. Anh phải đi học tập cải tạo, từ miền Nam ra tận ngoài miền Bắc xa xôi. Để cho anh tích lũy đầy ắp trong đầu, những điều tai nghe mắt thấy.

Bên cạnh những hình ảnh hào hùng, như cấm lại ngọn cờ trên cổ thành Quảng Trị thân yêu. Là hình ảnh của những người lính thương phế binh tay chưn đã mất, họ lây lất cuộc sống qua ngày. Mà thời buổi nầy, nếu con người có đủ sức khỏe cũng phải gặp khó khăn trong việc mưu sinh. Còn những người thương phế binh nầy, họ biết làm gì để sống. Thế mà họ vẫn tồn tại như một chứng nhân lịch sử, dù lịch sử rất đau thương, mà họ đã đem thân thể của mình ra hy sinh trong cuộc chiến.

Vậy mà họ đã sống âm thầm như vậy trong những năm qua. Như một cái bóng bên đường, để chờ ngày xuôi tay nhắm mắt. Bao nhiêu hình ảnh đó, đã gây ra một nỗi đau đớn ngậm ngùi. Khiến cho tất cả hội trường, dường như có giọt lệ xót thương. Cho dẫu muộn màng, nhưng đã nói lên được một điều thầm kín.

Chính sự thôi thúc bất ngờ đó, nó không dự báo trước cho anh để trở thành một nhà văn. Nhưng rồi khi cuốn sách được phát hành, anh được bạn bè thân hữu gọi cho một cái tên thân ái. Nhà văn Phạm Tín An Ninh của đất Nha Trang, quê vợ Ninh Hòa, đã đến Sydney trong vòng tay chào đón của bạn bè. Mà việc làm đó nó cao cả to lớn xiết bao, khi khán giả ngồi nghe Ban Tổ Chức giới thiệu.

Luật sư Nguyễn Văn Thuần, sau khi trình bày ý nghĩa và việc làm của ban tổ chức. Sau đó anh tuyên bố là tất cả số tiền bán sách, trừ lại phần chi phí in ấn phát hành. Còn bao nhiêu thì ban tổ chức, cũng như tác giả sẽ trao tận tay đến những người lính thương phế binh của thời Việt Nam Cộng Hòa, hiện còn đang sống vất vưởng ở quê nhà. Nhưng số tiền đã kiếm được hôm nay, trước hết là anh xin cúi đầu trước tấm lòng nhân hậu của nhà văn Phạm Tín An Ninh. Để cho ban tổ chức một tác phẩm Ở Cuối Hai Con Đường, mới có điều kiện mà giúp đỡ thương phế binh, được cô bác anh chị em ủng hộ thật là đông đảo.

Tiếp theo là nhà văn, cũng là nhà báo Phan Lạc Phúc, ký giả Lô Răng đã từng lừng lẫy một thời. Được giới thiệu là người điểm sách hôm nay, làm cho tất cả hội trường đều im lặng. Ông Phan Lạc Phúc cũng không đề cập đến nội dung cuốn sách gì nhiều, mà ông chỉ có nói chung chung giữa con người cầm viết với nhau. Muốn viết được điều gì tốt, thì trước hết nhà văn phải có cái tâm thật tốt.

Cũng chính vì điều suy nghĩ đó, mà ông xem cái truyện ngắn Ở Cuối Hai Con Đường là một cái truyện tiêu biểu nhứt. Để từ đó, tác giả đã chọn nó làm một cái tên cho tập truyện. Còn cuốn sách ông xin để lại cho đọc giả cầm về nhà rồi

sẽ đọc sau, bởi vì ông mới vừa nhận cuốc sách nầy ngày hôm qua, thì ông không thể có nhận xét cách gì cho đúng với vị trí của nó trong tủ sách gia đình, mà cô bác anh chị em ở thành phố Sydney đang tham dự.

