Thursday, November 06, 2008

Sống chết mặc bay!

Mời quí vị đọc bài trích dịch dưới đây đề phòng mua đồ rẻ mạt của Tàu Cộng do tù nhân sản xuất có thể truyền bịnh nguy hiểm và vì lòng bất nhẫnn không thể làm ngơ ( vlh)

Sản Phẩm Tầu Cộng

Nhiều nhà hàng VN dùng đũa nhập cảng từ Trung Cộng. Phó tiến sĩ Wang Bin Trong những năm 2000 và 2001, Phòng cảnh sát Bắc Kinh thuộc Phân cục bảo an quốc gia Trung Quốc đã bắt một lượng lớn người trí thức tu tập Pháp Luân Công, bao gồm các giáo sư của các trường đại học. Họ bị tra tấn cho đến khi họ chấp nhận "cải tạo".
Điều này đã được ĐCSTQ công bố trên toàn thế giới rằng đó chỉ là một biện pháp nhẹ nhàng như "làn gió và mưa phùn ngày xuân". Tôi là một trong số đó. Tôi đã bị nhốt trong một phòng giam mờ tối dành cho tù nhân bị kết án tử hình với khoảng 30 tù nhân khác đang chờ hành quyết. Căn phòng chỉ khoảng 30m vuông. Lần đầu tiên khi tôi bị đưa vào căn phòng này, tôi có thể ngửi thấy mùi của đủ loại phân, nước tiểu, thịt thối, mốc và các thứ khác. Sau một vài tháng, tôi không thể ngửi được mùi gì nữa. Tôi đã quen với cái mùi vốn ngập tràn nơi ấy. Ở đó yên tĩnh đến mức người ta có thể nghe được tiếng lá rơi. Mọi người tận dụng sự yên tĩnh để ngẫm nghĩ về quá khứ của mình. Ngày qua ngày, với nhiều người, là sống trong chờ đợi thời khắc hành quyết cận kề. Những cái cửa Phòng giam có hai cửa, một trước một sau. Cánh cửa trước là cánh cửa bằng sắt rất dày và một hàng rào sắt. Cửa sau cũng là cửa sắt dày và to như cửa trước. Cửa trước là nơi các tù nhân bị hộ tống vào và cũng là nơi bị kéo đi hành quyết. Mười cảnh sát có vũ trang đứng gác ngoài cửa ngăn không cho tù nhân chạy chốn. Mỗi khi cửa mở cũng đồng nghĩa sẽ có một ai đó sắp chết. Không khí và mặt trời "Mở nhà lao!" một tiếng hét lớn của cảnh sát đứng trên đầu. Nó phá vỡ dòng suy nghĩ của tôi và sự yên tĩnh của căn phòng. Những tù nhân lôi thôi, xám xịt bắt đầu hiện lên tia hy vọng trên khuôn mặt họ. Từng người một, các tù nhân bước ra theo cửa sau. Họ cúi đầu lễ phép tỏ thái độ hàm ơn với cảnh sát. Rồi họ nhanh chóng bận rộn kiếm một nơi có nhiều ánh nắng. Tôi đã bị sốc trước những gì nhìn thấy vào lần đầu tiên được ra khỏi phòng giam. Điều đầu tiên các tù nhân làm là trút bỏ quần áo. Những vảy nến, ghẻ lở và các vết lở loét trên cơ thể họ bị phơi bày đầy đủ. Thực ra, điều ấy cũng không đáng ngạc nhiên lắm. Sống sót và Lao động Nếu không bị kết án tử hình, tù nhân sống sót trong trại tạm giam sẽ bị gửi đến các nhà tù để thi hành bản án và làm nô lệ lao động. Họ mang theo các căn bệnh truyền nhiễm và bệnh tình dục đến các nhà tù, trong khi họ làm ra các sản phẩm giá rẻ với một số lượng lớn. Một số lượng sản phẩm lớn đến kinh ngạc được làm ở Trung Quốc là được sản xuất trong những nhà tù và trại cải tạo lao động.

Vào tháng 5 năm 2002, tôi bị đẩy đến Phòng Hồi hương tội phạm Bắc Kinh với nhiều học viên Pháp Luân Công khác. Chúng tôi được chuyển sang nhà tù địa phương để chịu nốt bản án. Qua nếm trải này, tôi đã thực sự kinh nghiệm được thế nào là lao động cưỡng bức trong tù. Chúng tôi đã phải lao động không ngừng nghỉ. Công việc hàng ngày kéo dài từ 15 đến 16 tiếng. Nếu ai đó không hoàn tất công việc được giao, anh ta sẽ bị trừng phạt bằng cách phải "hát cho đến sáng", tức là anh ta phải tiếp tục làm việc và không được ngủ. Căn phòng chật ních người, và tù nhân không có thời gian để vệ sinh cá nhân. Họ đếm từng ngày với những bệnh tật trở nên tồi tệ ngày này qua ngày khác.

Tôi bị bắt chỉ vì tập Pháp Luân Công. Tôi không hề phạm tội. Do vậy, tôi tự coi bản thân mình như một "phóng viên" được gửi tới đây để nghiêm túc quan sát những gì diễn ra quanh tôi. Tôi nuôi nấng hy vọng rằng một ngày nào đó những chứng kiến của bản thân mình sẽ được đưa ra công chúng để mọi người có thể hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra trong trại cải tạo và nhà tù Trung Quốc hôm nay. Từ đồ giáng sinh cho đến đồ lót Chúng tôi được giao đủ việc: đóng gói đồ lót phụ nữ, sao chép băng đĩa nhạc và hình, dán nhãn bao bì sản phẩm các loại, gấp sách, đóng sách, làm thuyền đồ chơi, làm các đồ chơi giáng sinh và nhiều thứ để xuất khẩu khác nữa. Tôi đã tham gia tất cả các lao động chân tay ấy và hiểu rõ từng công đoạn cũng như quy trình tại đó. Vào một mùa hè nóng bức, quản lỶ nhà tù bắt chúng tôi đóng gói đồ lót cho hãng Gracewell. Trời rất nóng nhưng các tù nhân đã lâu không được tắm rửa. Họ gãi khắp người trong khi phải lao động chân tay. Một số tù nhân luôn tay gãi chỗ kín. Và khi họ lôi tay ra, tôi thấy có cả vết máu trên móng tay của họ. Tôi không rõ rằng các quỶ bà có thật sự xinh đẹp (graceful) khi mặc đồ lót này hay không. Một dịp khác, tù nhân phải đóng gói món đồ ăn mang tên "Orchid Beans" cho một hãng tư nhân nhỏ nào đó. Món snack này làm từ đậu tằm. Họ chở hàng xe tải đậu tằm tới nhà tù. Tại đây đậu tằm được ngâm trong các thùng nước lớn cho đến khi nó nở ra. Nhiều lúc tù nhân đổ cả nước lẫn nước tiểu vào thùng ngâm đậu. Sau khi đậu đã nở, tù nhân sẽ bóc đậu bằng một bộ dao chuyên dụng, sao cho cho hạt đậu được bóc vỏ theo cách để lại một "vòng vàng" quanh hạt đậu trông thật ngon mắt. Nhưng thực ra nó rất bẩn. Công đoạn cuối cùng là bỏ đậu tằm vào rổ. Mỗi tù nhân được giao tối thiểu 10000 hạt đậu tằm trong một ngày. Khi hối hả làm cho xong, thì những thứ như rỉ mũi, nước dãi của tù nhân cũng lẫn cả vào đậu. Các hạt đậu đã qua xử lỶ ấy được cho vào túi, chuyển tới kho chứa, rồi được rang lên. Sau khi rang, đậu tằm trông vàng ươm, được đóng vào bao bì đẹp mắt và bán cho khách hàng. Đậu tằm là một món hàng bán chạy và đem lại lợi nhuận lớn cho hãng kinh doanh. Tôi thấy ở Mỹ quốc này, nhiều người xài món đậu tằm nhập khẩu từ Trung Quốc, và tôi tự hỏi không biết họ có đang ăn món đậu tằm xuất xưởng từ nhà tù nơi mình từng ở hay không.

Năm nào cũng vậy, rất nhiều đồ giáng sinh được xuất khẩu từ Trung Quốc sang các nước tây phương. Có lần chúng tôi phải làm bóng đèn. Hàng ngày tù nhân phải nối dây đồng và quấn chặt ở xe tăng đồ chơi theo một mẫu hình cố định và nối bóng đèn vào đó. Tay của họ thường là rớm máu. Cũng không cần phải nói, có nhiều bệnh truyền nhiễm tình dục mà tù nhân mang theo cũng đã dính lên bóng đèn và đồ chơi. Một lần khác chúng tôi phải xâu các hạt cườm thành chuỗi để làm đồ nữ trang. Các tù nhân dùng kim và dây để luồn qua các hạt cườm đủ loại màu sắc, rồi sau đó kết nút dây lại. Các chuỗi hạt trông thật sặc sỡ đẹp mắt. Nhưng tôi mong rằng các quỶ bà không đeo chúng trên cổ và các cháu bé không đút chúng vào miệng.