Tiếp theo là bác sĩ Đào Quang, một bác sĩ chuyên khoa về xương rất nổi tiếng ở vùng Liverpool. Ông Đào Quang cho biết, đây là lần tiên ông được tham dự một buổi phát hành sách như thế nầy. Vì khi đi vượt biên với cha mẹ tới đây chỉ mới có mấy tuổi, nên nói tiếng Việt không được rành. Nhưng ông cũng ráng đọc, để biết được nội dung của cuốn sách nầy, tác giả Phạm Tín An Ninh đả gởi gấm những gì trong đó, mà trong mấy ngày qua đã được các cơ quan truyền thông, cũng như báo chí họ đề cập đến rất nhiều.

Chính ông cũng không ngờ, tập truyện ngắn đã lôi cuốn thật là dữ dội. Cũng như nó đã khuấy động tâm tư của ông, khi biết được cha mẹ ông, dân tộc ông đã chịu qua một thời kỳ đen tối. Một thời kỳ lao dịch khổ sai, mà hầu như từ trước tới nay ông chưa bao giờ hình dung ra nổi.

Ngày hôm nay nhờ đọc cuốn truyện nầy, ông mới hiểu được chính cuộc đời của ông, địa dị của ông ngày hôm nay có được, là nhờ những người lính như Phạm Tín Anh Ninh đã đem thân ra bảo vệ. Để rồi hôm nay những mẩu chuyện nầy, lưu dấu lại cho mai sau, nên ngày hôm nay đối với ông rất là trân trọng. Có lẽ nhờ nó, mà ông sẽ mở rộng tầm nhìn ra trong thời đại hiện giờ. Ông sẽ sát cánh với thệ của ông, để từ đó đi đúng theo con đường mà thề hệ cha ông đã từng đi trước...

Phải nói đây là một gương mặt trẻ, một thành phần trẻ. Đã nói lên được tiếng nói của thế hệ mai sau, biết kề vai gánh vác những gì mà cha ông làm còn dang dở. Vì thế mà sau khi dứt lời, một tràng pháo tay tán thưởng nổi lên, để chuyển lửa về đến tận quê nhà, mà hiện nay ở trong nước người dân còn đang gánh chịu rất nhiều áp bức.

Tiếp theo là phần phát biểu của tác giả Phạm Tín Anh Ninh, anh cho biết ý nguyện của anh, là ghi lại những mẩu chuyện có liên quan tới cuộc sống. Những chuyện để nói lên bao nỗi khổ đau của dân tộc, mà anh đã có một thời kỳ chịu đựng và vượt qua.

Anh viết lại cuốn sách nầy, không phải để khêu lại lòng thù hận. Mà anh muốn nói lên lòng trắc ẩn của con người, trong quá khứ cũng như hiện tại, đến lúc nào đó cũng phải đối diện với lương tâm. Chỉ có tình người, và lòng nhân ái mới là bền vững. Còn những tội ác, hay những chủ nghĩa cực đoan do một số người lãnh đạo dựng lên. Nó chỉ là một bóng mây đen trong thời kỳ đen tối, rồi đây nó sẽ bị dẹp tan, khi toàn dân cương quyết đứng lên phá bỏ...

Tiếp đến là chương trình văn nghệ thật là phong phú, Ban Phượng Tím đã hát một lượt 3 bản Hòn Vọng Phu. Giọng hát vút lên cao, như đưa hồn người vào thời chinh chiến. Mà ở đó hình bóng chinh nhân, một thanh gươm trên lưng ngựa đang xông pha nơi chốn sa trường. Khiến cho người nghe càng thêm đem lòng hoài cảm. Cũng như trong 16 truyện ngắn của Phạm Tín An Ninh, đã được xây dựng trên tình người. Của sự thủy chung, của nền đạo lý bây giờ và cho cả mai sau không hề lay chuyển.

Cuối cùng trong buổi ra mắt sách, ban tổ chức đã trao cho ông Nguyễn Thanh Thuỷ, đại diện cho Hội Thương Phế Binh Quân Lực VNCH/NSW một số tiền là 10,000 Úc kim/-

Phùng Nhân
(Cám ơn anh Nguyễn Văn Sanh đã chuyển)

Loài thú độc ác nhất!



Click to enlarge

DANEMARK: UNE HONTE,
FAIS LE PASSER, EN ESPÉRANT QUE QUELQU'UN PUISSE FAIRE QUELQUE CHOSE POUR Y REMÉDIER, TERRIBLE !!!! AUCUN DOUTE : LA PIRE DES BÊTES SUR LA PLANÈTE EST BIEN L'ÊTRE HUMAIN !!!

Tủi hổ cho Đan Mạch!
Hãy loan đi, hy vọng rằng một người nào đó sẽ làm được một điều gì để cứu chữa.
Kinh khủng!
Không ai còn nghi ngờ: Con người đúng là loài thú độc ác nhất trên hành tinh này!

**

- Anh Lưu đang cư trú tại Đan Mạch nên gởi anh xem vụ "đẩm máu" cá voi này nhờ anh giải thích lý do nếu có thể. Tôi đoán là loại cá voi này bị tiếng động làm kinh sợ ngoài khơi nên bơi vào gần bờ để tránh . Con người đã không cứu giúp còn giết chúng nó, máu loang cả một vùng biển, trông khiếp quá!

- Quả đúng vậy, hằng năm một cuộc tàn sát đẫm máu và man rợ ở những hòn đảo tại xứ Đan Mạch .

-
Anh Hương thân kính.

Coi những hình ảnh này, tôi thấy nổi gai ốc. Đây là chuyện xẩy ra trên những hòn đảo cực bắc Đại Tây Dương thuộc Đan Mạch. Loại cá voi này thường đi từng đàn. Khi ngoài khơi, biển động mạnh, chúng thường giạt vào bớ hoặc những vịnh nhỏ để tránh sóng. Ngư dân và cư dân đã giết chúng vì ham tiền.
Tôi sống tại Na Uy, một nước nhỏ (Diện tích khoảng bằng VN mình nhưng dân số chỉ có khoảng hơn 4 triệu) cách Dan Mạch (về phía bắc) một eo biển nhỏ (Biển Bắc Hải).
"Săn cá voi" là nghề "truyền thống" của các nước thuộc Bắc Âu như Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch... Tại Na Uy đã có luật cấm vì sợ loài cá này sẽ bị tuyệt chủng. Mỗi năm chỉ còn được đánh bắt một số lượng ít thôi (Tôi không biết rõ số lượng). Cá voi cũng có nhiều giống khác nhau. Có những giống còn rất ít và tuyệt đối cấm không được giết hại loại này. Những ngư dân Na Uy phạm phải luật này sẽ bị xử tù 25 năm (Mức án nặng nhất ở đây. Án tử hình và chung thân khổ sai đã được bãi bỏ từ lâu).

Thân.
Lưu.
**
Anh Lưu kính,
Anh ở xứ Na-Uy mà tôi nhầm ra Đan Mạch ( xin lổi ) anh nhá. Cám ơn anh đã cho biết tin
về chuyện dân Đ.M. giết cá voi. Ở Mỹ hay Canada khi có đàn cá voi dạt vào bờ thì dân cư họ đến cứu giúp . Những con nhỏ còn sống và nuôi chúng một thời gian cho khỏe mạnh thì họ trả về biển . Người Việt đi biển cũng không giết cá voi mà còn thờ như thần biển vì có huyền thoại là loài cá voi cứu giúp người bị chìm ghe hay bảo tố ngoài khơi.
Thân mến,
VLH

Thơ NT


Click to enlarge

DVD ghi cuộc phỏng vấn GS Nhân về GS Bông

Click to enlarge

Kính thăm Cô Jackie Bong Wright,

Chúa Nhựt này Hội CSV/QGHC/NSW sẽ tổ chức Lễ Tưởng Niệm Qúy Vị Giáo Sư và CSV/QGHC qúa vãng. Trong dịp này Hoàng Hoa sẽ kính tặng Ông Cựu Đại sứ Đoàn Bá Cang và Giáo Sư Nguyễn Khắc Nhân các DVD Phỏng Vấn hai vị về Những Kỹ Niệm hai vị còn nhớ về Giáo Sư Viện Trưởng Nguyễn Văn Bông. Món quà nhỏ này như Một Lời Cảm Ơn Chân Thành của HH đối với sự đóng góp của hai vị về DVD và Di Cảo GS Nguyễn Văn Bông.