Trải nghiệm của tôi tại trại lao động ở Trung Quốc Cô Chen Ying đã bị giam cầm ba lần chỉ vì tập Pháp Luân Công. Cô đã bị nhốt trong trại lao động cưỡng bức khoảng một năm khi mà cô thăm gia đình tại Trung Quốc. Cai tù cưỡng bức tiêm những thứ thuốc độc hại vào thân thể, tác hại lên phần thần kinh nửa bên trái thân thể của cô, gây chứng co giật. Hiện nay cô Chen sống tại Pháp. Tôi bị cầm tù từ tháng 11-2000 đến tháng 11-2001 vì không chịu từ bỏ tập Pháp Luân Công. Trong thời gian đó, tôi bị cưỡng bức lao động khổ sai tại Nhà tù Tuanhe và trại lao động cưỡng bức Xin'an tại Bắc Kinh. Những sản phẩm Tại Nhà tù Tuanhe ở Bắc Kinh Đóng gói một số lượng rất lớn đũa (loại dùng một lần rồi bỏ). Hầu hết là để xuất khẩu, rồi được dùng trong các nhà hàng, khách sạn. Làm gói quà tặng "Florence Gift Packages" Tại trại lao động Xin'an ở Bắc Kinh Đóng gói một số lượng rất lớn đũa (loại dùng một lần rồi bỏ). Hầu hết là để xuất khẩu, rồi được dùng trong các nhà hàng, khách sạn. Đan áo len. Đan khăn len (xuất khẩu sang Châu Âu). Bộ đồ nệm thêu móc để kê tách trà. Thêu mũ cho một hãng tại Qinghe, Bắc Kinh. Thêu đệm ngồi. Nhặt sạch các thứ vương trên áo len trước khi xuất xưởng. Làm rất nhiều dép lót đi trong nhà. Công việc chủ yếu là dán đế dép. Giới chức coi tù đòi hỏi chất lượng cao. Lúc đó là lúc nóng nhất vào mùa hè. Nhiều học viên Pháp Luân Công và tôi ở trong các phòng giam nhỏ bé chật chội sặc mùi keo dán đến ngạt thở. Mỗi bận phải sản xuất là chúng tôi bị bắt làm đến nửa đêm hoặc 1 giờ sáng. Làm thú nhồi bông: thỏ, gấu, cá heo, chim cánh cụtẨ Công đoạn chủ yếu là nhồi các thứ vào trong, khâu kín lại, dán mắt dán miệng cho con thú nhồiẨ Điều kiện vệ sinh tại trại lao động (1) Nhà tù Tuanhe, Bắc Kinh Tôi bị nhốt cùng với hơn mười học viên Pháp Luân Công khác trong một phòng giam khoảng hơn 10 mét vuông. Chỉ có tám chiếc giường nhỏ trong phòng, vì vậy một số phải ngủ dưới sàn. Chúng tôi làm tất cả mọi việc trong một gian phòng ấy: lao động, ăn, uống và đi vệ sinh. Do vậy có rất nhiều ruồi muỗi. Chúng tôi chỉ được phép ăn vào một số thời gian đã định. Phải tiết kiệm nước từng chút một vì rất thiếu nước. Cai tù không bao giờ cho phép chúng tôi rửa tay trước khi ăn. Sau khi ăn, chúng tôi phải quay lại lao động ngay. Hai ngày một lần, chúng tôi được dành ra 5 phút để làm vệ sinh cá nhân. Hết 5 phút, cai tù bắt chúng tôi phải dừng ngay để quay về phòng giam, và không được mang theo nước. Ai không hoàn tất công việc được giao sẽ bị cấm vệ sinh cá nhân. Do vậy, mọi người phải làm cho xong.. Chúng tôi phải dậy từ sớm và làm đến khuya, không còn thời gian rửa ráy. Có định ra một số thời điểm cố định để dùng toa-lét, nhưng ngay cả như vậy, cũng phải xin phép cai tù rồi mới được đi. Mỗi lần như vậy được phép trong 2 phút. Vì thế, nhiều người không kịp đi nặng xong đã hết giờ. Chúng tôi chỉ được phép ngủ vào một thời gian nhất định. Nếu chưa đến giờ thì không được ngủ, chỉ có thể co ro lại nghỉ. Ban đêm, lính gác vẫn luôn canh chừng, và chúng tôi được cấp một cái bô để dùng vào đêm. Lính gác luôn coi xét cả khi chúng tôi ngủ.

Chúng tôi chỉ được phép ngủ rất ít, và bắt buộc lao động ngay từ khi mới mở mắt tỉnh dậy. Tay của tôi bị nửt nẻ, rớm máu và rộp nhiều chỗ vì phải lao động cực nhọc nhiều giờ mỗi ngày làm đũa. Tôi thường phải làm tới nửa đêm. Chúng tôi không được ngủ khi chưa làm xong việc. Chúng tôi bị bắt ép làm 16 giờ đồng hồ mỗi ngày. Điều kiện vệ sinh cực kỳ thấp kém. Mặc dù trên bao bì của đũa ghi rằng sản phẩm đã được tẩy trùng, có thể dùng ngay xong rồi bỏ, nhưng thực ra toàn bộ quá trình sản xuất cực kỳ dơ dáy. Chúng tôi không hề được rửa tay và những chiếc đũa được đóng gói ngay trên sàn. Nhà tù Tuanhe chỉ biết có tiền lời mà không xét gì tới yêu cầu vệ sinh của người tiêu dùng, và họ đã làm điều xấu này một cách ngang nhiên. Rất nhiều nhà hàng, khách sạn tại Bắc Kinh vẫn đang sử dụng loại đũa này. Thậm chí đũa của Trung Quốc còn được xuất khẩu. Nữ học viên Pháp Luân Công bị bắt làm các việc nặng nhọc. Chúng tôi bị bắt phải mang vác những thùng và bao hàng nặng cỡ 50 kg. Phải khuân vác chúng lên xe và xuống xe. Chúng tôi bị bắt phải đào lỗ, trồng cây và chuyên chở phân bón. Cảnh sát cai ngục tuỳ tiện sử dụng nhân công tù nhân phục vụ để kiếm tiền bất chính. Chúng tôi bị bắt buộc lao động nhiều giờ mỗi ngày, nhưng không bao giờ nhận được một xu tiền công. (2) Trại cải tạo Xin'an ở Bắc Kinh Lao động khổ sai thực chất đã khiến cả thể xác và tinh thần chúng tôi bị giam cầm. Cảnh sát ngăn cản không cho chúng tôi ngủ ngoài giờ được phép. Còn khi có việc thì chúng tôi phải làm ngày làm đêm để thoả mãn số lượng, chất lượng sản phẩm trong thời gian ngắn nhất. Tất cả công việc trong trại cải tạo đều là lao động căng thẳng. Các học viên Pháp Luân Công phải làm việc đến nửa đêm trong ánh sáng mờ tối. Ai cũng phải hoàn thành công việc của mình. Nếu không xong phần việc được giao, thì không được ngủ, mà phải thức để làm cho xong.

Một lần chúng tôi phải làm đồ khuyến mại cho hãng Netslé, đó là những tấm thêu và đan. Để thoả mãn thời hạn giao hàng, chúng tôi bị bắt phải làm ngay cả khi đi vệ sinh cho tới hai giờ sáng. Đôi lúc phải làm thâu đêm cho tới sáng. Họ không cho chúng tôi thời gian dù chỉ để suy nghĩ một cách cẩn thận mọi việc.. Họ dùng lao động liên miên làm một phương pháp kiềm chế tư tưởng của tù nhân. Không còn thời gian suy xét, không còn thời gian để trao đổi với nhau. Cảnh sát dùng những tội phạm nghiện hút để "chuyển hoá" và theo dõi các học viên Pháp Luân Công. Họ muốn chúng tôi biến thành những cỗ máy chỉ biết làm việc. Mùa hè khi tới những hôm trời nóng, có một số tù nhân không chịu nổi nên đã ngất đi. Nhiều học viên Pháp Luân Công đã phát bệnh như bệnh tim do làm việc quá sức. Thân thể bị biến dạng. Tại sao chúng tôi gửi bài báo này? Cuộc sống lành mạnh của chúng ta đòi hỏi không khí và nước trong lành để sống; và hiểu biết về sự thật cũng là điều không thể thiếu. Mùa xuân năm 2003, khi toàn thế giới bị chấn động trước virus bí hiểm SARS, thì bác sỹ giải phẫu Jiang Yanyong tại Bắc Kinh, nghe theo lương tri của mình, đã tìm cách thông báo cho toàn thế giới về nguy cơ lây nhiễm trên diện rộng của căn bệnh chết người ấy. Kết quả ông đã bị giam lỏng tại nhà. Cộng đồng quốc tế trao cho ông nhiều giải thưởng, nhưng rất ít người biết rằng ông không có mặt để nhận những giải thưởng đó. Liệu chúng ta còn cơ hội có được một bác sỹ Jiang thứ hai nếu dịch cúm gia cầm lại nổ ra? Tháng Chín năm 2005, Yahoo đã cung cấp cho chính quyền cộng sản tại Trung Quốc những thông tin cá nhân để qua đó ĐCSTQ kết tội nhà báo Shi Tao vào tội danh "tiết lộ bí mật quốc gia".

Giờ đây, ông đang ngồi trong trại giam với bản án 10 năm tù. Liệu chúng ta còn cơ hội để biết những "bí mật quốc gia" ấy không? Như sự thật về bệnh AIDS ở Trung Quốc? Liệu có còn bác sỹ Jiang thứ hai hay không? Dù là đang sống trong chế độ độc tài cộng sản, hay là đang sống tại một quốc gia tự do ngôn luận, thì nhu cầu được nói lên và được biết về sự thật đều như nhau. Nếu con người chúng ta làm ngơ trước tội ác để mặc cho kẻ ác bỏ tù, tra tấn, thậm chí giết hại những người bất đồng quan điểm một cách bừa bãi, thì phải chăng chính là chúng ta đang tự làm bế tắc tương lai chính mình. Tại bài báo nài, chúng tôi, một nhóm hoạt động về nhân quyền, xin phép trình bày trước toàn thể thế giới về sự thật vi phạm nhân quyền tại Trung Quốc. Chung tôi kêu gọi những trái tim của người dân mọi miền thế giới, hãy giúp đỡ và ủng hộ chúng tôi; vì chúng ta đều là những con người và chúng ta đều muốn sống một cuộc sống lành mạnh trên trái đất này.

Trích dịch từ báo Hoa Ngữ.

Phân tách chính trị

Những Khó Khăn Chồng Chất
Đang Chờ Đón Ô. Obama


Những giờ phút say men chiến thắng, những mừng vui, hãnh diện chủng tộc làm rơi nước mắt Mục Sư Jessy Jackson và Tướng Colin Powell đã qua. Kể cả những phút giây sung sướng, ngất ngây đến cuồng nhiệt của một số thanh niên thiếu nữ da trắng ở WA, DC về vị tân tổng thống của họ, cũng đã trở thành dĩ vãng. Còn niềm hãnh diện khôn tả của người dân Keneya nghèo khổ còn kéo dài không biết đến bao giờ khi thấy đứa con mang giòng giống chính thống Phi Châu của mình nay bỗng trở thành tổng thống nước Mỹ đứng đầu cả thế giới - rồi cũng sẽ nhạt dần.

Khác hẳn với lời tuyên bố của ông Obama vào đêm ăn mừng chiến thắng là kể từ giờ phút này đất nước bắt đầu đổi thay. Điều đó có nghĩa là kể từ đêm qua đất nước sẽ giã từ thời kỳ u ám, thất bại, lạc hướng của Ô. Bush để hướng về một tương lai sán lạn hơn …thì thị trường chứng khóan tụt giảm 500 điểm ngay vào giờ phút tôi đang viết bài này, điều mà hãng Fox News gọi là Stock Shock. Không phải đợi tới sáu tháng, điều mà Ô. Joe Biden tiên đóan là ông Obama sẽ được thử thách qua những biến động của thế giới. Mới có sáu (6) giờ đồng hồ Nga đã muốn thử ông bằng lời tuyên bố sẽ phá hệ thống lá chắn hỏa tiễn mới thiết trí ở Ba Lan. Còn ở Trung Đông, Ô. Abbas ngay khi nghe tin ông đắc cử đưa ra lời kêu gọi Hoa Kỳ nên tiếp tục tiến can dự vào tiến trình hòa bình ở Trung Đông giữa Israel và Palestines. Mà tiến trình này muốn hình thành phải có sự can dự của Nga với Ô. Putin đang muốn trở lại thời kỳ chiến tranh lạnh với Hoa Kỳ.

Trong suốt tiến trình tranh cử, Ô. Obama đã đứng trên lập trường chống chiến tranh Iraq của Đảng Dân Chủ để tấn công Ô. McCain. Điều đó có nghĩa là ngay khi ông nhậm chức, ông phải thiết lập một thời biểu rút quân cho rõ ràng. Ngày mai rút, tuần tới rút, tháng tới rút, sáu tháng mới rút hay một năm nữa mới rút? Vấn đề không phải dễ dàng như ông tưởng. Nếu một năm nữa mới rút quân thì kế hoạch của ông nào khác kế họach của Ô. Bush? Ngòai ra còn một vấn nạn nữa là rút hết hay để lại một số quân để phòng ngừa một cuộc xâm lăng của Iran vì hiện tại quân lực của Iraq còn quá yếu kém để đối đầu với nước cộng hòa Hồi Giáo rất hung hăng và có khả năng thủ đắc vũ khí nguyên tử trong một hai năm nữa. Đấy là chưa kể Bắc Hàn - một nước cộng sản nhỏ bé nhưng có vũ khí nguyên tử và luôn luôn hứa một đằng, làm một nẻo hoặc hứa rồi thì bội hứa ngay. Và ngay sân sau của nước Mỹ, Ô. Chavez đang dùng tài nguyên dầu lửa phong phú của đất nước ông để biến Nam Mỹ thành các quốc gia theo chủ nghĩa xã hội- một danh xưng mới của chủ nghĩa cộng sản- thù hận nước Mỹ.

Sở dĩ ông Obama đắc cử vẻ vang là nhờ sự bao che của giới truyền thông, các nhóm khuynh tả, phóng túng, cực đoan và phản chiến và khối người dân bất mãn với Ô. Bush. Họ đang trông chờ xem ông có làm đúng những gì mà ông đã hứa với họ không. Ngay sau ngày ông đắc cử, một số nhà bình luận chính trị tiên đóan rằng để có thể điều hành đất nước trong êm thắm, chưa nói đến phát triển, ông phải nhích về phía giữa. Điều đó có nghĩa ông thể đứng ở lập trường cực tả mãi được. Nếu đúng như vậy thì ông sẽ phản bội các nhóm đã ủng hộ ông, hy sịnh hết lòng vì ông và kỳ vọng nơi ông. Còn giới truyền thông, trong thời gian tranh cử, họ đã nhắm mắt làm ngơ không đào xâu về thân thế và những mối liên hệ của ông với các nhóm quá khích, cực đoan và kế cả các nhân vật khủng bố. Nhưng sau ngày ông nhậm chức, đời công và đời tư của ông sẽ bị giới truyền thông lấy ống kính rọi vào. Ông không còn tiền để “mua quảng cáo” trên các hãng truyền hình, báo chí lớn để bịt miệng họ được nữa. Đối đầu với báo chí Mỹ là một nỗi khốn khổ của bất kỳ một người Mỹ nào giữ chức vụ công cử, nhất là các ông tổng thống.

Còn về vấn đề kinh tế, từ khi ông khởi đầu cuộc tranh cử, không biết tài năng kinh bang tế thế của ông như thế nào mà mọi cuộc thăm dò (poll) đều cho ông điểm vuợt trội hơn Ô. McCain. TT. Bush đang chờ ông trước của Tòa Bạch Ốc đề bàn giao. Ông sẽ làm gì đây vào ngày đầu tiên nhậm chức khi ngân quỹ quốc gia thâm thủng cả ngàn tỉ, thị trường địa ốc phá sản, thất nghiệp tăng cao, niềm tin của giới tiêu thụ xút giảm, thị trường chứng khóa chưa ổn định, kỹ nghệ chế tạo xe hơi có nguy cơ phá sản, khủng hỏang tài chánh chưa biết tái phát lúc nào do lòng tham, do sự phi đạo đức của giới tài phiệt. Vũ khí cứu nguy kinh tế trong tay mọi chính quyền là giảm thuế, tăng thuế hoặc tăng chi, chứ chẳng ông nào có chiếc đũa thần cả. Ông lựa chọn giải pháp nào đây? Mọi giải pháp đều nhức đầu và không thể thỏa mãn mọi thành phần của đất nước.

Còn về vấn đề chủng tộc. Phải chăng đây là thời điểm lịch sử của Hoa Kỳ, thời điểm cáo chung của nạn kỳ thị Đen- Trắng? Hay đây chỉ là lớp váng chính trị nổi bên trên và sự thắng cử của ông lại gợi bao đau đớn trong lòng người dân da trắng đa số - chủ nhân của đất nước. Họ và tổ tiên họ đã đổ bao xương máu, trí tuệ để xây dựng đất nước này. Dù muốn dù không Ô. Obama vẫn thuộc sắc tộc thiểu số. Chính màu da đen của ông đã làm người dân Da Đen rầm rộ xuớng đường ủng hộ ông, bỏ phiếu cho ông và hãnh diện về ông. Ai dám nói màu da không có biên giới?

Sau chiến thắng lịch sử, sau hãnh diện cá nhân, hãnh diện chủng tộc, tôi chỉ thấy những khó khăn chồng chất đang chờ đón Ô. Obama.

Đào Văn Bình
(California 5-11-08)

Phiếm luận

Tản mạn về chuyện xứ Cờ Hoa

Năm 2004, căn nhà mới mua của ông A đang ở đang trị giá 300 ngàn đô la, nhà băng trung ương hạ lải xuất còn 1% có nhiều người đang ở thuê thấy tiền vay nhẹ lải nên nhảy ra mua nhà nên giá nhà tăng lên kỷ lục.

Có nhiều người tham lợi mua 2,3 căn cho thuê. Ông A bán căn nhà cho ông B với giá 400 ngàn. Ông B nửa năm sau bán căn nhà cho ông C với giá 500 ngàn. Năm 2007 giá nhà bắt đầu tuột dốc và cuối cùng ông C không trả nổi tiền nhà cộng thuế và linh tinh, 3 tháng sau nhà băng gởi thư thông báo tịch thu phát mãi.

Hai Ông A và B mỗi người tính ra có trong tay được 80 ngàn Mỹ kim tiền mặt sau khi trừ tốn phí mua bán. Nhân viên địa ốc làm ăn phát tài. Ông C bỏ nhà cũng không mất bao nhiêu nếu không đặt tiền cọc nhiều. Nhà băng trưng thu phát mải và người có khả năng tài chánh mua với giá hời ( đa số nhà băng có người đại diện mua lại ). Giá cổ phiếu của các ngân hàng đang từ 50 Mỹ kim ( trung bình) tụt xuống còn 1 hay 2 dollars xem như sắp khai phá sản. Sau một thời gian chính phủ và quốc hội biểu quyết tài trợ (hay giúp có điều kiện), cổ phiếu được mua lại và phần hùn công chính phủ có 76% ( chính phủ tài trợ ) để sống sót và giữ cho nhà băng tiếp tục hoạt động.

Người khôn ngoan hay may mắn bán nhà đúng lúc được lợi, nhà băng mất khá nhiều cổ phiếu vẫn hoạt động và nhân viên vẫn còn việc làm . Tháng 10 năm 2008 lãi suất là 1%, giá nhà thấp gần như giá nhà năm 2004 và các ngôi nhà trao tay vẫn hân hoan chào chủ mới với giá hạ.

Những ai có cổ phiếu hay phần hùn với nhà băng hay các công ty cổ phiếu khác là bị thua lổ nặng nhất và kinh tế Hoa Kỳ sẽ phục hồi bằng cách này hay cách khác do tân Tổng thống lãnh đạo. Đồng Mỹ Kim vẫn tung hoành ngang dọc trên thế giới chỉ thua sút Âu kim và Anh kim chút ít . Đầu năm 2009 sẽ có tân tổng thống đúng nghĩa của Hiệp Chủng Quốc, thế giới không còn nhìn nước Mỹ với cặp mắt lạnh lùng như trước kia, môn chơi lại bắt đầu lại với thế cờ giải vây thần sầu sau vụ khủng bố 911 hay là số gọi cấp cứu đã có người đáp nhận " Help on the way " . Thà mất tiền còn hơn mất mạng hay mất mặt.

Cờ Hoa (Sao trắng) sọc Đỏ vẫn tung bay và Hiệp Chủng Quốc không ai thay đổi tên gọi Bạch Cung (White House) dù có tân Tổng Thống da màu và Hoa Kỳ vẫn là cường quốc kinh tế lẫn quân sự hiện nay dù đang nợ ngập đầu. Thà vay nợ, mất việc hay mất tiền còn hơn mất nước, mất mạng hay mất mặt (1) là nước cờ của TT Bush mà chỉ có 26% dân chúng Hoa Kỳ hiểu được người lãnh đạo tài ba đã đưa nước Mỹ qua cơn biến động.

VLH
(1) Miền Nam Việt Nam ước gì có được người lãnh đạo như TT Bush.