Đính kèm là Designs về DVD Cases và DVD.

Kính chúc Cô và gia đình Vạn Sự Như Ý.
Hoàng Hoa

Thursday, November 06, 2008

Di sản từ chính quyền Bush

Tân Tổng Thống Obama
lãnh nhận

Trọng Đạt

Cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ lần này 4 tháng 11 năm 2008 không hào hứng như người ta dự đoán. Tối 4-11 người ta bắt đầu đếm phiếu, kết quả cho thấy nó gần giống như đã thăm dò, lúc 9 giờ 30 tối ấy trên TV cho thấy tỷ lệ phiếu cử tri đoàn giữa Obama và Mc Cain là 207 và 144 nhưng chỉ nửa giờ sau chúng tôi thấy tại Time Square Nữu ước và tại Chicago người dân đang tụ tậïp đông đảo, hoan hô ầm ĩ ông Obama đã đắc cử Tổng thống vì đã đoạt được 284 phiếu cử tri mà chỉ cần 270 là đắc cử, khi ấy ông Mc Cain được 161 phiếu.

Năm 1992 ông Tổng thống Bush cha đã để lại cả một đống khó khăn thử thách cho ông Bill Clinton như thất nghiệp, tỷ lệ từ 7% tới 8 % thâm thủng, lạm phát…. y như ông Bush con để lại cho ông Obama bây giờ, thật là một sự tình cờ, lịch sử lại tái diễn y chang như 16 năm về trước. Cách đây hai năm ông Bush cha có nói với truyền thông

"Gia đình tôi làm phiền hà nước Mỹ cũng nhiều rồi!"

Ấy thế mà khoảng 6 năm trước có người tiên đoán em ruột ông Bush (Thống đốc Florida) có thể sẽ được đề cử ra tranh cử Tổng thống sau ông Bush con vì nghĩ rằng nhà họ Bush có mả làm vua trị vì trăm họ!!!

Ông Bill Clinton khi còn tranh cử Tổng thống năm 1992 chỉ trích ông Bush cha không tạo thêm công ăn việc làm cho người dân (create job), ông hứa hẹn sau khi lên làm Tổng thống sẽ cứu vãn được tình thế suy thoái và từ 1992. Sau khi đắc cử ông Clinton thay đổi chính sách kinh tế đưa tới sự phồn thịnh cao điểm là năm 1998 nhưng ông lại vấp phải vụ xì căng đan sexual harass làm nhục cho cả nước Mỹ khiến cho công trạng của ông bị lu lờ.

Nay ông Obama cũng dứng trước những thử thách: ngân quĩ thâm thủng 1000 tỉ, thị trường địa ốc phá sản, khủng hoảng tài chánh, chứng khoán vẫn còn tiếp tục, kỹ nghệ xe hơi suy thoái, thất nghiệp ( Cali tỷ lệ 7.7%)…và chưa biết ông sẽ phải giải quyết như thế nào. Cách đây mấy tháng trên một tờ báo Việt ngữ online hải ngoại có người nói đùa “Làm Tổng thống Mỹ không có sướng đâu, vị Tổng thống đắc cử 2008 trước hết sẽ phải lo mà hốt cái đống rác vĩ đại do chính phủ Bush để lại”. Nay ông Obama đang đứng trước những cái khó khăn chồng chất về kinh tế tài chính do chính phủ Bush con để lại y như ông Bill Clinton lãnh cái gia tài đổ nát do ông Bush bố để lại 16 năm về trướ. Ông Obama có giải quyết được hay không thì chỉ có thời gian sẽ là câu trả lời đúng nhất, bây giờ hãy còn quá sớm để chúng ta tiên đoán. Lợi dụng lúc Hoa Kỳ đang suy yếu về kinh tế, những nước thù nghịch Iran, Bắc Hàn, Nga.. thừa cơ nước đục thả câu hăm he phá thối, đây lại là một gánh nặng thêm cho ông tân tổng thống Obama.