Bắt cá trên đường phố Hà Nội



Wednesday, November 05, 2008

Nhận định

Bộ mặt "gớm ghiếc"


Tại sao tổng thống Mỹ chưa phải là một phụ nữ. Bởi vì khẩn thiết hơn, nước Mỹ cần có một người da màu làm tổng thống để thay đổi bộ mặt đã loang lổ phấn son của nước này.

Khuôn mặt chính trị của nước Mỹ những thập niên gần đây đã thay đổi. Lá cờ chủ soái của một nước Mỹ lãnh đạo khối tự do không còn mấy người nhắc tới. Có vẻ như nước Mỹ hôm nay có nhiều kẻ thù hơn. Những kẻ thù không hình dạng mà nước Mỹ gọi chung là khủng bố.

Những chiếc máy bay lao vào trái tim của hoạt động kinh tài và bộ não của mạng lưới quân sự Mỹ cho thấy nước này không còn phải là nơi an toàn và bất khả xâm phạm. Mà ai cũng biết và đồng ý rằng an ninh là điều kiện cơ bản cho kinh doanh làm ăn. Những khoản chi khổng lồ nhằm bảo vệ an ninh đang đổ ra, và dường như chỉ để mua những biện pháp be bờ.

Nói ra hay không nói ra, nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới cảnh cáo chính sách đối ngoại tham lam của Mỹ. Thủ tướng Jean Chrétien của nước lân bang Canada đã thẳng thừng nói như vậy, Ông hoàng của xứ đồng minh Ả Rập Saudi cũng lên tiếng bày tỏ tương tự, nhân biến cố 9/11.

Các nước cần đô-la Mỹ, niềm nở đón du khách Mỹ, hân hoan được hợp tác với Mỹ, ngoài mặt tươi cười với Mỹ, nhưng khi người Mỹ quay đi thì những nước này bèn bẩm bẩm "Phải tỉnh táo với tên tư bản cậy thế ỷ tiền này" vì họ biết rằng sức mạnh đồng đô của một siêu cường như Mỹ khộng phải nhỏ, và những người sẵn sàng bán nhân cách của mình đổi lấy đô la không ít.

Trong các siêu thị ở Canada, những chiếc va-li có vẽ cờ Mỹ bán không chạy. Có thể mặc một chiếc áo vẽ cờ Mỹ đi lang thang bất cứ đâu ở Canada chẳng ai để ý. Nhưng nếu kéo một chiếc va-li trên đó có vẽ cờ Mỹ để đi ra những nước khác, đặc biệt là vùng Trung Đông, hay Bắc Phi Hồi giáo thì quả là một việc không nên.

Trong 232 năm kể từ ngày tuyên bố độc lập, nước Mỹ chưa có một tổng thống da màu nào. Các thống đốc, đại sứ, đặc sứ là người da màu cũng rất hiếm. Cho đến bây giờ người ta nhìn nước Mỹ như một nước da trắng trong khi dân chúng Mỹ thực sự là tạp chủng. Người ta tưởng tượng ra một nước Mỹ là cái ổ hoạt động của tài phiệt thế giới trong khi nước Mỹ tự nhận là một nước với hệ thống kinh tế thị trường tự do kiểu mẫu.

Chủ nhân tòa bạch ốc là da trắng. Chủ nhận tòa nhà Quốc Hội là da trắng, chủ nhân những cao ốc ở Wall Street là da trắng. Một tổng thống Mỹ da đen là bước đầu mà thế lực tư bản Mỹ muốn có để vẽ lại hình hài một nước Mỹ tạp chủng như tên gọi Hiệp Chúng Quốc Mỹ Châu của nước này.

Những người ủng hộ Obama đã đi bầu với thái độ tích cực, khác hẳn với thói quen đi bầu chỉ để “chọn một trong hai người ít xấu xa hơn” để làm tổng thống. Có tới 70% người ủng hộ Obama nói rằng đi bầu để chọn một người tốt chứ không phải để loại bỏ một người xấu hơn. Thế lực đứng sau truyền thông và chính trị lần này đã thỏa hiệp được với tâm tình đại chúng trong yếu tố da màu.

Để chiếm cảm tình và sâu hơn để điều hướng chính sách tại các nước họ muốn có mặt, người Mỹ đã đổ đô-la qua hình thức viện trợ kinh tế và lương thực vào nhiều vùng trên thế giới, điển hình và gần nhất là vào Vùng Vịnh vừa qua... nhưng đã thất bại. Bởi vì những đồ viện trợ ấy luôn luôn phảng phất hình ảnh một người Mỹ "rất trắng", rất "hách dịch" và “rất đáng ngại” đi kèm.

Thế mà đêm qua - đêm bầu một tổng thống của nước Mỹ rất xa xôi - đã có những giọt nước mắt lăn trên gò má da đen trên lục địa Phi Châu đa số theo Hồi giáo. Những giọt nước mắt đem đến hy vọng - dù mong manh - cởi bỏ bớt yếu tố ăng-lê-do-thái nơi khuôn mặt nước Mỹ.


Tối qua, thứ ba 4/11/2008, nước Mỹ "tình cờ" đã có một tổng thống da đen để tạo thêm khả năng thương lượng với kẻ thù, hay ít ra làm phai bớt hình hài “gớm ghiếc” của Chú Sam.

Điền Thảo
5/11/2008

Obama tổng thống kế tiếp của Mỹ


Obama (Dân Chủ) đắc cử tổng thống Mỹ
trong một cuộc chiến thắng lịch sử
đè bẹp McCain (Cộng Hòa)
(Source: BBC)

Bầu cử ...

... tổng thống Mỹ


Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm nay tưởng là gay go nhưng thực ra kết thúc quá nhanh, Cộng Hoà thua quá nặng, lúc 9 giò 30 PM ( giờ Texas) Obama được 207 phiếu cử tri đoàn, Mc Cain đươc 141, thế nhưng chỉ nửa giờ sau trên TV người ta chiếu cảnh dân chúng hoan hô ầm ĩ Obama đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ 2008-201. Obama lúc ấy được 284 phiếu cử tri đoàn, Mc Cain được 144, người ta tiếp tục đếm và cuối cùng Obama được 355, Mc Cain chỉ đượca5, tuần trước người ta thăm dò cũng đúng như vậy. Tháng trước người ta tưởng kỳ bầu cử này gay go nhưng thực ra kết thúc cái rụp, chẳng gay go gì cả.

Nguyên do chính là vấn đề kinh tế, nay tỉ lệ thất nghiệp lên cao ( Cali 7.7), các hãng lớn như sản xuất xe hơi GM, Ford, Toyota… gặp khó khăn, số xe bán giảm từ 40% tới 23%, người ta tiên đoán kinh tế sẽ tồi tệ hơn cho tới 2009, 2010, tài chính khủng hoảng, chứng khoán xuống thấp nhất từ gần 10 năm qua , Dow Jones nay xuống còn khoảng 9,500. (Năm ngoái 14,000)….

Người ta không bầu cho Mac Cain vì sợ ông tiếp tục chính sách kinh tế của ông Bush, người ta sợ và chán Cộng Hoà quá rồi, người Mỹ cho rằng mèo trắng hay mèo đen, mèo nào bắt chuột cũng tốt thôi. Ngoài ra giới trẻ ủng hộ Obama rất đông đảo, họ đi bầu đông , Mc Cain chọn bà Palin đứng phó càng làm ông mất phiếu vì bà còn trẻ quá. Người Mỹ và các nước Âu châu cũng như Á châu tin rằng chính phủ mới của Dân chủ sẽ có thể cứu vãn nền kinh tế đang lâm vào tình trạng tồi tệ mà người ta cho là do Cộng Hoà mang lại

Trọng Đạt

Tuesday, November 04, 2008

Tổng thống Mỹ đắc cử Obama
McCain đã nhường bước
(Source: Canadian The Globe and Mail)

Dân Mỹ tín nhiệm TT Bush chỉ còn 26.1%

Trong khi cử tri Mỹ lục tục đi bỏ phiếu chọn người kế vị mình
thì tổng thống đương nhiệm G.Bush gặp tỷ số kỷ lục bất tín nhiệm mới.
(source: Los Angeles Times)

Thưởng lãm tranh với NTHà

Chloé et La Cigale

Hàng năm vào ngày Lễ Quân Lực của Úc (ANZAC Day), quán rượu Young and Jackson tràn ngập các đấng râu mày đến để vừa cụng bia với nhau cũng như vừa để tái ngộ với vị thần nữ Chloé.


Chloé - Vị Nữ Hoàng của Young & Jackson


Một kiều nữ người Pháp, đứng khỏa thân với dáng dấp mảnh mai tuyệt mỹ đã ngự trị gần hơn một thế kỷ nay trong quán rượu Young and Jackson, một trong những quán rượu được nhiều người biết đến nhất của thành phố Melbourne ở Úc Châu. Đó là bức họa Chloé , vẽ khỏa thân người con gái huyền thoại, vào thời đó đã là chủ đề của những cuộc bàn cãi sôi nổi trong giới thưởng ngoạn nghệ thuật vì sắc đẹp, tình yêu, danh vọng, ghen tuông và tự tử. Đó là chưa kể đến biết bao nhiêu số lượng rượu bia đã được các đệ tử của lưu linh và giới giang hồ tứ chiến tiêu thụ tại quán rượu này, khi họ đến chiêm ngưỡng thân hình tuyệt mỹ của vị thần Vệ Nữ này.


Chloé là một tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng của Jules Joseph Lefebvre, một trong những bậc thầy về hội họa khỏa thân nữ giới. Sinh ra tại Paris, Lefebvre bắt đầu học vẽ với họa sĩ Leon Cogniet từ năm 1852, và sau đó theo học tại Trường Mỹ Thuật Paris từ năm 1853 cho đến khi đoạt Giải thưởng Nghệ Thuật La Mã vào năm 1861. Lefebvre vẽ với một kỹ thuật chính xác và cách sử dùng mầu sắc rất tinh tế trong các tác phẩm hội họa về chủ đề khỏa thân.


Theo lời kể lại của George Moore, một trong những học trò của Lefebvre lúc đương thời, thì người mẫu cho bức họa Chloé tên thật là Marie ở thủ đô Paris. Marie vừa được 19 tuổi, lúc đứng làm người mẫu cho Lefebvre. Có người cho rằng Marie và Lefebvre là tình nhân với nhau, lại có người cho rằng Lefebvre đã cự tuyệt tình yêu của Marie. Một tin đồn đãi khác cho rằng Lefebvre đã quyến rũ cả hai chị em Marie. Thế nhưng có một chuyện chắc chắn có thật là lúc được 21 tuổi, sau khi đã mở một buổi tiệc linh đình đãi bạn bè của mình, nàng đã dùng hết số tiền còn lại để mua diêm có độc chất, trong đó gồm một số lượng lớn là phosphorous tinh chất, pha nấu với một số độc dược khác, rồi uống để tự vận vào lúc 21 tuổi. Thể nghiệm đúng câu “Hồng nhan bạc mệnh” như các cụ của nhà ta thường nói.


Bức họa Chloé được trưng bày triễn lãm lần đầu tiên tại Ba Lê và đạt được sự thành công vượt bực. Tác phẩm nghệ thuật này và họa sĩ Lefebvre đã đoạt Huy Chương Vàng giải Danh dự, một giải thưởng chính thức uy tín nhất ban tặng cho nghệ sĩ Pháp, và cũng là một trong ba huy chương vàng mà Chloé đã từng đoạt giải. Vào năm 1879, Chloé là tác phẩm chính thu hút giới yêu chuộng hội họa trong cuộc trưng bày triển lãm Nghệ Thuật Pháp tại Phòng Triển Lãm Quốc Tế Sydney, và sau đó tại Melbourne vào năm 1880. Giới phê bình nghệ thuật của Úc Châu nhiệt liệt khen ngợi tác phẩm này và đã trao giải thưởng cao qúy nhất tại hai thành phố này.


Một bác sĩ người Úc, ông Thomas Fitzgerald đã mua bức họa này với giá 850 guineas và treo trong phòng khách của mình trên con đường St Kilda. Vào năm 1883, ông có việc phải đi Ái Nhĩ Lan, nên đã cho Phòng Triển Lãm Nghệ Thuật của Tiểu Bang Victoria mượn bức họa này. Vào thời ấy, phòng triển lãm này chỉ trưng bày hội họa vào ngày Chủ Nhật mà thôi. Trong số những khách đến xem tranh, có những người chưa từng thưởng thức nghệ thuật tranh khỏa thân lần nào, nên đã tạo nên luồng dư luận chỉ trích Phòng Triển Lãm đã dám trưng bầy hình khỏa thân vào ngày của Chúa. Cho nên, sau khi trưng bầy được có ba tuần thì bức tranh này bị đóng hộp và đem gởi đi thành phố Adelaide.


Khi bác sĩ Fitzgerald trở lại Melbourne, ông đã phải xin phép để lấy về nhà của mình. Nhưng vì kích thước quá lớn của bức họa và người đi ngoài đường có thể trông vào thấy được phòng khách, nên ông phải đem bức tranh treo ở phòng sau. Bác sĩ Fitzgerald là chủ của bức họa cho đến khi ông mất đi vào năm 1908. Sau đó bức họa được đem bán đấu giá và rơi vào tay của Henry Figsby Young, một nhà khai thác vàng và sưu tầm nghệ thuật. Chloé đã được trưng bày trong quán rượu Young and Jackson của ông cùng với nhiều tác phẩm nghệ thuật khác. Tuy nhiên bức tranh này vẫn còn tồn tại ở quán rượu này đến ngày hôm nay, trong khi đó nhiều bức tranh khác đã tuần tự bị bán đi để trả tiền thuế.


Nhà Ga Flinders Street đối diện với quán rượu Young and Jackson, là một trung tâm chính của hệ thống giao thông ở Melbourne trong suốt hai trận thế chiến, cũng như trong cuộc chiến tranh Cao Ly và Việt Nam. Chloé đã chiếm một địa vị quan trọng trong trái tim của các chàng chiến binh. Nhiều lớp thanh niên thuộc lứa tuổi 17 đã từng nốc cạn những ly bia cuối cùng của mình trước quầy rượu tại đây và ngây ngất ngắm thân hình vệ nữ của Chloé trước khi ra ngoài trận địa. Tên của nàng cũng đã được dùng làm mật hiệu trong các cuộc chiến này. Thư gởi về của các đấng mày râu từ mặt trận ở các địa danh như Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp,… cũng từng thề rằng sẽ luôn luôn chung tình với nàng và hẹn sẽ trở về để gặp lạI Chloé.


Các chàng GI Mỹ đã say mê nàng đến nỗi họ âm mưu một cuộc bắt cóc Chloé. Có giai thoại kể lại rằng, một anh chàng GI Mỹ trước khi trở về Mỹ đã đâm nàng bằng chai bia bị đập vỡ, và hét lên rằng anh ta muốn lưu lại cho Chloé một chút kỷ niệm để nàng nhớ mãi đến chàng ta! Chloé luôn luôn là nơi đầu tiên trong những chuyến trở lại Melbourne của các chiến binh Úc. Hàng năm vào ngày Lễ Quân Lực của Úc (ANZAC Day), quán rượu Young and Jackson tràn ngập các đấng râu mày đến để vừa cụng bia với nhau cũng như vừa để tái ngộ với vị thần nữ Chloé.


Ngày nay, sau một thời gian gần một năm vắng bóng, vì cần phải tu bổ lại quán rượu, Chloé đã tái xuất hiện tại Young and Jackson. Nhưng nàng không còn có thể đứng thẹn thùng quay ra mặt đường nữa, thay vào đó Chloé được trưng bày trong một phòng riêng dành cho nàng, có điều hòa nhiệt độ và bảo vệ bằng một lớp kính đỡ đạn an toàn. Bức họa này đã được bao gồm trong danh sách các Di Sản của Quốc Gia thuộc Tiểu Bang Victoria và từ đây Chloé sẽ không còn có thể rời khỏi quán rượu này nữa, vì đó là nơi an vị của nàng từ gần một thế kỷ nay.


Nhưng nói đến Chloé mà không nhắc đến La Cigale là một điều thiếu sót. Đó là bức họa khoả thân vẽ người em của Marie, người mẫu của bức Chloé.


La Cigale là tựa đề của bức họa được đặt dựa theo câu chuyện ngụ ngôn của Pháp “Con ve và cái kiến” (La Cigale et La Fourmi). Con Ve không những ca hát và vui chơi suốt cả mùa hè, mà còn chê bai con kiến tội gì phải cong lưng làm lụng cực nhọc, khi nó lo tích trữ lương thực dành cho mùa Đông. Bức họa La Cigale tượng trưng cho hình tượng của con ve, vẽ nàng thiếu nữ với mái tóc xõa trên một phần thân thể, một bàn tay còn nắm giữ lấy phần xiêm y của nàng, còn một cánh tay kia co rút trước ngực như để che chở cho bớt cái giá lạnh của mùa Đông, cũng như dáng dấp ủ rũ vì cảnh đói rét cơ hàn. Hoàn toàn trái ngược với với mái tóc được búi cao và dáng dấp thanh tao quý phái của Chloé.


La Cigale cũng do Lefebvre vẽ và được triển lãm lần đầu tiên tại Paris vào năm 1872. Bức họa được đem trưng bày tại cuộc Triển Lãm Nghệ Thuật Thế Giới Columbian tại Chicago vào năm 1893, lúc đó bức họa thuộc quyền sở hữu của nhà sưu tầm hội họa Daniel Catlin ở St. Louis, Missouri. Nhưng sau này bức họa được đem bán cho một khách yêu chuộng nghệ thuật tại Melbourne.


Năm 1995, La Cigale một trong hai họa phẩm của Jules Lefebvre được trưng bầy trong cuộc triển lãm nghệ thuật với chủ đề “Khỏa Thân và Phong Cảnh” tại Phòng Triển Lãm Nghệ Thuật Victoria (NGV). Bức họa thứ hai trong cuộc triển lãm này là kiệt tác “Chloé “được trình bầy ở phần trên.


Ngày nay khách yêu chuộng nghệ thuật tại Melbourne được dịp thưởng thức tài nghệ của Jules Lefebvre khi ông mô tả cái tương phản giữa hai thái cực trong nghệ thuật vẽ khỏa thân của ông. Với những đường nét tuyệt đẹp trên thân thể của người nữ, nhưng không vướng mùi dục vọng của trần tục.


Nhan Tử Hà


Monday, November 03, 2008

Tàn Thu


Click to enlarge

Phản ứng bén nhạy từ Sài Gòn.

Chưa đầy một tiếng đồng hồ sau khi bài thơ "Cõi Riêng Tuyệt Vời " post lên, Diễn Đàn đã nhận được email sau đây:

Xin mời Web 14 chúng ta gắp bỏ cọng rác tục tĩu (Thơ Thằng Cuội) ra khỏi Web, nếu không muốn Web thành thùng rác.

Bạn đọc ở Sài Gòn
(Hailua Nguyenthi)
***
Nửa trái ớt gia tăng khẩu vị nơi một người, nhưng không ngờ lại có thể làm phỏng môi một người khác.
Thiện tai! Thiện tai!
D.Đ.
***
Và phản ứng từ Bắc Mỹ:

Kính Quý Anh
Theo tôi nghĩ:
Không nên phổ biến bài thơ này rộng rãi hơn nữa.
Kính
Dương Quân
11.03.08 7.30pm

***
Anh Long men
Toi da duoc doc bai tho nay tren Net roi. Tac gia la ai toi khong nho nhung khong phai la ong Vo Danh. Ngoai ra toi biet chu truong cua Dien Dan NAF la khong bao gio dang bai nac danh. Tac gia ky ten gi cung duoc, ke ca vo danh, nhung phai cho Web master biet ten that
Lien N Nguyen
***
Lan Đàm tôi đã nhận được bài thơ này từ lâu nhưng không dám ngay cả forwarded cho bạn bè đọc chơi chứ dừng nói là post lên DĐ vì sợ lại bị lên án là công xúc tu xỉ như năm bẩy tháng trước đây!
Không nên đưa lên DĐ -như ý của Dương Quân,Long ơi! Phổ biến như thế này là...đũ rồi, phải không các bạn tôi?
Lan Đàm


Tự nhiên lọt vào!