Cuộc bầu cử Tổng thống nhiệm kỳ 2008-2012 đã kết thúc, trắng đen đã rõ ràng , Obama thắng Mc Cain với tỷ lệ quá cao chưa từng thấy nhất là về số phiếu Cử tri đoàn 355 trên 183, kẻ thắng người thua đã hoàn toàn do lá phiếu của người dân Hoa Kỳ quyết định. Kết quả kiểm phiếu được phổ biến trên TV đã khiến cho nhiều người xúc động, những người ủng hộ gà nhà Obama thì reo hò sung sướng, những người ủng hộ ông già Mc Cain thì buồn rầu tê tái. Cá nhân tôi đi bầu cho ông già Mc Cain từ tuần trước, tôi đoán trước là ông ấy sẽ thua nhưng vẫn bầu cho ông ấy vì theo tôi ông là người có nhiều kinh nghiệm chính trường và vì quá trình của ông có nhiều liên hệ với Việt Nam và tôi là người Việt. Mặc dù đoán trước là Mc Cain thua tôi cũng không dấu nổi niềm xúc động dạt dào khi thấy kết quả công bố trên TV, một sự thất bại hoàn toàn thê thảm.

Cộng Hoà 4 năm trước đây hân hoan ăn mừng chiến thắng vĩ đại, kiểm soát một lèo Hành pháp cũng như toà nhà Quốc Hội nay sụp đổ tan tành thê thảm. Sau 8 năm cầm quyền, 4 năm kiểm soát cả toà Bạch ốc và điện Capitol, nay Cộng Hoà tan như xác pháo trước sự phẫn nộ của người dân, có người nói đảng Cộng Hoà cần xét lại đường lối của mình, nó có còn hợp thời hay không, có đi trật đường rầy hay không. Cách đây mấy năm người Mỹ cho rằng chính phủ của Tổng thống Bush đã đi trật đường ray (track), chiến tranh Iraq là một sự sai lầm trầm trọng, nó ảnh hưởng tai hại cho nền kinh tế Mỹ. Sự thực thì đối với bất cứ quốc gia nào, không có cuộc chiến tranh nào là không phá hoại xoi mòn nền kinh tế quốc gia đưa tới lụn bại như lịch sử đã từng chứng kiến .

Con người ta dù tài giỏi tới đâu cũng cần phải gặp thời, gặp lúc như Lénine, Hitler, Mao, Hồ.. thành công một phần nhờ khôn ngoan giảo quyệt và phần lớn nhờ thời cơ đưa đẩy, Obama dù là người có tài nhưng cũng là người gặp thời cơ thuận tiện, thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Phải nói rằng Mc Cain là người không gặp thời, không có số làm tổng thống, ông có ưu thế là người da trắng, quá trình chính trị và kinh nghiệm chính trường dồi dào, là người yêu nước… nhưng một biến cố bất lợi bất ngờ ở đâu ập tới. Chúng ta thấy trước ngay bầu cử khoảng 6 tuần, sau khi chọn bà Palin đứng phó thì ông đã chuyển bại thành thắng, từ thăm dò thua Obama 6 điểm ông lại vượt hơn Obama chừng 4 điểm, người ta tưởng Obama không thể nào lật ngược thế cờ vì ngày bầu cử đã gần kề. Nhưng đùng một cái khủng hoảng tài chính diễn ra dữ dội, thị trường chứng khoán lao xuống đáy vực, có ngày chỉ số Dow Jones mất gần 800 điểm, có ngày mất tiêu một ngàn tỉ, ngày nào cũng tụt xuống từ 700 tới 500 điểm…khủng hoảng kéo dài mấy tuần liên tiếp đã làm tiêu tan trên 8 tỉ Mỹ kim, nhiều ngân hàng phá sản, hãng xưởng lay off công nhân viên.. Biện pháp Bail out lấy công quĩ 700 tỉ của chính phủ để cứu nguy thị trường chứng khoán y như muối bỏ biển, không thấm vào đâu.