Cõi Riêng Tuyệt Vời



Âm vang

Xin mời quý anh chị click vô hình trên để nghe lại
cái âm vang của thời sinh viên xa xưa Sài gòn, Huế, Cần Thơ, Đà Lạt...
*
Nhớ đeo earphone "để khỏi làm phiền hàng xóm
đang cần yên tĩnh để nghỉ ngơi" ...mai còn đi cày

Phè ra

(Photos: NThương. Lời: A.C.La)

Có ngon, nhào vô!

Go ahead and make my day!

Sunday, November 02, 2008

Cười tí tỉnh


Gợi ý

Trong giờ học lớp mẫu giáo nói về các đồ vật,
cô giáo nêu lên các câu hỏi để cả lớp thảo luận.


- Vào mùa đông các em thường thấy cái gì trên giường?
(gợi ý là cái mền đắp)


Lê Hải giơ tay đáp: thưa cô em thường thấy Mẹ em.
Cô giáo cười hỏi tiếp: Thế trên Mẹ em là cái gì?

Lê Hải con đáp: Dạ là Ba em ạ!
Cô giáo đỏ mặt hỏi tiếp : Thế trên lưng Ba em là cái gì?

Lê Hải con đáp : Là hai tay của mẹ em!
Cô giáo quát lên: Thế còn cái mền đâu?

Thưa ...nó nằm dưới đất ạ!


(Do một thân hữu sưu tầm và gửi tới)

Saturday, November 01, 2008

Tài liệu


Cuộc đảo chánh 1/11/1963


Diễn Đàn: Truy tầm sự thật luôn luôn là một nhu cầu của trí thức và lương tâm. Càng ngày càng có nhiều chứng cớ mới xoay quanh những âm mưu và việc thực hiên cuộc đảo chánh chấm dứt nền Đệ Nhất Cộng Hòa tại Miền Nam, đồng thời chôn vùi luôn niềm hy vọng cuối cùng của dân Việt mong hóa giải làn sóng đỏ đang lan tràn tại Đông Dương lúc đó. Tài liệu, chứ chưa hẳn đã là sự kiện, cần được nhìn một cách vô tư trên đường đi tìm sự thật, nhất định không thể nhìn với con mắt thiên kiến và càng không nên nhìn với lòng thù hận. Diễn đàn xin mời quý anh chị sống lại quá khứ trong giây lát nhân ngày 1/11 này. Bài viết của tác giả Tú Gàn sau đây nói đến một vài điểm mà có thể một số trong chúng ta chưa biết tới.

**

Trong cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện Johson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.2.2003, Tổng Thống Johnson đã gọi các Tướng miền Nam Việt Nam được Hoa Kỳ thuê làm đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm là "một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa" (a goddam bunch of thugs). Họ là ai và đã làm gì mà bị Tổng Thống Johnson miệt thị như vậy?

NHẬN DIỆN BỌN ÁC ÔN CÔN ĐỒ

Tướng Trần Văn Đôn cho biết các sĩ quan sau đây đã nằm trong nhóm đứng ra tổ chức đảo chánh: Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần Văn Đôn, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Nguyễn Khánh, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Thiếu Tướng Trần Văn Minh, Thiếu Tướng Phạm Xuân Chiểu, Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm, Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Đại Tá Đỗ Mậu, Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Tá Nguyễn Văn Quan, Đại Tá Nguyễn Hữu Có, Đại Tá Trần Ngọc Huyến, Đại Tá Nguyễn Khương và Đại Tá Đỗ Cao Trí.

Trong một cuộc phỏng vấn, Tướng Khánh có nói với chúng tôi rằng ông là người được CIA tiếp xúc trước tiên khi muốn làm đảo chánh. Nhưng theo tài liệu, CIA đã cho hai điệp viên khác nhau đến gặp Tướng Khiêm và Tướng Khánh cùng một lúc. Điệp viên Lucien Emile Conein đến gặp Tướng Khiêm, một nhân viên CIA, lúc đó là Tham Mưu Trưởng Liên Quân, và cho biết quyết định của Hoa Kỳ muốn lật đổ Tống Thống Ngô Đình Diệm. Tướng Khiêm đồng ý nhận thực hiện kế hoạch đó, nhưng gợi ý nên đi gặp Tướng Dương Văn Minh và Tướng Trần Văn Đôn. Trong khi đó, một điệp viên khác là Al Spera, cố vấn chính trị Bộ Tổng Tham Mưu, đi Pleiku gặp Tướng Nguyễn Khánh, một cộng tác viên khác của CIA, để thảo luận về việc này. Khi Al Spera hỏi Tướng Khánh về tướng Khiêm, Tướng Khánh đã nắm chặt hai bàn tay của mình lại và nói: "Chúng tôi như thế này".

Sau khi Tướng Khiêm và Lucien Conein phác xong họa kế hoạch hành động, ngày 2.10.1963 khi Tướng Đôn lên phi trường đi Nha Trang thì Lucien Conein đến gặp và hẹn sẽ nói chuyện với nhau ở Nha Trang. Tối hôm đó, tại Nha Trang, Lucien Conein thuyết phục Tướng Đôn làm đảo chánh và Tướng Đôn đã đồng ý. Ngày 5.10.1963, Lucien Conein lại đến bàn chuyện này với Tướng Dương Văn Minh. Tướng Minh cũng đồng ý. Tướng Đôn được giao cho phối trí lực lượng, còn Tướng Minh lãnh đạo Hội Đồng Cách Mạng. Tất cả nằm dưới sự chỉ đạo của Lucien Conein và Tướng Khiêm.

1.- Vai trò của Lucien Emile Conein

Chúng tôi chưa tìm được tài liệu nào nói về điệp viên Al Spera, nhưng chúng tôi có khá nhiều tài liệu về điệp viên Lucien Emile Conein. Ông sinh năm 1919 tại Paris, mồ côi cha sớm, lúc mới 5 tuổi được mẹ gởi sang Hoa Kỳ sống với bà dì tại Kansas City thuộc tiểu bang Kansas, nhưng vẫn giữ quốc tịch Pháp. Ông đã từng làm điệp viên cho OSS (tiền thân của CIA) từ năm 1943 với cấp bậc Trung Úy, hoạt động chống Đức Quốc Xả trong Đệ Nhị Thế Chiến ở Âu Châu, rồi qua Bắc Việt khi chiến tranh chấm dứt. Từ 1954 đến 1956 ông đến Việt Nam hoạt động trong toán đặc nhiệm dưới quyền của Đại Tá Edward Lansdale, người đã giúp Tổng Thống Ngô Đình Diệm chống lại nhóm Bảy Viễn và Tướng Nguyễn Văn Hinh. Sau đó, ông trở về Mỹ và tham gia Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force), nhưng vẫn còn làm việc cho CIA.

Năm 1961 ông đã xin về hưu, nhưng năm 1962 ông được CIA gọi làm việc trở lại và phong cho chức Trung Tá với bí danh là Lulu hay Black Luigi, rồi gởi qua Sài Gòn làm cố vấn cho Bộ Nội Vụ. Nhưng trong thực tế, Lucien Conein có nhiệm vụ móc nối với các tướng Việt Nam mà ông đã có dịp quen biết khi phục vụ dưới quyền của Đại Tá Lansdale, để chuẩn bị tổ chức đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Đại Sứ Henry Cabot Lodge gọi Lucien Conein là "the indispensable man" (con người rất cần thiết). Còn trong cuốn "Vietnam: A History," sử gia Stanley Karnow nói rằng Lucien Conein là "một người lập dị, một người náo nhiệt, một nhân viên tình báo rất nhạy cảm và hoàn toàn chuyên nghiệp, thường không thể kiểm soát được" Sau này, Everette E. Howard Hunt cũng đã dự tính dùng Lucien Conein trong vụ Watergate.

Mỗi lần được phỏng vấn, Lucien Conein thường mở đầu câu chuyện bằng câu: "Bây giờ, đây là sự thật hai mặt, là thứ danh dự của hướng đạo sinh, là sự thật hai mặt" hay "Đừng tin bất cứ điều gì tôi nói; tôi là một tên nói dối chuyên nghiệp"

Khi cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 xẩy ra, Lucien Conein đến Bộ Tổng Tham Mưu chỉ đạo trực tiếp. Ông ngồi trên ghế của Tướng Lê Văn Tỵ, đặt hai túi bạc dưới ghế, hai chân gác lên bàn, bên cạnh có khẩu 375 Magnum, chỉ huy các tướng Việt Nam thực hiện. Trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng, Tướng Trần Văn Đôn cho biết khi hay tin ông Diệm và ông Nhu đã ra khỏi Dinh Gia Long, Lucien Conein đã hỏi: "Hai ông ấy đi đâu? Phải bắt lại cho kỳ được, vì rất quan trọng". Lucien Conein đã nói với các tướng đảo chánh bằng tiến Pháp: "On ne fait pas d'omelette sans casser les oeufs." (Người ta không thể làm món trứng rán mà không đập bể những cái trứng.) (trang 228)

Khi bước xuống thuyền đài ngày 3.6.1998 tại Virginia, Lucien Conei đã ôm theo khá nhiều bí mật của cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963.

2.- Tướng Trần Thiện Khiêm

Trong cuốn "Việt Nam nhân chứng", Tướng Trần Văn Đôn nói rằng trong kế hoạch đảo chánh, ông rất dè dặt với Tướng Khiêm vì tướng này rất được ông Diệm và ông Nhu tin cậy. Vợ ông, bà Đinh Thị Yến, lại có chân trong ban chấp hành Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới Trung Ương của bà Nhu và là dân biểu Quốc Hội, thường đi sát với bà Nhu. Ông nhờ Tướng Minh thăm dò. Qua một người Mỹ "cam kết và tìm hiểu", Tướng Minh cho biết Tướng Khiêm đồng ý tham gia đảo chánh.

Khi viết như vậy, Tướng Đôn không biết gì nhiều về sự sắp xếp của CIA trong cuộc đảo chánh này. Ngay cả khi lệnh giết ông Diệm và ông Nhu được CIA truyền xuống, Tướng Đôn cũng không hề được cho biết. Một vài câu chuyện sau đây do một nhân chứng có mặt tại Bộ Tổng Tham Mưu trong suốt thời gian cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 xẩy ra, cũng đủ cho chúng ta thấy vài trò của Tướng Khiêm quan trọng như thế nào:

- Khoảng 1 giờ 25 trưa ngày 1.11.1963, Tướng Khiêm bước ra bước vào nơi ông làm việc. Đúng 1 giờ 30, tin đảo chánh được phổ biến, các tướng lãnh liên miên ra vào văn phòng Tướng Khiêm.

- Sáng 2.11.1963, có người đem bộ complet màu xám sậm đến đứng ở lầu ba chờ. Tuy phái của Tướng Khiêm ra hỏi thì được biết người này được gọi đem áo tới cho Tổng Thống Diệm. Khoảng 9 giờ, một đại tá bước vào phòng Tướng Khiêm. Hai phút sau, đại tá này bước ra và bảo người kia đem bộ đồ complet về, vì Tổng Thống đã chết! Trên lầu, nhiều tướng lãnh ra vào phòng Tướng Khiêm rất nhộn dịp. Buổi tối, sau khi xác ông Diệm và ông Nhu được liệm xong, một báo cáo đã được trình lên cho Tướng Khiêm biết.

- Khuya 3.11.1963, khi mọi việc đã xong xuôi, Tướng Khiêm cho gọi Đại Tá Trần Văn Trung, Tham Mưu Phó Nhân Viên, và Đại Tá Đặng Văn Quang, Tham Mưu Phó Tiếp Vận, vào văn phòng ông và ra lệnh: "Hai 'toi' trực ở đây đêm nay, 'moi' về nghỉ.

- Một tuần lễ sau, Tướng Khiêm bước vào ban văn thư và hỏi Đại Úy Phạm Bá Hoa, chánh văn phòng của ông: "Có cho anh em mỗi người lên một cấp chưa? Nếu có gì xảy ra, 'moi' bay đầu thì các anh em cũng không được yên đâu."

Đọc thêm cuốn "Đôi dòng ghi nhớ" của Đại Tá Nguyễn Bá Hoa, đọc giả sẽ thấy rõ hơn quyền hành của Tướng Khiêm trong cuộc đảo chánh này.

LỆNH HÀNH QUYẾT

Từ trước đến nay, chúng ta thường tranh luận về ai đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Nay cuốn băng của Tổng Thống Johnson đã chính thức xác nhận rằng chính quyền Kennedy (Kennedy administration) đã ra lệnh giết, nên vấn đề này không cần phải tranh luận nữa.

Lệnh hành quyết do Washington truyền cho Đại Sứ Lodge ở Sài Gòn. Ông này truyền cho Trần Thiện Khiêm và Dương Văn Minh qua Lucien Conein. Tướng Minh giao cho cận vệ của mình là Đại Úy Nguyễn Văn Nhung thi hành dưới sự chỉ đạo của Tướng Mai Hữu Xuân. Các sĩ quan khác, kể cả Tướng Đôn, đều không biết gì hết.

Như đã nói ở trước, ngoài Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu, Đại Sứ Henry Cabot Lodge đã quyết định giết thêm Ngô Đình Cẩn và Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt. Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh cho Nguyễn Văn Nhung đưa Đại Tá Lê Quang Tung ra nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế phía sau Bộ Tổng Tham Mưu đâm chết và vùi thây ở đó. Muốn giết ông Ngô Đình Cẩn, CIA phải lừa ông vào Tòa Lãnh Sự Mỹ ở Huế, nói rằng sẽ cho đi ngoại quốc, sau đó dùng công điện báo cáo láo về Washington nói rằng trong nhà ông Cẩn có hầm chôn người và súng, dân chúng đang biểu tình, rồi giao ông Cẩn cho Tướng Khánh giết. Trơng cuốn "Việt Nam Nhân Chứng", Tướng Đôn xác nhận trong nhà ông Cẩn không hề có hầm chôn người hay súng.

Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng sở dĩ Tổng Thống Johson đã gọi nhóm tướng lãnh được thuê làm đảo chánh là "một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa" vì hai lý do: Lý do thứ nhất là cách thức giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu. Chưa một nhà lãnh đạo nào trên thế giới đã bị bọn tay chân bộ hạ thân tín, được hưởng nhiều ơn mưa móc, giết một cách thê thảm như thế trong một cuộc đảo chánh. Lý do thứ hai là sự tham nhũng và bất tài của nhóm này.

HÀNH ĐỘNG ÁC ÔN CÔN ĐỒ

Khoảng 10 giờ ngày 2.11.1963, khi chiếc M113 chở xác ông Diệm và ông Nhu về đến Bộ Tổng Tham Mưu, đậu trên sân cỏ phía tay phải. Mở cửa xe phía sau ra, người ta thấy ông Diệm mặc bộ complet màu xám sậm, ông Nhu mặc bộ complet màu hơi nâu tím. Cả hai bị trói thúc ké tay sau lưng, nằm nghiêng trên sàn xe, máu me dầm dề. Một quân cảnh đứng gác tại đó cho biết, Tướng Dương Văn Minh đã xuống và tự tay vạch quần ông Diệm ra xem có "chim" không!

Với các dấu vết trên hai xác chết như vậy, nhiều người đã đặt câu hỏi: Hai ông đã bị giết như thế nào? Cách tường thuật của mỗi người mỗi khác.

Trong cuốn "Assassin in our Time" (Kẻ sát nhân trong thời đại chúng ta) xuất bản năm 1976, ở trang 142, Sandy Lesberg đã mô tả như sau: Ông Diệm và ông Nhu ngồi với hai tay trói sau lưng. Trong khi ông Diệm giữ im lặng, bất thình lình viên thiếu tá dùng dao găm (bayonet) đâm ông Nhu 15 hay 20 lần. Sau đó, hắn ta rút súng lục bắn vào sau đầu ông Diệm. Thấy ông Nhu còn quằn quại trên sàn, viên thiếu tá ban cho ông ta một cú ân huệ bằng cách cũng bắn vào đầu ông ta.

Sandy Lesberg không cho biết ông đã lấy tin này từ ai. Thật ra, lúc đó Nguyễn Văn Nhung còn là Đại Úy, sau này mới được thăng Thiếu Tá.

Với cuốn "Les Guerres du Vietnam" (Chiến tranh Việt Nam" xuất bản năm 1985, Tướng Trần Văn Đôn không hề mô tả gì đến cách giết ông Diệm và ông Nhu, mà chỉ mô tả về sự tàn ác của sát thủ Nguyễn Văn Nhung mà thôi.

Bà Ellen J. Hammer, tác giả của cuốn "A Death in November" (Cái chết vào tháng mười một), nói rằng khi chiếc xe chở ông Diệm và ông Nhu dừng lại ở cổng xe lửa đường Hồng Thập Tự, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa từ trên miệng cửa xe lia một tràng tiểu liên vào hai ông Diệm và Nhu. Đại Úy Nhung rút súng Colt ra bồi thêm mấy phát vào đầu. Nhưng thấy chưa thỏa lòng, Nhung rút dao găm đâm tới tấp vào ngực hai anh em ông Diệm.

Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa phủ nhận lời tường thuật này, ông nói rằng ông không ngồi trên xe chở ông Diệm và ông Nhu lúc đó. Nếu chính ông đã giết ông Diệm và ông Nhu, người ta cũng đã giết ông như giết Nguyễn Văn Nhung rồi.

Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa là một đảng viên đảng Đại Việt, thuộc vào loại căm thù nhà Ngô, sau này đã được Tướng Nguyễn Khánh cho ngồi ghế phụ thẩm quân nhân của Tòa Án Các Mạng, xét xứ và tuyên án tử hình ông Ngô Đình Cẩn theo lệnh của Henry Cabot Lodge, mặc dù không có bằng chứng xác thực. Do đó, nhiều người vẫn tin vào lời tường thuật của bà Sandy Lesberg.

Có lẽ Tướng Nguyễn Chánh Thi là người biết rõ Đại Úy Nguyễn Văn Nhung đã giết ông Diệm và ông Nhu như thế nào, vì sau cuộc "chỉnh lý" ngày 30.1.1964, trước khi ra lệnh giết Đại Úy Nhung để phi tang một nhân chứng quan trọng (có lẽ theo lệnh của CIA), ông đã đích thân lấy lời khai của Nhung và còn bắt Nhung ngồi viết lời khai về vụ này. Ông có cho tôi nhìn qua tờ khai này năm 1968 khi đang ở Washington D.C. Nhưng rất tiếc, khi xuất bản cuốn "Việt Nam: Một trời tâm sự", ông đã không cho in nguyên văn tờ khai này, mà tự ý sửa đổi và cắt bớt đi. Tướng Mai Hữu Xuân được đổi thành Tướng Thu, mặc dầu trong Quân Lực VNCH lúc đó không có tướng nào tên là Tướng Thu cả. Theo tờ khai mà Tương Thi công bố trong cuốn sách nói trên, Đại Úy Nhung đã khai như sau:

Khi xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu chạy được chừng 500 thước, Thiếu Tướng Thu (tức Mai Hữu Xuân) chạy xe ngược chiều trở lại và đưa lên một ngón tay trỏ. Đang còn ú ớ chưa biết giết ai, ông Diệm hay ông Nhu, họ định chạy qua để hỏi lại cho rõ thì dân chúng ùa ra xem rất đông, không chạy qua được. Bổng Thiếu Tướng Thu đưa hai ngón tay, họ hiểu rằng ông ra lệnh bắn cả hai người. Thiếu tá Nhung liền rút súng Colt 12 bắn mỗi người 5 phát, và sau đó bắn ông Nhu thêm ba phát vào ngực nữa.

Tướng Lê Minh Đảo, lúc đó là Đại Úy tùy viên của Tướng Lê Văn Kim, đã cho biết như sau: Sau khi ông Diệm và ông Nhu bị hạ sát ít lâu, Nguyễn Văn Nhung có kể lại chuyện này cho ông nghe. Nhung nói rằng khi được lệnh giết cả hai ông, Nhung đã bắn ông Nhu trước. Ông Diệm thấy thế đã nhắm mắt lại. Nhung liền bắn ông Diệm 5 phát. Sau đó quay qua bắn ông Nhu thêm 3 phát nữa. Điều này phù hợp với lời khai mà Tướng Nguyễn Chánh Thi đã công bố.