Tất cả những biến cố phũ phàng dữ dội ấy là cơ hội ngàn vàng cho Obama thêm phiếu, thăm dò cho thấy ông ta lên điểm từng ngày, tài chính khủng hoảng, kinh tế suy trầm.. vẫn tiếp tục và có khả năng ảnh hưởng tệ hại cho tới năm 2009, 2010. Đảng Dân chủ được giới trẻ nhiệt tình ủng hộ, họ có tinh thần cấp tiến, người dân lo sợ trước tình hình kinh tế đen tối, mất việc, quĩ tiết kiệm 401 K của giới nghèo, trung lưu ngày càng thâm thủng. Lai nữa ông Colin, nguyên bộ trưởng ngoại giao ủng hộ đường lối của Obama, cho rằng nếu Mc Cain đắc cử, đường lối của Cộng Hoà có thể sẽ đưa tới khủng hoảng kinh tế. Lời tuyên bố của Colin đã ảnh hưởng tai hại tới số phiếu bầu cho Mac Cain, trong một vài ngày sau theo thăm dò Poll tỷ lệ chênh lệch giữa Obama và Mc Cain ngày càng xa cách, có thăm dò cho biết Obama hơn Mc Cain tới 13 điểm.

Theo thống kê mới dân số Mỹ nay khoảng 300 triệu người, trong đó da đen chiếm khoảng từ 13 tới 14%, Mễ cũng từ 13 hay 14%, người Á Đông chiếm 6%, khoảng 7% là Trung Đông, Chà zà ma rốc người da trắng có lẽ từ 65% cho tới gần 70%. Trong cuộc bầu cửa này số phiếu quyết định vẫn là số phiếu của người da trắng nhất là giới trẻ. Người Mỹ rất thực tế, họ nghĩ tới nồi cơm của mình trước nhất hơn là những chuyện chính trị quân sự xa xôi, theo thăm dò kỳ bầu cử này số người quan tâm về kinh tế chiếm 69% , về chiến tranh Iraq 9%, về khủng bố 9%, nay vấn đề khủng bố không còn ăn khách, việc người Mỹ chấp nhận bỏ phiếu cho một ông Tổng thống da đen chứng tỏ đường lối của Cộng Hoà đã gây cho họ nhiều chán chường thất vọng, theo thống kê mới nhất số người dân ủng hộ chính phủ Bush chỉ còn 26%, chưa bao giờ nước Mỹ có một ông Tổng thống bị mất lòng dân đến thế. Có người nói "Ông Obama đắc cử vẻ vang là nhờ hai cha con ông Bush", thật vậy Mc Cain đã lãnh đủ tất cả những sự sai lầm của Bush đưa tới thất bại ê chề của Cộng Hoà như kết quả công bố trong mấy ngày vừa qua.

Công bằng mà nói, truyền thông, báo chí cũng có thiên tư thiên vị phần nào, có thể họ được một thế lực đen yểm trợ, hoặc có thể họ nhìn thấy sự sai lầm nghiêm trọng của đảng Cộng Hoà, nhưng đó cũng không phải là yếu tố quyết định mà chính là người dân nhất là giới trẻ. Đây là một nước dân chủ tự do, người dân một nước văn minh đã tự quyết định vận mạng đất nước của mình bằng lá phiếu của họ. Bốn năm trước đây 2004, lá bài kinh tế do Dân chủ đưa ra không ăn khách vì người dân đang lo sợ bọn khủng bố cuống cuồng, đó là tâm lý anh nhà giầu sợ chết và Dân chủ đã hoàn toàn thất bại, Cộng Hoà ăn mừng chiến thắng vẻ vang, vừa nắm hành pháp lại kiểm soát luôn toà nhà Quốc hội. Nhưng nay thời thế đã đổi thay, gió đã xoay chiều, vấn đề khủng bố nay không còn ăn khách, theo thăm dò hôm 5 tháng 11 vừa qua số người quan tâm tới chuyện khủng bố chỉ có 9% , và ngược lại có tới 69% người dân Mỹ quan tâm tới vấn đề kinh tế, họ chuyển hướng quan tâm sang nồi cơm của họ và đã thể hiện ý muốn của họ trong cuộc bỏ phiếu lịch sử vừa rồi.