Tuy nhiên, sự thật không phải chỉ có thế. Xác ông Diệm và ông Nhu đã được đưa vào bệnh xá của Bộ Tổng Tham Mưu để khám nghiệm. Bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn (hiện nay ở New York), giám đốc bệnh xá này lúc đó, đã khám nghiệm và chứng nhận rằng cả ông Diệm lẫn ông Nhu đã bị bắn từ sau ót ra trước. Xác ông Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bắn. Xác ông Nhu bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu. Vậy ông Diệm và ông Nhu đã bị trói, đánh đập và đâm lúc nào?

Một nhân chứng rất quan trọng hiện đang ở Melbourne, Úc Châu, cho biết ông là người đi trên chiết M113 chở ông Diệm và ông Nhu từ nhà thờ cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu, nên đã chứng kiến những sự việc xẩy ra. Câu chuyện ông kể lại có vẽ hợp lý hơn cả.

Theo nhân chứng này, vào trưa 1.11.1963, chi đoàn thiết giáp của ông được lệnh vào Sài Gòn để tăng cường bảo vệ thủ đô. Khi đến Sài Gòn, chi đội này được chia làm hai toán, một toán hợp lực với quân bạn bao vây Dinh Gia Long, một toán làm vòng đai an ninh cho Bộ Tổng Tham Mưu. Nhân chứng ở trong toán đóng tại Bộ Tổng Tham Mưu.

Sáng 2.11.1963, khoảng 6 giờ 15 phút, toán ông được lệnh di chuyển ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu. Khi vừa ra khỏi cổng chính thì thấy có 3 chiếc xe Jeep đang chờ. Chiếc thứ nhất có Tướng Mai Hữu Xuân và 3 cận vệ. Chiếc thứ hai chở Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Úy Nguyễn Văn Nhung và Đại Úy Dương Hiếu Nghĩa. Chiếc thứ ba chở 4 người, trong đó có Đại Úy Phan Hòa Hiệp. Sau đó là hai chiếc M113. Nhân chứng ngồi ở chiếc thứ nhì. Cuối cùng là 2 chiếc GMC chở đầy lính có vũ trang đầy đủ.

Khi đến Chợ Lớn, gần một nhà thờ, xe chạy chậm lại, các binh sĩ trên hai chiếc GMC được lệnh nhảy xuống, một số bố trí xung quanh nhà thờ, số còn lại bố trí ở vòng ngoài. Xe Tướng Xuân chạy một vòng rồi đậu lại bên kia đường.

Sau cái phất tay của Đại Tá Dương Ngọc Lắm, ba đại úy Nhung, Nghĩa và Hiệp nhảy xuống xe. Đại Tá Lắm ngoắc chiếc M113 có nhân chứng ngồi trên đó đi theo. Nhân chứng cũng nhảy xuống xe. Khi cách Đại Tá Lắm khoảng 2 thước, nhân chứng thấy có 4 người từ trong nhà thờ đi ra. Người đi đầu là Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Người đi tiếp theo là ông Ngô Đình Nhu. Sau cùng là hai tùy viên (Đại Úy Đỗ Thọ và ông Nguyễn Đắc Khá). Đại Tá Lắm đến chào ông Diệm:

- Thừa lệnh Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, chúng tôi đến đón cụ và ông cố vấn.

Ông Diệm:

- Ông Đôn và ông Minh đâu hè?

Đại Tá Lắm:

- Thưa cụ, hai ông còn đang bận việc ở Tổng Tham Mưu.

- Thôi được. Thế tôi và ông cố vấn đi cùng xe kia với ông.

Đại Tá Lắm quay người lại chỉ vào chiếc M113 và nói:

- Thưa cụ, xin cụ lên xe này cho.

Ông Nhu khẻ nhíu mày lên tiếng:

- Không thể đón Tổng Thống bằng một chiếc xe như vậy. Để tôi liên lạc với ông Đôn, ông Đính coi xem.

Đại Tá Lắm khẽ nhún vai:

- Tôi không biết. Đây là lệnh của Trung Tướng Chủ Tịch.

Đại Úy Nhung liền oang oang:

- Xin mời hai ông lên xe ngay cho đi.

Mặt ông Nhu đỏ bừng, giọng rất quyết liệt:

- Không được. Để tôi hỏi lại ông Minh, ông Đôn. Tôi đi xe nào cũng được, nhưng còn Tổng Thống...

Đại Úy Nhung:

- Ở đây không còn Tổng Thống nào cả.

Ngay lập tức, nhung bảo hai quân nhân chạy đến đẩy hai ông lên xe và hạ cửa xe xuống...

Xe đi hết đường Nguyễn Trải, vào đường Võ Tánh đến trước Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thì ngừng lại. Tổng Nha này đã bị chiếm từ ngày hôm trước nên không còn một cảnh sát nào lui tới. Chung quanh, các binh sĩ thuộc Sư Đoàn 5 của Đại Tá Ngưyễn Văn Thiệu canh gác rất cẩn mật.

Một Đại Tá từ trên xe Jeep nhảy xuống, bảo các binh sĩ trên xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu xuống xe hết. Bảy người trên xe nhảy xuống, nhưng tài xế và anh hạ sĩ xạ thủ được ra lệnh ở lại. Xe được lệnh đi vào Tổng Nha.

Khoảng 20 phút sau, chiếc M113 lại từ Tổng Nha chạy ra. Các binh sĩ lúc nảy được lệnh leo lên xe lại. Xe chạy ngược đường Võ Tánh trở lại đường Cộng Hòa. Nhân chứng hỏi hạ sĩ xạ thủ:

- Ông Diệm và ông Nhu đâu?

- Ở dưới.

- Sao rồi?

- Ông Nhu bị tra tấn khủng khiếp rồi bị xiết cổ chết bằng dây điện. Người ta hỏi ông ta nhiều lần: Vàng, bạc, tiền của cất đâu? Ai giữ? Cơ sở kinh tài gồm những cơ sở nào? Ông Nhu trả lời không biết.

- Còn ông Diệm?

- Ông Diệm bị đè cổ ra trói thúc ké rồi ném vào hầm xe.

- Chết hay sống?

- Không biết.

Xe qua khỏi trường Petrus Ký rồi quẹo phải vào đường Hồng Thập Tự thì gặp lại 2 xe Jeep và hai xe chở binh sĩ lúc xuất hành buổi sáng. Xe Đại Tá Dương Ngọc Lắm đi đầu, xe thứ hai có Đại Úy Nhung. Khi đến đường Cao Thắng, bên hông bệnh viện Từ Dũ, xe ngừng lại vì bên kia đang có xe của Tướng Xuân chạy ngược trở lại. Dân chúng ra xem rất đông. Tướng Xuân nhìn Đại Úy Nhung và đưa hai ngón tay trái lên hai lần. Sau đó, ông đưa ngón tay trỏ lên khỏi đầu và co vào duỗi ra đến 4 lần (gióng như bóp cò). Đại Úy Nhung gật đầu rồi đưa tay lên chào.

Khi xe đến gần đường rầy xe lửa thì dừng lại trước cổng xe đã được đóng lại vì đang có đoàn xe lửa đi qua. Đại Úy Nhung từ chiếc xe Jeep nhảy qua chiến M113 có chở ông Diệm và ông Nhu và la lớn: "Xuống! Xuống!" Các binh sĩ trên xe M113 nhảy xuống hết. Nhân chứng vừa nhảy xuống đất thì nghe nhiều tiếng súng nổ...

Những lời tiết lộ của nhân chứng này cho chúng ta thêm những yếu tố mới, nhất là đoạn hai ông bị đưa vào Tổng Nha Cảnh Sát để tra tấn và khảo của. Trò khảo của này là một "sở trường" của Tướng Mai Hữu Xuân. Sự tiết lộ này đã giúp giải thích tại sao hai ông bị trót tay ra phía sau lưng, trên mặt ông Diệm có nhiều vết bầm và trên người ông Nhu có nhiều lát dao đâm. Nguyễn Văn Nhung chỉ leo lên xe M113 trong một thời gian ngắn, không thể gây ra tất cả những thứ đó được.

Sau khi thi hành xong lệnh của chủ và lãnh tiền công, "bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa" cấu xé nhau về chức quyền và tiền bạc, đưa tới mất mất chủ quyền quốc gia, rồi đến mất nước.

Bây giờ ở nơi các địa tầng "naraca", Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, Đỗ Mậu, Nguyễn Văn Thiệu, Dương Ngọc Lắm, Nguyễn Văn Quan, Nguyễn Văn Nhung... đang cùng với hai "ông thầy" Henry Cabot Lodge, Lucien Emile Conein nghiền ngẩm về lời nguyền rủa của Tổng Thống Johnson. Nghe nói trong những năm cuối cùng, Mai Hữu Xuân đã phát điên, thỉnh thoảng quỳ quay vào tường, chấp tay van lạy: "Xin cụ tha cho con!".

Nơi chốn luân hồi, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang... không dám bước ra nhìn ánh sáng, Tôn Thất Đính thất thểu như một bóng ma...

Tú Gàn
**

Góp ý thêm vào bài Cuộc đảo chánh 1-11-1963

Bài này do anh Trần Ngọc Cường DS 11 chuyển cho các anh em hành chánh Dallas coi, không thấy đề tên tác giả, theo tôi biết bài này của Tú Gàn có đăng trên báo Sài Gòn nhỏ một hoặc hai năm trước.
Như trong phim Rashomon ( tôi đã viết một bài về phim này) đã diễn tả sự nghi ngờ về sự thật của con người, cũng một cái chết của một người võ sĩ đạo mà có tới bốn cái nhìn khác nhau, bốn lời khai khác nhau.
Bài nói trên cũng chỉ là một trong những cái nhìn về một sự kiện, một sự thật lịch sử mà thôi, chúng ta nhìn lại một biến cố lịch sử với một tinh thần khách quan vô tư , không thiên kiến là điều nên làm và nhất quyết không để cho bọn Cộng Sản lợi dụng đâm bị thóc chọc bị gạo, chia rẽ tôn giáo.

Trọng Đạt