Nay theo thăm dò mới nhất chính phủ của Tổng thống Bush chỉ còn được 26% dân chúng ủng hộ, cách đây gần một năm người ta thăm dò ý kiến 109 sử gia Mỹ tại New York được biết họ tặng cho ông Bush danh hiệu Tổng thống tồi tệ nhất của nước Mỹ, trong cuộc tranh cử vừa qua Đảng Cộng Hoà cấm không cho ông Bush tuyên bố một câu nào về vấn đề tranh cử vì họ cho rằng ông đã mất hết uy tín rồi và làm tổn thương tới uy tín của Đảng quá nhiều.

Trước mắt người dân, truyền thông báo chí…chính phủ của Tổng thống Bush được coi là tồi tệ nhất từ xưa tới nay nhưng chính người dân đã bầu cho ông hai nhiệm kỳ năm 2000 và 2004, vậy chính người dân đã sai lầm và họ phải chịu trách nhiệm về hậu quả sự lựa chọn sai lầm của họ, người dân phải tự trách mình trước đã. Nếu ông Bush được coi là Tổng thống tồi tệ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ ta có thể nói một dân tộc văn minh vẫn có thể sai lầm trầm trọng. Sự thực lịch sử cũng đã chứng minh một dân tộc văn minh vẫn có thể sai lầm nghiêm trọng, người Đức vốn tự hào họ là một dân tộc thượng đẳng (race supérieur) và coi tất cả các dân tộc khác là hạ đẳng ( race inférieur) nhưng năm 1932 họ cũng đã phạm sai lầm khủng khiếp, họ đã bỏ phiếu cho Đảng Quốc Xã để đưa Hitler lên nắm chính quyền năm 1933, Hitler đã châm ngòi gây lên cuộc Thế chiến Thứ Hai1939-1945 mà hậu quả của nó là làm cho khoảng 70 triệu người trên thế giới bị thiệt mạng, nhiều nhất là Nga 20 triệu, Đức 11 trịệu, Ba Lan 7 triệu… còn lại là các nước khác từ Âu sang Á.

Nay người dân Mỹ, nhất là giới trẻ đã bầu Obama lên làm Tổng thống, họ muốn thay đổi dòng lịch sử, lá phiếu của họ đúng hay sai thì phải chờ một thời gian dài mới có câu trả lời trung thực. Hai ngày liên tiếp mồng 5 và mồng 6 sau khi Obama thắng cử, thị trường chứng khoán lại vẫn bi đát thê thảm như không thấy ánh sáng ở cuối đường hầm, chỉ số Dow Jones tiếp tục mất 500, 400 điểm mỗi ngày .

Giới trẻ thuộc thành phần cấp tiến muốn thay đổi lịch sử Hoa Kỳ, họ thể hiện bằng lá phiếu của mình, nhưng sự thay đổi đó có thực hiện được hay không là điều chưa ai tiên đoán được. Bàn về kết quả và hậu quả cuộc bầu cử này không thể nào mà nói cho cùng vì tất cả chỉ là suy luậïn, mà thực tế lại không giống như người ta nghĩ. Một người bạn nhiều tuổi nói với chúng tôi

Mình đã đi bỏ phiếu, đã làm xong nhiệm vụ công dân rồi, giới trẻ đã lựa chọn tương lai nước Mỹ và họ sẽ phải chịu trách nhiệm về quyết định của họ.

Trọng Đạt

Hỏa tốc!

Date: Friday, October 31, 2008, 7:13 PM

Tuyệt đối đừng ăn cam, quýt, lê, nho các loại hoa quả từ Trung quốc.
Bên đó lên ti vi cấm dân ăn, vì có chất gây phá hủy nội tạng.
TQ đang đẩy hàng sang VN bán đấy.
Tin chính xác từ một số người bạn đang du học ở trung quốc báo về.
Mọi người tuyệt đối cảnh giác với hoa quả trung quốc.
(Hãy loan tin vì cộng đồng).


Thanks & best regards,

Nguyen Hien